Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với thị trường và thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát thị trường


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với thị trường và thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát thị trường": http://123doc.vn/document/1055100-quan-ly-nha-nuoc-bang-phap-luat-doi-voi-thi-truong-va-thuc-hien-chuc-nang-kiem-tra-kiem-soat-thi-truong.htm


trị. Luận về điều này Hàn Phi Tử cho rằng đức trị của Nho giáo đẹp, nhng kém thực tế;
cai trị bằng pháp luật, trọng thởng phạt nghiêm minh, đúng phép nớc; vua, chúa phải
vô t, công minh khi sử dụng pháp luật; phải coi pháp luật là những thứ dùng làm tiêu
chuẩn để phân biệt đúng- sai, phải- trái, nh cái mực, cái quy, cái củ để điều hành thì
xã hội thái bình. Hàn Phi đa ra các nguyên tắc của pháp luật với tính cách là công cụ
cai trị, quản lý: 1, pháp luật có tính kịp thời; thời thay mà pháp luật không đổi thì nớc
loạn; đời đã thay đổi mà cấm lệnh không biến thì nớc bị chia cắt. Cho nên thánh nhân
trị dân thì pháp luật theo thời đó mà đổi, cấm lệnh cũng với đời mà biến; 2, pháp luật
phải soạn sao cho dân dễ biết, dễ thi hành, pháp luật không gì bằng thống nhất, cố
định để cho dân dễ hiểu; "cái gì mà kẻ sĩ có óc tinh tế mới biết đợc thì không nên ban
làm lệnh, vì dân không phải ngời nào cũng có óc tinh tế cả. Cái gì mà bậc hiền mới
làm đợc thì không nên dùng phép tắc là vì không phải ngời dân nào cũng hiểu cả"; 3,
"pháp luật phải công bằng, bênh vực kẻ yếu, thiểu số, vì thế, "trị nớc thì minh định
pháp luật, đặt ra hình phạt nghiêm khắc để cứu loạn cho dân chúng, trừ cho thiên hạ
khiến cho kẻ mạnh không lấn kẻ yếu, đám đông không hiếp đáp số ít, ngời già đợc h-
ởng hết tuổi trời, bọn trẻ mồ côi đợc nuôi lớn, biên giới không bị xâm phạm, vua tôi
thân nhau, cha con bảo vệ nhau, không lo bị giết hay bị giặc cầm tù, đó cũng là cái
công cực lớn vậy; 4, pháp luật phải có tính phổ biến, đợc công khai, truyền bá tới tất
cả mọi ngời để không một ngời dân nào có thể viện cớ không biết nên nỡ phạm luật.
Ông yêu cầu các quan cai trị phải lấy luật pháp mà dạy cho dân, pháp luật phải nh
một phép công điều khiển hành vi của mọi ngời.
- ở phơng Tây, các quan niệm về quản lý ngay từ thời cổ đại cũng đã hết sức
phát triển, gắn liền với các tên tuổi lớn, những triết gia vĩ đại mà t tởng của họ đã đặt
mốc cho sự ra đời của nhiều học thuyết quản lý nổi tiếng sau này. Đó là Arixtốt,
Platon, Xixêron
- Trong xã hội t sản quản lý đợc nghiên cứu dới nhiều góc độ khác nhau, học
thuyết quản lý luôn kề cận với khoa học chính trị, khoa học kinh tế, hành chính và
điều khiển học, vì lẽ đó nó mang tính toàn diện và thực dụng. F. Taylo (1856-1915)
cho rằng quản lý là biết đợc chính xác điều bạn muốn ngời khác làm, và sau đó hiểu
5
đợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Theo ông, mục
tiêu cơ bản nhất của quản lý doanh nghiệp là giải quyết mối mâu thuẫn gay gắt giữa
chủ và thợ để cùng đi tới mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả và năng suất lao động.
Nh vậy, mục tiêu kinh tế là cái cốt của quản lý của Taylo; quản lý của Taylo là quản
lý con ngời kinh tế, với các nguyên tắc: bố trí lao động một cách khoa học để thay thế
các thao tác lạc hậu, kém hiệu suất; lựa chọn công nhân một cách khoa học; đào tạo,
huấn luyện và bồi dỡng họ; gắn công nhân với công nghệ sản xuất; phân công đều
công việc giữa ngời quản lý và công nhân. Cái gắn bó giữ họ là lợi nhuận. Quản lý nh
thế đã tuyệt đối hoá lợi ích vật chất, coi nhẹ động lực tinh thần của con ngời.
Đối ngợc với học thuyết quản lý của Taylo, nhiều nhà khoa học quản lý t sản đề
xuất học thuyết quản lý con ngời xã hội làm trọng tâm, với sự coi trọng cả lợi ích kinh
tế, cả lợi ích tinh thần của họ. Nhìn chung, các quan niệm và học thuyết quản lý t sản
đã khẳng định tính khách quan của quản lý cả trên bình diện xã hội, cả với một tổ
chức, và nhất là đối với doanh nghiệp. Quản lý do đó đợc đồng nhất với các hoạt động
điều khiển, chỉ huy một tổ chức của con ngời, với từng con ngời bằng các mệnh lệnh
mang tính quyền lực phổ biến, trên cơ sở các nguyên tắc phổ biến, đợc thực hiện từ
các trung tâm quản lý.
Sự chật hẹp trong các học thuyết quản lý t sản chính là ở chỗ nó chỉ nhằm phục
vụ cho lợi ích của giai cấp t sản. Và do đó, khi đem áp dụng vào xã hội nó đã tỏ ra bế
tắc trên nhiều phơng diện, nhất là trong việc thực hiện các quyết định quản lý.
- Quan niệm quản lý của chủ nghĩa Mác - Lênin .
Học thuyết Mác - Lênin quan niệm quản lý là tất yếu, bắt nguồn từ sự phân
công, hợp tác lao động. Sự phân công, hợp tác lao động nhằm mục đích mang lại hiệu
quả nhiều hơn, năng suất lao động cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy
phối hợp, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh, phải có ngời đứng đầu. Các Mác chỉ rõ:
Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô t-
ơng đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá
nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể
6
sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một nghệ sỹ vĩ cầm
tự điều khiển mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trởng [1, tr 480].
Phát triển t tởng của Mác, Ănghen, VI. Lênin, các nhà khoa học quản lý và
pháp lý xã hội chủ nghĩa đã xây dựng lên những luận cứ khoa học của quản lý, qua đó
làm rõ bản chất, mục tiêu, các nguyên tắc, vai trò của nhà nớc và hệ thống chính trị,
của quần chúng nhân dân trong quản lý dới chủ nghĩa xã hội. Phù hợp với những cơ sở
đó, khoa học quản lý xã hội chủ nghĩa đã đi sâu nghiên cứu một loạt các vấn đề quan
trọng về lý luận quản lý, đặc biệt là các vấn đề:
- Chủ thể quản lý, là ngời chỉ đạo, quản lý điều khiển, chỉ huy quá trình, hoạt
động quản lý .
- Đối tợng quản lý là ngời (hoặc vật), tổ chức chịu sự quản lý của chủ thể quản
lý.
- Nội dung, hình thức quản lý.
- Khách thể quản lý là mục tiêu, mục đích mà chủ thể quản lý hớng đến.
- Công cụ quản lý là phơng tiện gắn với các biện pháp, cách thức mà chủ thể
quản lý sử dụng để tác động lên đối tợng quản lý.
- Môi trờng quản lý là các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi để quá trình quản lý đạt
đợc mục tiêu, mục đích có hiệu quả cao nhất.
Trong chủ nghĩa xã hội, quản lý luôn là một quá trình mang bản chất xã hội,
gắn với tổ chức xã hội, gắn với một lĩnh vực hoạt động cụ thể, cũng luôn gắn với đào
tạo, giáo dục, huấn luyện con ngời, với quá trình lao động tạo ra của cải, vật chất, vì
con ngời và lợi ích của con ngời.
Thứ hai: Quản lý nhà nớc bằng pháp luật theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-
Lênin và của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Quản lý nhà nớc bằng pháp luật là quản lý mà chủ thể là nhà nớc, cụ thể là các
cơ quan quản lý từng lĩnh vực nhất định, trong đó pháp luật là cơ sở, công cụ quản lý,
thể hiện các quyết định quản lý và bảo đảm thực hiện các quyết định đó.
T tởng về nhà nớc quản lý bằng pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lênin gắn liền
với các quan điểm duy vật biện chứng về nhà nớc và pháp luật. Theo Các Mác và Ph.
7
Ănghen, nhà nớc là sản phẩm của của xã hội; Nhà nớc thiết lập một quyền lực công
cộng , là một bộ máy cai trị, quản lý. Bộ máy này dờng nh tách ra ngoài xã hội, đứng
trên xã hội, bao gồm một hệ thống các cơ quan quản lý các lĩnh vực của đời sống xã
hội. Nhà nớc sử dụng quyền lực công cộng để ra các quyết định quản lý, thực hiện các
chức năng đối nội, đối ngoại bằng cách ban hành pháp luật và bắt buộc mọi tổ chức,
mọi thành viên trong xã hội phải thực hiện.
Do bản chất kiểu mới của nhà nớc xã hội chủ nghĩa mà quản lý nhà nớc bằng
pháp luật có bản chất hoàn toàn khác với nhà nớc bóc lột. Trong tác phẩm nổi tiếng
Những nhiệm vụ trớc mắt của chính quyền Xô -Viết, VI. Lênin đã nhấn mạnh:
Ngày nay, nhiệm vụ quản lý đã trở thành nhiệm vụ chủ yếu và trung tâm, Chúng ta
giành đợc nớc Nga từ tay bọn nhà giàu để giao lại cho những ngời nghèo, từ tay bọn
bóc lột để giao lại cho những ngời lao động. Bây giờ chúng ta phải quản lý nớc Nga,
và chúng ta phải suy nghĩ kỹ rằng muốn quản lý đợc tốt, thì ngoài cái tài biết thuyết
phục, biết chiến thắng trong cuộc nội chiến, còn cần phải biết tổ chức trong lĩnh vực
thực tiễn [1, tr 209-210]. Ngời đặc biệt nhấn mạnh công việc kiểm kê, kiểm soát
trong quản lý nhà nớc. Ngời cho rằng: Điều quyết định là: tổ chức cho toàn dân kiểm
kê và kiểm soát một cách hết sức chặt chẽ sự sản xuất và phân phối sản phẩm , rằng:
Nếu nhà nớc không tiến hành kiểm kê và kiểm soát toàn diện đối với việc sản xuất
và phân phối các sản phẩm, thì chính quyền của những ngời lao động, nền tự do của
họ sẽ không thể nào duy trì đợc và nhất định họ sẽ phải phải sống trở lại dới ách của
chủ nghĩa t bản [2, tr 224]. Nhấn mạnh vai trò của nhân dân lao động trong quản lý
nhà nớc VI. Lênin viết: Chủ nghĩa xã hội không thể do một số ít ngời tiến hành mà
phải do hàng chục triệu ngời tham gia.
Kế thừa những t tởng mác xít về quản lý nhà nớc trong nhà nớc xã hội chủ
nghĩa, trong thời kỳ đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định; Chúng ta đã
xác định mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nớc quản lý thành cơ
chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội

[3, tr 109], trong đó, công tác quản lý không
phải việc riêng của những ngời quản lý chuyên nghiệp, mà là sự nghiệp của nhân dân.
Trong công tác quản lý của các cơ quan nhà nớc, dù quản lý hành chính hay quản lý
8
sản xuất, kinh doanh, quản lý trật tự, trị an, đều cần có sự tham gia của quần chúng,
rằng phải đảm bảo phơng châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là nền nếp
hàng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động quản lý nhà nớc mình
[1, tr112]. Mục đích, cũng là khách thể sâu xa nhất của quản lý nhà nớc là sự đổi mới
sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống đất nớc; là tạo cho chủ nghĩa xã hội một hình
thức tổ chức mới, hiện đại nhất; là sự phát huy cao nhất tính nhân đạo xã hội chủ
nghĩa ở mọi lĩnh vực đời sống xã hội : chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội [2, tr 89].
Trong bối cảnh cả nớc đang bằng mọi nỗ lực để thực hiện Nghị quyết Đại hội
IX, xây dựng nhà nớc pháp quyền, thực hiện quản lý nhà nớc bằng pháp luật đòi hỏi
phải thay đổi về cơ bản mối quan hệ giữa nhà nớc và pháp luật. Quản lý nhà nớc bằng
pháp luật trong nhà nớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân đòi hỏi trớc hết Nhà nớc
phải tôn trọng pháp luật, bị ràng buộc bởi pháp luật, mọi hoạt động quản lý của nhà n-
ớc phải trong khuôn khổ pháp luật, chỉ đợc làm những gì mà pháp luật cho phép. Quá
trình quản lý nhà nớc do vậy là quá trình tạo dựng cơ sở pháp luật, đa pháp luật vào
cuộc sống bằng chính sự tuân thủ của Nhà nớc, bằng việc bảo đảm sự thi hành pháp
luật nghiêm minh của mọi đối tợng quản lý.
Thứ ba: Đặc trng cơ bản của nhà nớc bằng pháp luật.
Từ những cơ sở lý luận trên cho phép rút ra một số đặc trng cơ bản sau của quản
lý nhà nớc bằng pháp luật:
- Quản lý nhà nớc đợc bắt đầu bằng việc định ra các thể chế pháp lý thể hiện ý
chí chung của xã hội nhằm tạo cơ sở chuẩn mực cho các hoạt động quản lý nhà nớc cụ
thể, để đánh giá chất lợng, hiệu quả quản lý, cho việc xử lý vi phạm trật tự quản lý.
Đó cũng là sự tạo dựng ra công cụ, phơng tiện pháp luật trong quản lý, tạo ra yếu tố
quyết định của cơ chế quản lý nhà nớc.
- Yếu tố quan trọng của quản lý nhà nớc bằng pháp luật là quyền lực quản lý.
Đó là quyền lực có giới hạn, trong khuôn khổ pháp luật. Trong nhà nớc xã hội chủ
nghĩa, quyền lực nhà nớc đợc sử dụng để thực hiện các các quyết định quản lý, là
quyền lực của nhân dân, do nhân dân uỷ nhiệm cho cơ quan nhà nớc theo thủ tục do
pháp luật quy định. Việc thực hiện quyền lực đó phải bảo đảm tính thống nhất, trên cơ
9
sở có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nớc, không đối trọng,
triệt tiêu hiệu quả quản lý của nhau.
- Khách thể của quản lý nhà nớc là trật tự quản lý nhà nớc từng lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội. Đạt đợc các khách thể này cũng đồng nghĩa với đạt đợc mục
tiêu của quản lý, thiết lập và duy trì đợc trật tự, ổn định xã hội, đa xã hội phát triển
theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
- Quản lý nhà nớc bằng pháp luật là quản lý đợc thực hiện trên cả ba lĩnh vực
lập pháp, hành pháp và t pháp. Mỗi lĩnh vực quản lý đó có tính độc lập nhng quan hệ
chặt chẽ với nhau trong một chu trình quản lý thống nhất.
Trong chu trình quản lý đó, quản lý hành chính bằng pháp luật thể hiện tập
trung bản chất, đặc điểm của quản lý trong nhà nớc xã hội chủ nghĩa, quyết định việc
thực hiện mục tiêu của quản lý. Quản lý đó có các đặc điểm sau:
+ Chủ thể quản lý là toàn bộ các cơ quan, tổ chức trong bộ máy hành chính nhà
nớc. Đó là những cơ quan chấp hành của cơ quan dân cử, có chức năng thống nhất
quản lý các nhiệm vụ kinh tế xã hội, hoạt động liên tục, mang tính pháp lý và
nghiệp vụ hành chính cao.
+ Quyền lực hành chính trong quản lý bằng pháp luật là quyền lực đơn phơng,
trực tiếp, trong nhiều trờng hợp buộc đối tợng quản lý chấp hành vô điều kiện. Vì lẽ
đó, quản lý nhà nớc bằng pháp luật phải bị đặt trong khuôn khổ của pháp luật một
cách chặt chẽ nhất, và phải thờng xuyên thanh tra, kiểm tra sự chấp hành của các cơ
quan quản lý hành chính.
+ Quản lý hành chính phục vụ cho các chức năng của nền hành chính, tuân thủ
các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nền hành chính, bao gồm các nguyên tắc:
Đảng lãnh đạo; nguyên tắc nhân dân lao động tham gia ngày càng đông đảo vào quản
lý; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc; nguyên tắc
pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa
phơng, vùng lãnh thổ; nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức
năng.
10
+ Quản lý hành chính nhà nớc bằng pháp luật đợc thực hiện theo những hình
thức và phơng pháp quản lý đặc thù riêng.
Về hình thức, gồm: 1, hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật để chấp
hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của cơ quan lập pháp và cơ quan hành
chính cấp trên, đồng thời để đặt ra chuẩn mực trực tiếp cho quản lý; 2, hình thức ban
hành văn bản áp dụng pháp luật, là hình thức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan hành chính nhà nớc để ra các quyết định quản lý cá biệt giải quyết các tr-
ờng hợp ,vụ việc cụ thể phát sinh trong quản lý. Có thể nói đây là hình thức phổ biến
và quan trọng nhất; ngoài ra, có hình thức áp dụng các biện pháp tổ chức trực tiếp
không mang tính chất quyền lực, pháp lý, nh hớng dẫn, cung cấp thông tin, t liệu, và
các hình thức quản lý liên quan đến thực hiện thủ tục hành chính, trong các việc cấp
văn bằng, chứng chỉ, giải quyết yêu cầu, lập biên bản xử lý
Phù hợp với mục tiêu, chức năng, nội dung và hình thức trên, quản lý hành
chính bằng pháp luật đợc tiến hành theo các phơng pháp khác nhau, bao gồm: 1, ph-
ơng pháp thuyết phục hành chính; 2, phơng pháp cỡng chế hành chính; 3, các phơng
pháp hành chính, phơng pháp kinh tế và một số phơng pháp khác.
1.1.2. Quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng. Quản lý nhà nớc
bằng pháp luật đối với thị trờng là quản lý của nhà nớc, với sự tham gia của cả ba
hệ thống cơ quan lập pháp, hành chính, t pháp, bằng việc sử dụng công cụ pháp
luật để thiết lập trật tự của thị trờng.
Từ quan niệm trên, quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng là quản lý
nhà nớc đợc triển khai trên cả ba phơng diện lập pháp, hành pháp và t pháp, lấy đối t-
ợng tác động quản lý là thị trờng. Theo Các Mác thị trờng nghĩa là lĩnh vực trao đổi,
là tổng thể nói chung những hoạt động mua bán, nơi thờng xuyên diễn ra các hoạt
động lu thông hàng hoá, là tổng hoà những mối quan hệ mua bán trong xã hội, phản
ánh tổng hợp quan hệ giữa các bộ phận của nền kinh tế quốc dân.
Từ những quan niệm trên cho thấy trong nội hàm khái niệm thị trờng luôn bao
hàm các yếu tố;
- Nội dung quan hệ thị trờng là quan hệ mua, bán, lu thông hàng hoá
11
- Đối tợng của quan hệ đó là hàng hoá;
- Chủ thể tham gia thị trờng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, bình đẳng
với nhau trớc pháp luật, cũng là đối tợng của quản lý nhà nớc đối với thị trờng.
- Thị trờng luôn diễn ra, gắn với một địa bàn, địa danh nhất định, nh thị trờng
Hà Nội, thị trờng trong nớc, thị trờng quốc tế, hoặc hẹp hơn, nh các trung tâm giao
dịch chứng khoán, chợ
Từ quan niệm trên có thể đi tới khái niệm quản lý nhà nớc bàng pháp luật đối
với thị trờng là quản lý các quan hệ mua bán lu thông hàng hoá do các chủ thể kinh
doanh thực hiện, diễn ra trên một địa bàn nhất định trên cơ sở tác động điều chỉnh của
pháp luật theo một cơ chế pháp lý phù hợp.
Quan niệm quản lý nhà nớc bằng pháp luật có thể còn theo nghĩa rộng hơn nếu
lấy đối tợng của quản lý là các hoạt động thơng mại. Hoạt động thơng mại ở đây đợc
định nghĩa theo Điều 5, khoản 2 Luật Thơng mại là việc thực hiện một hay nhiều
hành vi thơng mại của thơng nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
thơng mại và các hoạt động xúc tiến thơng mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm
thực hiện các chính sách kinh tế xã hội. Nh vậy, đối tợng của quản lý nhà nớc
bằng pháp luật đối với thị trờng ngoài quan hệ mua bán hàng hoá còn bao gồm các
hoạt động cung ứng dịch vụ thơng mại, hoạt động xúc tiến thơng mại.
Quan niệm về quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng còn rộng hơn
nữa nếu theo khái niệm hoạt động thơng mại tại Điều 2, khoản 3 Pháp lệnh Trọng tài
thơng mại (25/02/2003). Theo pháp lệnh này, các hoạt động sau đợc coi là hoạt động
thơng mại:
- Mua bàn hàng hoá;
- Cung ứng dịch vụ;
- Phân phối;
- Đại diện, đại lý thơng mại;
- Ký gửi;
- Thuê, cho thuê;
- Xây dựng;
12
- T vấn;
- Kỹ thuật;
- Li xăng;
- Đầu t;
- Tài chính, ngân hàng;
- Bảo hiểm;
- Thăm dò, khai thác;
- Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đờng không, đờng biển, đờng sắt, đ-
ờng bộ;
- Các hành vi thơng mại khác theo quy định của pháp luật.
Dù quan niệm theo nghĩa nào, quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng
ở nớc ta hiện nay có đặc điểm sau:
Một: Đối tợng của quản lý chịu tác động mạnh mẽ, trực tiếp của cơ chế thị tr-
ờng. Đây là đặc điểm nói lên tính chất phức tạp của quản lý, đồng thời đề ra nhiệm vụ
của quản lý là phải ngăn chặn đợc những tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trờng, mặt
khác, phải bảo đảm môi trờng lành mạnh, từ đó thúc đẩy thị trờng phát triển, đúng
định hớng xã hội chủ nghĩa, đúng mục tiêu của các chính sách kinh tế xã hội của
nhà nớc, của từng địa phơng.
Hai: Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng ở nớc ta chỉ mới đợc phát triển; các
yếu tố thị trờng hầu nh chỉ mới ra đời, lại cha đồng bộ đã làm cho pháp luật về thị tr-
ờng thiếu ổn định, không đầy đủ.
Ba: Quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng, với quan niệm thị trờng
nh trên đợc giao cho nhiều cơ quan nhà nớc nớc khác nhau. Có thể nói hiện giờ, chủ
thể quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng hết sức phức tạp, không chỉ do Bộ
Thơng mại và các cơ quan quản lý chuyên trách. Trong điều kiện của bộ máy quản lý
đang trong quá trình cải cách, đổi mới, điều chỉnh lại chức năng và cơ chế quản lý và
kinh nghiệm quản lý thị trờng trong điều kiện của cơ chế thị trờng cha nhiều đã làm
cho chủ thể quản lý gặp nhiều lúng túng, hiệu lực, hiệu quả quản lý vẫn cha đáp ứng
yêu cầu.
13
Bốn: Quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng mang tính xã hội sâu sắc
bởi nó trực tiếp bảo vệ những lợi ích xã hội, đặc biệt là lợi ích của ngời tiêu dùng, của
cá nhân, đơn vị kinh tế, và do đó, là bộ phận quản lý dễ huy động lực lợng của nhân
dân tham gia, đợc d luận xã hội đồng tình. Đây là yếu tố động lực lớn góp phần tăng
cờng hiệu lực, hiệu quả quản lý.
1.2. Chức năng kiểm tra, kiểm soát thị trờng trong quản lý nhà nớc bằng
pháp luật đối với thị trờng.
Kiểm tra, kiểm soát là một chức năng quan trọng của quản lý Nhà nớc về kinh
tế và cũng là một chức năng quan trọng của quản lý nhà nớc đối với thị trờng. Đối t-
ợng của công tác kiểm tra, kiểm soát là thị trờng, mà là đối tợng phức tạp về nhiều
mặt, trong đó tính chất, nội dung và quy mô hoạt động của thị trờng quyết định nội
dung, nhiệm vụ, hình thức tổ chức, phơng pháp, các công cụ của công tác kiểm tra,
kiểm soát thị trờng.
1.2. 1. Đối tợng, nội dung kiểm tra, kiểm soát thị trờng.
Các hoạt động trên thị trờng, gồm: hoạt động hợp pháp và hoạt động phi pháp,
đều là đối tợng và đều chịu sự giám sát, kiểm tra của lực lợng quản lý, kiểm tra, kiểm
soát thị trờng. Tuy nhiên, phơng thức kiểm tra, kiểm soát của lực lợng kiểm tra, kiểm
soát thị trờng đối với hai loại hoạt động nêu trên khác nhau về cơ bản:
- Một mặt, lực lợng kiểm tra, kiểm soát thị trờng phải thờng xuyên giám sát
hoạt động trên thơng trờng, tuyên truyền, hớng dẫn, nhắc nhở các chủ thể tham gia thị
trờng hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật, làm sao để hoạt động hợp pháp
trên thị trờng ngày càng trở thành phổ biến, tạo nền tảng cho thị trờng phát triển lành
mạnh, xây dựng trật tự, kỷ cơng mới, văn minh trong hoạt động thơng mại, dịch vụ
của cả nớc. Xét về mặt này, công tác kiểm tra, kiểm soát thị trờng có nội dung và mục
đích giáo dục, xây dựng và phòng ngừa, và về lâu dài đây phải là mặt chủ yếu.
- Mặt khác, do kinh tế thị trờng ở nớc ta mới trong giai đoạn đầu của sự phát
triển, còn thiếu nhiều điều kiện cho cơ chế thị trờng hoạt động có hiệu quả, có trật tự
kỷ cơng và văn minh, hoạt động thị trờng còn nhiều lộn xộn, cha có nề nếp. Điều đáng
chú ý và quan tâm là hoạt động phi pháp, hành vi vi phạm pháp luật còn khá phổ biến,
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét