Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

virus hoc dai cuong


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "virus hoc dai cuong": http://123doc.vn/document/562956-virus-hoc-dai-cuong.htm



3.3. Hình thái và kích thước của virus
Virus chưa có cấu tạo tế bào, một virus thành thục, có cấu trúc hoàn chỉnh, có
khả năng gây nhiễm được gọi là một hạt virus hay một virion.
Virus có nhiều hình dạng khác nhau:
a) Dạng hình cầu: Bao gồm phần lớn các virus gây bệnh cho người và động vật
như virus cúm, virus quai bị, virus gây bạch cầu của gia cầm, các arbovirus.
Loại này có kích thước trung bình khoảng 108 - 158m.
b) Dạng hình que: Bao gồm các virus đốm thuốc lá, đốm khoai tây, loại này có
kích thước: chiều rộng khoảng 15 m và chiều dài 250 m.
c) Dạng hình khối: Gồm các virus hình khối đa diện có nhiều cạnh như vi rus
đậu, các enterovirrus, adenovirus, reovirus, papilomavirus ở người và động
vật. Kích thước vào khoảng 30 - 358 m.
d) Dạng đặc biệt: Có hình giống một tế bào sinh dục đực (tinh trùng), đặc trưng
cho các virus kí sinh trong các tế bào vi khuẩn và được gọi là các thực khuẩn
thể hay bacteriophage kích thước biến động trong khoảng từ 47 - 104 đến 10
- 225 m.

Trừ virus đậu mùa có thể quan sát được dưới kính hiển vi quang học còn
các loại vius khác đều không quan sát được do kích thước quá nhỏ, nhiều
virus có kích thước chỉ ngang hàng với các phân tử.
Ví dụ:
Phân tử albumin lòng trắng trứng : 10 m
Virus lở mồm long móng : 10 m
Virus viêm n o nhật bản Bã : 22 m
Virus viêm tuỷ xám : 27 m
Virus dại : 250 m
Virus đậu mùa : 260 x 210 m
Vi khuẩn : 750 m
Tế bào hồng cầu : 7500 m

3.4. Cấu trúc của virus
Virus có cấu trúc rất đơn giản, bất kỳ một virus nào cũng có cấu tạo chủ yếu bởi vỏ
protit và một nhân là axit nucleic
3.4.1. Vỏ protit (Capxit)
Có bản chất là protit, có chức năng
- Bao quanh axit nucleic tạo ra lớp vỏ bảo vệ nhân
- Giữ cho virus có hình thái và kích thước ổn định
- Tham gia vào sự hấp phụ của virus lên tế bào cảm thụ
- Quyết định tính kháng nguyên đặc hiệu của virus
Capxit được cấu tạo bởi các tiểu phần sau:
a) Đơn vị cấu trúc: Đó là các phân tử protein có phân tử lượng từ 18.000 - 38.000.
b) Đơn vị hình thái (Capxome): Các đơn vị cấu trúc trên tập hợp lại với nhau thành
những đơn vị có phân tử lượng cao hơn được gọi là capxome hay đơn vị hình thái.

Cuối cùng các capxome lại liên kết với nhau tạo thành một cái vỏ protit bao bọc
nhân của virus gọi là capxit. Các capxome liên kết với nhau theo 3 kiểu cấu trúc
sau:
+ Cấu trúc xoắn: Thuộc nhóm các virus có cấu trúc xoắn bào gồm virus đốm
thuốc lá, virus sởi, virus cúm, virus Newcastle, virus quai bị,
Capxit được cấu trúc như một ống rỗng, thành ống bao gồm nhiều capxome liên
kết với nhau tạo thành nhiều vòng xoắn các vòng xoắn này lại gắn chặt với nhau
để tạo ra một ống dài. Bên trong ống dài là phân tử axit Nucleic nhân của virus.
Dạng cấu trúc này làm cho đa số các virus có cấu trúc hình que.
+ Cấu trúc đối xứng khối: Capxit cũng bào gồm nhiều capxome ghép lại với
nhau, trong trường hợp này mỗi capxome lại bao gồm 5 - 6 đơn vị cấu trúc. Các
đơn vị này có thể là một mạch peptit đồng nhất hoặc là một mảnh bao gồm các
mạch peptit khác nhau tập trung lại nhưng bất kỳ một capxome nào cũng có các
capxome bên cạnh giống hệt nó và được sắp xếp theo kiểu đối xứng.

Hầu hết các virus hình cầu được nghiên cứu từ trước tới nay đều thuộc loại
có cấu trúc đối xứng hình khối 20 mặt tam giác. Ví dụ: Virus viêm n o, virus đưã
ờng hô hấp, virus đường ruột, các virus gây khối u,
+ Cấu trúc phức tạp: Kiểu cấu trúc phức tạp bao gồm đậu mùa và đặc biệt là
các bacteriophage ví dụ: Thực khuẩn thể T2 của E.coli có dạng hình tinh trùng
bao gồm:
- Đầu: có dạng hình lăng trụ 6 cạnh, vỏ đầu có cấu tạo là protein bên trong
có chứa một phân tử ADN xoắn kép.
- Đuôi: Là một ống rỗng có cấu tạo phức tạp, các phân tử protein có khả
năng đàn hồi, trong có một ống trụ, trong ống trụ lại có một ống dẫn để thực
khuẩn thể có thể bơm axit nucleic nhân vào tế bào. ống trụ được bao bọc bởi
một lớp vỏ protein gọi là bao đuôi. Đầu mút đuôi có một cấu trúc 6 cạnh gọi là
đĩa gốc, đĩa gốc có 6 gai đuôi và 6 sợi protein dài và mảnh gọi là lông đuôi, đó
là cơ quan cảm nhận màng tế bào vi khuẩn để virus bám vào.

3.4.2. Nhân của virus; Nhân của virus là axit nucleic
Các virus chỉ chứa một loại axit nucleic nhân hoặc là ADN hoặc là ARN.
Axit nucleic có thể là chuỗi đơn hoặc chuỗi kép.
Các virus gây bệnh ở thực vật thường có nhân là ARN.
Các bactreriophage thường có nhân là ADN
Các virus gây bệnh cho người và động vật có thể có nhân là ADN hoặc
ARN.
Nhân virus có các chức năng quan trọng:
- Mang mật m di truyền đặc trưng cho từng virusã
- Quyết định khả năng gây nhiễm của virus
- Quyết định khả năng tái tạo của virus trong tế bào cảm thụ.
- Mang tính bán kháng nguyên đặc hiệu của virus

3.4.3. Các cấu trúc khác có liên quan đến virus
+ Vỏ bọc ngoài: ở một số virus ngoài các cấu trúc cơ bản trên, virus còn có thêm
một phần bao bọc ngoài cùng có chứa lipoprotein, glucoprotein, enzim và kháng
nguyên gây ngưng kết gọi là vỏ bọc ngoài, đây là thành phần không đặc hiệu của
virus, cấu trúc này thường do màng nhân hoặc màng của tế bào cảm thụ có
những biến đổi đặc trưng với virus tạo thành.
Virus có vỏ bọc ngoài như virus đậu mùa
+ Tiểu thể bao hàm: Trong các tế bào của sinh vật nhiễm virus, thường hình
thành những hạt rắn chắc và có kích thước khá lớn có thể quan sát bằng kính hiển
vi quang học, người ta gọi những hạt đó là thể bao hàm hay thể ấn nhập. Những
hạt này chính là những phần biến đổi của tế bào, có hình dạng, kích thước đặc
biệt, có tính chất bắt màu đặc trưng cho từng loại virus nên có ý nghĩa trong chẩn
đoán.
Thể bao hàm có thể hình thành trong nhân hoặc nguyên sinh chất tế bào.
Ví dụ: Trong tế bào thượng bì của gà mắc bệnh đậu có tiểu thể bolinger
ở nguyên sinh chất tế bào thần kinh thuộc sừng amon của chó bị dại có tiểu thể
Negri,


2.4.4. Thành phần hóa học của virus

Virus có thành phần hóa học đơn giản chỉ bao
gồm protein và acid nucleic.

2.4.4.1. Protein của virus

Protein virus được tổng hợp nhờ mARN c a virus
trên riboxom của tế bào. Tùy theo thời điểm tổng
hợp mà được chia th nh protein sớm và protein
muộn. Protein sớm do gen sớm mã hoá, thường l
enzym (protein không cấu trúc) còn protein muộn
do gen muộn mã hoá, thường l protein cấu trúc tạo,
nên vỏ capsid v vỏ ngo i.


+ Protein không cấu trúc

Protein không cấu trúc có thể được gói v o trong virion,
nhưng không phải l th nh phần cấu tạo virion. Đây là các
enzym tham gia v o quá trình nhân lên của virus, ví dụ
enzym phiên mã ngược, proteaza v integraza của virus
retro.

Protein không cấu trúc khác chỉ có mặt trong tế bào
nhiễm mà không được đưa v o virion, bao gồm các
protein tham gia v o quá trình điều ho sao chép, phiên
mã, dịch mã, protein ức chế quá trình tổng hợp acid
nucleic v protein của tế bào chủ. Ngoài ra thuộc loại
này còn có các protein gây ung thư, các protein gây
chuyển dạng tế bào .


+ Protein cấu trúc

Prootein cấu trúc tham gia vào cấu tạo hạt virus,
làm cho chúng có hình dạng, kích thước nhất định và
bảo vệ genom của virus khỏi các điều kiện bất lợi.
Protein cấu trúc bao gồm protein của nucleocapsid,
protein nền (matrix), protein vỏ ngoài. Protein vỏ có thể
tự lắp ráp hay lắp ráp với sự trợ giúp của một khung
protein tạm thời, làm nhiệm vụ dàn giáo, protein này chỉ
tồn tại khi lắp ráp nucleocapsid và mất đi ở virus trưởng
thành. Ví dụ: capsid của virus polio có cấu tạo tương đối
đơn giản, gồm 4 protein là VP1, VP2, VP3 và VP4 (viral
protein). Các protein này tham gia lắp ráp tạo capsid
thông qua một cấu trúc tiền chất gọi là procapsid bao
gồm một protein tiền chất (VPO) và VP1, VP3. Protein
tiền chất lại được cắt thành VP2 và VP4 khi vỏ capsid
tiến hành lắp ráp với acid nucleic của nó

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét