LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại ngân hàng đầu tư và phát triển ninh bình": http://123doc.vn/document/1053632-mot-so-giai-phap-mo-rong-hoat-dong-tin-dung-doi-voi-khu-vuc-kinh-te-ngoai-quoc-doanh-tai-ngan-hang-dau-tu-va-phat-trien-ninh-binh.htm
sản xuất kinh doanh, chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng sản phẩm quốc nội
(GDP), tạo khả năng huy động phát triển từ nhân dân, mở ra khả năng to lớn
trong việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho ngời lao động. Phát triển
KT-NQD góp phần làm sống lại các ngành nghề truyền thống ở nông thôn, tạo
ra môi trờng cạnh tranh sôi động trong nền kinh tế, tạo điều kiện nâng cao trình
độ lực lợng sản xuất, tăng chất lợng sản phẩm, tao ra nhiều hàng hoá cho thị tr-
ờng, thoả mãn tốt hơn nhu cầu của nhân dân.
Vì vậy nghiên cứu và tìm hiểu về KT-NQD sẽ giúp chúng ta nhân thức
sâu sắc hơn về TPKT này, phát hiện những mặt mạnh, những hạn chế nhợc
điểm. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp, chính sách cho phép phát huy tốt hơn
nữa những mặt mạnh, hạn chế khắc phục những hạn chế để KT-NQD thực sự
trở thành một khu vực phát triển lớn mạnh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
!"#"
1.1.2.1. Vai trò kinh tế ngoài quốc doanh
Kinh tế ngoài quốc doanh là một lĩnh vực kinh tế rộng lớn và quan trọng
trong cơ thể thống nhất của nền kinh tế nớc ta. Hiện nay, khu vực này đã có mặt
trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân tạo nên lực lợng
sản xuất to lớn, đóng góp quan trọng trong việc sản xuất ra của cải vật chất cho
xã hội. Nhờ đó hàng hoá sản xuất ngày càng nhiều, chủng loại đa dạng, chất l-
ợng không ngừng đợc nâng cao để thoả mãn nhu cầu xã hội, tạo ra khả năng lựa
chọn nhiều hơn cho ngời tiêu dùng. Khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang kinh tế
thị trờng, KT-NQD là khu vực sản xuất kinh doanh năng động, nhạy bén có khả
năng thích nghi và đáp ứng kịp thời mọi biến động của thị trờng, nó cho phép
huy động tối đa nguồn vốn trong dân c để phát triển đất nớc. Với tính tự chủ và
khả năng thích nghi cao KT-NQD đóng một vai trò không thể thiếu trong nền
kinh tế, thể hiện thông qua các mặt sau.
5
Luận văn tốt nghiệp Đinh Xuân Sơn
Thứ nhất: Giải phóng nguồn lực đa vào sản xuất kinh doanh, tạo sự
phát triển cân đối kinh tế.
Các doanh nghiệp NQD thờng đợc thành lập với lợng vốn đầu t ban đầu
không lớn và chủ yếu là của dân. Bản thân khu vực KT-NQD bao gồm nhiều
loại hình tổ chức kinh doanh khác nhau phù hợp với nhu cầu đa dạng của nhà
đầu t. Đặc tính này cho phép KT-NQD tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của
nền kinh tế, từ nông nghiệp đến công nghiệp và dịch vụ. Sự tồn tại trên một
phạm vi lớn trong nền kinh tế cho phép KT-NQD thu hút và sử dụng hiệu quả
nguồn lực trong dân c vào công cuộc phát triển kinh tế đất nớc. Đặc biệt trong
tiến trình cải cách và sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nớc bằng các biện
pháp giao bán, khoán, cho thuê, chuyển đổi hình thức sở hữu làm phát sinh
một số vấn đề nh thất nghiệp, sự bỏ ngỏ của một số ngành, khu vực kinh tế
không có tầm quan trọng sống còn hoăc do nhà nớc không đủ sức nắm giữ.
Điều này lại tạo cơ hội cho KT-NQD mở rộng phạm vi hoạt động, tham gia
ngày càng nhiều hơn vào các lĩnh vực kinh tế quan trọng, càng khẳng định vị trí
của mình trong nền kinh tế.
Thất nghiệp là vấn nạn mà mọi quốc gia phải đối mặt. ở nớc ta, giải
quyết công ăn việc làm cho ngời lao động đang là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa
cơ bản mà Đảng và Nhà nớc đang hết sức quan tâm giải quyết. Dân số trẻ, số
ngời trong độ tuổi lao động cao, chiếm hơn 57% dân số, tỷ lệ gia tăng dân số
cao. Số ngời hàng năm đến độ tuổi lao động nh học sinh, sinh viên ra trờng, bộ
đội hết nghĩa vụ ngày càng tăng, là áp lực gánh nặng đối với hoạt động quản lý
xã hội. Chính các doanh nghiệp NQD với đặc tính của mình sẽ điều tiết phân
giải lực lợng lao động trong các khu vực còn nhiều khoảng trống, góp phần
điều hoà nhu cầu lao động.
Mặt khác, sự hoạt động đa dạng trên nhiều ngành nghề, lĩnh vực của nền
kinh tế tạo nên sự đan xen cùng tồn tại thống nhất giữa KT-QD và KT-NQD,
góp phần làm cân đối cơ cấu kinh tế. Phát triển kt-NQD là một chủ trơng sáng
6
Luận văn tốt nghiệp Đinh Xuân Sơn
suốt và đúng đắn của Đảng, phù hợp với đòi hỏi thực tế khách quan của thời
đại, khẳng định tính tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần, phù hợp với trình
độ thực tế của lực lợng sản xuất ở nớc ta - vốn kém phát triển lại không đồng
đều giữa các vùng miền, tỉnh thành tạo nên nhiều trình độ khác nhau. Chỉ có
phát triển kt-NQD mới cho phép sử dụng và phát huy mọi tiềm năng của đất
nớc vào công cuộc phát triển kinh tế.
Thứ hai: Tạo ra quỹ hàng hoá tiêu dùng và xuất khẩu.
Phơng hớng sản xuất kinh doanh tại mỗi thời điểm, giai đoạn của nền
kinh tế có những sự khác nhau. Trong thời kỳ 1986-1989 nớc ta vẫn còn thiếu
đói, hàng tiêu dùng khan hiếm trầm trọng. Mục tiêu của nền sản xuất lúc này là
sản xuất đủ ăn, đủ tiêu dùng, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và tối thiểu của ng-
ời dân. Vợt qua thời kỳ đó, nền kinh tế lại đặt ra những mục tiêu mới, phù hợp
với tình hình thực tiễn nh: Tăng năng lực sản xuất của xã hội, thay thế từng
phần hàng hoá nhập khẩu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc, tiến tới thay thế
nhập khẩu bằng chính sách xuât khẩu.
Để thực hiện đợc sách lợc này, trong quá khứ và hiện tại, KT-NQD đóng
một vai trò rất quan trọng, nó chứa đựng trong mình những đặc điểm cho phép
thực hiện tốt đợc vai trò đó. Có thể kể ra nh quy mô gọn nhẹ, nhậy bén, nhanh
chóng chuyển đổi đối tợng sản xuất để hớng tới những mặt hàng mà thị trờng
đang có nhu cầu, những lĩnh vực đang đợc nhà nớc u tiên u đãi, bảo hộ, có khả
năng đem lại lợi nhuận cao. Sự phát triển KT-NQD đã khơi gợi tiềm năng to lớn
trong dân để phát triển sản xuất, thu hút vốn trong dân, tiếp thu chuyển giao
công nghệ của nớc ngoài để tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng
trong nớc và xuất khẩu. Đặc biệt là sự sống lại của các ngành nghề thủ công,
mỹ nghệ truyền thống ở nông thôn đã làm ra các sản phẩm có giá trị xuất khẩu,
góp phần đổi mới kinh tế nông thôn, tăng thu ngoại tệ cho đất nớc.
$% &%'()"
7
Luận văn tốt nghiệp Đinh Xuân Sơn
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001
Quy mô (%) Quy mô (%) Quy mô (%)
Tổng Số 335.441 100 375.800 100 434.365 100
KTNN 154.927 46,19 170.141 44,9 186.958 43,04
KT-NQD 180.514 53,81 205.659 55,1 247.407 56,96
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2002)
Bảng trên cho thấy, giá trị sản xuất khu vực NQD liên tục gia tăng qua
các năm cả về quy mô và tỷ trọng. Sự gia tăng này không phải do KTNN ngày
càng giảm đi mà do giá trị sản xuất trong khu vực NQD tăng với tốc độ lớn hơn
tốc độ tăng trong KTNN. Kinh tế NQD đã đóng góp hơn 50% tổng giá trị sản
xuất, ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế. Tỷ
trọng này cần phải tiếp tục nâng cao. So với Trung Quốc, một nớc có hoàn cảnh
lịch sử và kinh tế tơng đồng với nớc ta, thì tỷ lệ giữa hai khu vực KTNN và KT-
NQD này là 3:7 mà không sợ chệch hớng Xã Hội Chủ Nghĩa. Vì vậy trong thời
gian tới chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh phát triển khu vực này bằng các
chính sách cụ thể hơn, thiết thực hơn theo định hớng Xã Hội Chủ Nghĩa.
Thứ ba: Tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nớc, mang lại thu nhập
cho ngời lao động, góp phần cải thiện đời sống dân c
Kinh tế ngoài quốc doanh tồn tại và phát triển đóng góp rất lớn vào ngân
sách nhà nớc. Sự ra đời ngày càng nhiều và hoạt động có hiểu quả của các loại
hình doanh nghiệp thuộc khu vực này sẽ tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà
nớc thông qua hoạt động đóng thuế. Trên thực tế, KT-NQD đóng góp khoảng
40 - 47% ngân sách nhà nớc hàng năm. Sản xuất kinh doanh phát triển là tiền
đề tạo nguồn thu ngân sách nhà nớc. Do vậy để tăng nguồn thu ngân sách lành
mạnh, biện pháp quan trọng nhất là không ngừng phát triển sản xuất, mở rộng
kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.
8
Luận văn tốt nghiệp Đinh Xuân Sơn
Bản thân KT-NQD phát triển không chỉ đem lại nguồn thu cho ngân sách
nhà nớc mà còn đem lại nhiều lợi ích khác nh tạo thêm công ăn việc làm mang
lại thu nhập cho ngời lao động, cải thiện đời sống của dân c.
Thứ t: Đóng vai trò quan trọng trong quá trình cnh-hđh và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta.
Trong nền kinh tế trờng lợi ích và lợi nhuận là nhân tố quyết định những
vấn đề từ tổng thể đến cục bộ của một doanh nghiệp. Lớn thì ảnh hởng đến
ngành nghề kinh doanh, phơng hớng sản xuất, nhỏ thì ảnh hởng đến chiến lợc
sản phẩm Các doanh nghiệp thuộc khu vực NQD cũng hoạt động nh bao
doanh nghiệp khác, tức là lấy mục tiêu lợi nhuận và không ngừng tăng cờng lợi
nhuận làm tôn chỉ và mục đích. Do đó, bằng việc ban hành các văn bản chế độ,
chính sách phát triển kinh tế nhà nớc sẽ dẫn dắt và định hớng sự phát triển KT-
NQD. Sự phát triển của KT-NQD sẽ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng
bớc tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý. Hiện nay trong cơ cấu kinh tế nớc ta nông
nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng khá cao, tới hai con số (chiếm 23,3%) trong khi
ở các nớc phát triển tỷ trọng này dới 10% phản ánh thực tế nớc ta là một nớc
nông ngiệp. Vì vậy phơng hớng phát triển trong tơng lai là tăng tỷ trọng các
ngành công nghiệp và dịch vụ, đa chúng chiếm chủ yếu trong nền kinh tế, đặc
biệt là các ngành sản xuất, chế tạo máy, xây dựng làm tiền đề cho một nền sản
xuất lớn ra đời. Tuy nhiên không thể một sớm một chiều đã có thể tạo ra một cơ
cấu kinh tế hợp lý ngay đợc mà phải có thời gian. Giai đoạn đầu nên tập trung
vào những ngành gia công, chế biến công nghiệp những sản phẩm nông nghiệp
nhằm làm tăng chất lợng sản phẩm, hàm lợng giá trị, tăng tính thơng mại của
sản phẩm.
Đồng thời quá trình phát triển các doanh nghiệp NQD cũng là quá trình
cải tiến máy móc thiết bị kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất và chất lợng sản
phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trờng, đến mức độ nhất định sẽ dẫn đến đổi mới
9
Luận văn tốt nghiệp Đinh Xuân Sơn
công nghệ, làm cho quá trình CNH-HĐH không chỉ diễn ra trên chiều rộng mà
cả chiều sâu.
Thứ năm: Kinh tế ngoài quốc doanh góp phần tạo môi trờng cạnh
tranh thúc đẩy kinh tế phát triển.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các TPKT không tồn tại
biệt lập, phát triển trong những khu vực riêng mà chúng đan xen tồn tại và
thống nhất. KT-NQD hoạt động trên nhiều lĩnh vực, tồn tại trên một phạm vi
rộng lớn cả về mặt địa lý cũng nh ngành nghề kinh tế. Tất cả những điều này
làm cho KT-NQD và KT-QD sản xuất kinh doanh những sản phẩm có những
đặc tính tơng tự nhau. Kết quả chúng phải cạnh tranh với nhau trong quá trình
sản xuất cũng nh tiêu thụ sản phẩm.
Cạnh tranh là điểm khởi đầu của sự phát triển, nó phá bỏ thế độc quyền
đang tác động nh những nhân tố làm trì trệ và cản trở nền kinh tế phát triển. Đối
với KT-QD, KT-NQD tạo ra sức ép, buộc phải tham gia cạnh tranh, đồng thời
có tác dụng hỗ trợ phát triển. Môi trờng cạnh tranh sẽ buộc KT-QD quan tâm
nhiều hơn đến việc xây dựng chiến lợc, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng
cao chất lợng sản phẩm, đổi mới công nghệ phù hợp với đòi hỏi của thị trờng.
Trên cơ sở đó tạo ra nhiều hàng hoá, dịch vụ ngày càng đa dạng, chất lợng sản
phẩm không ngừng đợc nâng lên trong khi giá thành ngày một hạ, làm tiền đề
cho những sự la chọn sản phẩm hàng hoá mà ngời tiêu dùng a thích. Xoá bỏ cục
diện ngời tìm hàng, ngời sản xuất bán cái mình có thay vào đó là hàng tìm
ngừơi và ngời sản xuất chỉ sản xuất cái mà thị trờng cần.
Thứ sáu: Về phía ngân hàng kinh tế ngoài quốc doanh góp phần tạo ra
thị trờng vốn, tín dụng, làm nên sự phát triển ổn định của ngân hàng.
Sự xuất hiện và phát triển của KT-NQD đã tạo ra một phân đoạn thị trờng
thờng xuyên đối với ngân hàng. Với tốc độ phát triển nhanh chóng cả về quy
mô và chất lợng các doanh nghiệp NQD đã tạo ra một nhu cầu to về vốn và nhu
cầu tín dụng cũng nh các dịch vụ tiện ích khác mà ngân hàng cung cấp. Điều
10
Luận văn tốt nghiệp Đinh Xuân Sơn
này sẽ tạo điều kiện cho ngành ngân hàng ngày càng phát triển. Nh chúng ta
biết, hoạt động ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào nền kinh tế quốc dân mà trong
đó KT-NQD chiếm một tỷ lệ đáng kể, do vậy trong tơng lai khu vực KT-NQD
sẽ là thị trờng đầy triển vọng của ngành ngân hàng.
1.1.2.2. Định hớng phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và nhu cầu vốn
Về mặt đờng lối, Đảng và Nhà nớc đã khẳng định quan điểm về phát
triển KT-NQD là: Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều
thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là những bộ
phận quan trọng của nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu
dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế cá thể tiểu chủ đợc nhà nớc tạo
điều kiện và giúp đỡ phát triển. Kinh tế t bản t nhân đợc khuyến khích và phát
triển rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất kinh doanh pháp luật không cấm.
Nhờ có những chủ trơng đúng đắn mà tính đến thời điểm cuối năm 2002, sau 3
năm thực hiện luật doanh nghiệp, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tăng lên
đến 93.000 doanh nghiệp t nhân. Riêng 3 năm (từ 2000-2002) đã có 55.000
doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký lên tới 8.000 tỷ
đồng
3
. Kinh tế t nhân đã huy động 300.000 tỷ đồng đầu t vào sản xuất kinh
doanh, thu hút và tạo thu nhập, ổn định cho 5 triệu lao động có việc làm thờng
xuyên. Mặc dù vậy tổng số vốn trong dân còn rất lớn. Theo ớc tính của các
chuyên gia tài chính thì nguồn vốn trong dân ớc khoảng 10,8 tỷ USD, đây là ch-
a tính đến nguồn kiều hối của khoảng 2,5 triệu ngời Việt kiều. Tiềm năng là nh
vậy song trên thực tế tổng số vốn đầu t cha tơng xứng với tiềm lực của khu vực
này. Chính vì vậy đề ra hớng phát triển KT-NQD theo quan điểm Phát triển và
quản lý các loại hình doanh nghiệp thuộc kinh tế hợp tác, kinh tế t bản nhà nớc,
kinh tế t bản t nhân, và kinh tế cá thể là thực sự cần thiết với những nội dung
cụ thể sau:
Tạo môi trờng thúc đẩy cạnh tranh bằng cách hoàn thiện môi trờng kinh
doanh theo pháp luật, tạo điều kiện cạnh tranh một cách bình đẳng, sửa đổi bổ
3
Công Hiệu,2003,tác động của cơ cấu lại DNNN, hiệu quả thực thi LDN tới chiến lợc kinh doanh của NHTM
11
Luận văn tốt nghiệp Đinh Xuân Sơn
sung văn bản pháp quy về các loại hình doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể
khuyến khích phát triển kinh tế t nhân.
Phát triển hợp tác xã liên kết giữa các thành phần kinh tế dựa trên nguyên
tắc tự nguyện bình đẳng.
Thực hiện chính sách tài chính tín dụng đối với kinh tế t nhân bình đẳng
nh đối với những doanh nghiệp thuộc các TPKT khác; bảo đảm kinh tế t nhân
đợc tiếp cận và đợc hởng các u đãi của nhà nớc cho kinh tế hộ, doanh nghiệp
vừa và nhỏ, cho đầu t theo mục tiêu đợc nhà nớc khuyến khích. Nhà nớc hỗ trợ
xây dựng cơ sở hạ tầng chung (giao thông, điện, nớc, thông tin liên lạc ), tạo
điều kiện thuận lợi cho kinh tế t nhân phát triển.
Nhà nớc có chính sách thích hợp về thuế, có thể giảm thuế đối với những
mặt hàng sản xuất và tiêu dùng trong nớc, những mặt hàng xuất khẩu, giảm
thuế đối với những doanh nghiệp hoạt động ở các vùng kinh tế kém phát triển,
các doanh nghiệp có vốn lớn nhng sử dụng nhiều lao động áp dụng mức thuế
nhập khẩu thấp đối với máy móc thiết bị cha sản xuất đợc trong nớc. Giúp đỡ
các doanh nghiệp về đào tạo, hớng nghiệp và thông tin thị trờng.
Mặc dầu có nhiều cố gắng trong việc tạo điều kiện khuyến khích các
doanh nghiệp NQD song còn nhiều bất cập, hạn chế phát sinh. Một phần do
những nguyên nhân khách quan nh nền kinh tế thị trờng cha phát triển đầy đủ,
còn đang trong giai đoạn sơ khai cho nên không tránh khỏi những bất cập. Điều
này đòi hỏi Chính phủ phải có những nghiên cứu sâu sắc hơn nữa đối với TPKT
này trong thực tiễn ở các nớc có hoàn cảnh tơng đồng với Việt nam cũng nh
trong nền kinh tế Việt nam nhằm đa ra những chính sách đúng đắn thúc đẩy
KT-NQD phát triển.
*+,!-."
/0-12345
12
Luận văn tốt nghiệp Đinh Xuân Sơn
Kinh tế ngoài quốc doanh ở nớc ta chủ yếu dựa trên sở hữu t nhân về vốn
và t liệu sản xuất nên nguồn vốn kinh doanh của khu vực này mang tính chất
nhỏ bé nghèo nàn.
Đây là đặc điểm chính, nổi bật nhất của KT-NQD. Là vấn đề cấp thiết
nhất trong các vấn đề KT-NQD phải đối mặt, đang đòi hỏi phải giải quyết
nhanh chóng. Để có những biện pháp hữu hiệu cần phải có những nghiên cứu
sâu sắc về nguồn vốn kinh doanh của khu vực này. Nh chúng ta đã biết, nguồn
vốn gồm nợ và vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu gồm vốn tự có, vốn góp, các
loại cổ phiếu, trái phiếu, lợi nhuận giữ lại. Tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu
gọi là cơ cấu vốn. Nghiên cứu thực tế hoạt động doanh nghiệp NQD cho thấy cơ
cấu vốn của khu vực này cha hợp lý, chủ yếu hoạt động bằng nguồn vốn chủ sở
hữu, vốn huy động rất nhỏ bé. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp NQD
đã chủ động tìm kiếm các nguồn vốn có thể huy động nh từ bạn bè, ngời thân,
từ phía ngân hàng và các tổ chức tài chính khác.
Trong các nguồn vốn đó, tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng
nhất nó có thể thoả mãn mọi nhu cầu vốn của doanh nghiệp về quy mô, thời
hạn, phơng thức vay trả, có lãi suất hợp lý Hơn nữa khi quan hệ với ngân hàng,
các doanh nghiệp có thể đợc hởng u đãi, miễn phí một số dịch vụ nh t vấn, hớng
dẫn Vì vậy có thể nói tín dụng ngân hàng là thành một kênh huy động vốn
quyết định đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
67819:
Xuất phát từ khó khăn do vốn ít, lại bị ràng buộc cơ chế quản lý kinh tế
bảo thủ lỗi thời, bị Mỹ cấm vận kinh tế trong một thời gian dài làm cách biệt
với nền khoa học công nghệ hiện đại của thế giới nên trình độ trang bị về kỹ
thuật công nghệ của khu vực NQD nghèo nàn lạc hậu, thiếu đồng bộ. Máy móc,
thiết bị kỹ thuật, công nghệ sản xuất kinh doanh chủ yếu là nhập từ các nớc xã
hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cũ và đã qua tân trang lại hoặc các công
13
Luận văn tốt nghiệp Đinh Xuân Sơn
nghệ cũ đã bị thải loại ở những nớc phát triển, bằng nhiều con đờng đợc đa vào
Việt Nam. Tuổi thọ của chúng khá cao thờng trên 20 năm, phần lớn đã trích hết
khấu hao.
Khi cấm vận kinh tế bị bãi bỏ, giao lu kinh tế quốc tế đợc mở rộng và
tăng cờng, Việt nam tích cực tham gia vào tiến trình khu vực hoá và toàn cầu
hoá. Trong quá trình đó Việt nam có điều kiện tiếp cận và học hỏi những thành
tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, làm cơ sở cho quá trình chuyển giao công nghệ.
Kết quả, chuyển giao công nghệ diễn ra ngày một nhiều, song cha đáng kể, mới
chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực của nền kinh tế.
Do trình độ công nghệ quyết định đến năng suất lao động và chất lợng
sản phẩm. Cho nên kỹ thuật công nghệ lạc hậu tất yếu cho năng suất lao động
thấp, chất lợng sản phẩm kém, giá thành sản phẩm cao mà hệ quả của nó là sức
cạnh trạnh của sản phẩm trên thị trờng thấp, hiệu quả kinh doanh hạn chế. Vì
vậy cần có chính sách đầu t, chính sách tài chính, tín dụng hợp lý và hiệu quả
nhằm giải quyết những khó khăn trở ngại về kỹ thuật công nghệ của khu vực
KT-NQD.
*678%;"0<#0=>8
Do thời gian chuyển sang kinh tế thị trờng cha đợc bao lâu các ông chủ
của các TPKT-NQD cha có kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh trong kinh tế
thị trờng, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ quản trị kinh
doanh cha đợc chuẩn bị, đào tạo và bồi dỡng có hệ thống cho nên các loại hình
sản xuất kinh doanh NQD đều phát triển theo hớng tự nhiên chỉ thấy lợi là làm.
Đội ngũ những nhà quản trị thì nh vậy, nhng tình hình đội ngũ ngời lao
động cũng không lấy gì làm sáng sủa khả quan. Ngời lao đông trong khu vực
này có kỹ năng thấp, rất ít đợc qua đào tạo có căn bản, chủ yếu lao động thủ
công.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét