phát triển cơ sở hạ tầng. Khi kiến trúc thượng tầng tác động cùng chiều với các quy
luật kinh tế khách quan, nó sẽ thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển. Ngược lại, sẽ kiềm
hãm sự phát triển. So sánh với tình hình chính trị thế giới, thì bất cứ ở đâu chính trị
ổn định sẽ kèm theo tăng trưởng kinh tế, những nước bất ổn chính trị thì kinh tế
khủng hoảng hay phát triển chậm.
Chúng ta xét đến có ba loại nguồn lực chất xám, đó là nguồn chất xám chính
trị (tư tưởng tham chính) làm chủ đạo, nguồn chất xám kinh doanh có tính khách
quan tự nhiên và cuối cùng là nguồn chất xám khoa học trí thức chủ quan do đào
tạo. Trong ba nguồn chất xám nêu trên, thì nguồn xám chính trị là quan trọng hơn
cả, bởi nó mang tính chủ đạo. Một nhà nước tiến bộ có hiệu quả là một nhà nước có
bộ máy lãnh đạo điều hành tốt trên mọi lĩnh vực, với các chính khách "siêu đẳng"
phát huy hết khả năng chính trị, sẽ là điều kiện cho các nguồn chất xám khác phát
huy. Như vậy chất xám chính trị hay nói cách khác là sự tác động của chính trị đối
với kinh tế nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung là vô cùng to lớn.
Nền tảng chính trị là cấu liên minh giữa gia cấp công nhân, nông dân và tầng
lớp trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đó là những đảm bảo để ổn
định chính trị (như một yêu cầu khách quan của sự phát triển) và từng bước hoàn
thiện cơ chế dân chủ của xã hội, đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Nền
tảng đó là tiền đề, là môi trường cho sự phát triển kinh tế.
Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cùng tồn tại với vai trò chủ đạo của nền
kinh tế nhà nước là chiến lược lâu dài của việc đảm bảo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Tuy nhiên, tính tất yếu không phải là một sự áp đặt chính trị, mà là trong
môi trường cạnh tranh với hành lang pháp lý do nhà nước định ra.
5
Xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp trong nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, tạo sự bình đẳng trong kinh doanh, bình đẳng trong phân phối và
hưởng thụ, khuyến khích tài năng và năng lực. Nhà nước thực hiện chính sách xã
hội, chăm lo đến những người có công với đất nước, có sự hy sinh trong chiến
tranh giữ nước nên đã chịu thiệt thòi trong phát triển kinh tế. Nhà nước là trung tâm
quyền lực chính trị thực hiện điều tiết, hạn chế sự chênh lệch tuyệt đối giữa các cực
giàu nghèo.
II/ Thực trạng kinh tế- chính trị:
1) Chuyển đổi cơ cấu kinh tế:
Trong thời gian dài trước đổi mới, cũng như nhiều nước khác, chúng ta đã áp
dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô với những đặc trưng chủ yếu là: xây
dựng nền kinh tế khép kín về lực lượng sản xuất, không thừa nhận sự tồn tại của
nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ, thực hiện cơ chế quan liêu bao
cấp. Mô hình đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu
của đất nước thời kỳ có chiến tranh nhưng sau đó đã bộc lộ những khiếm khuyết,
tình hình kinh tế xã hội đất nước ngày càng khó khăn.
Cuối năm 1986, tại đại hội VI, Đảng đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo
của mình. Về kinh tế, đại hội khẳng định phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,
chuyển mạnh các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh theo quan điểm phát
triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần kinh tế đi lên chủ
nghĩa xã hội.
Phát huy những kết quả đổi mới đã đạt được, sau nhiều năm nghiên cứu tìm
tòi, tổng kết lý luận thực tiễn, đại hội IX (2001) đã chính thức đưa ra khái niệm
6
“kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, khẳng định chủ trương xây dựng
và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế
tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là đường lối chiến
lược nhất quán. Đại hội chỉ rõ đường lối kinh tế của Đảng ta là: đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở
thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây
dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy cao độ
nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế để phát triển nhanh, có hiệu quả bền vững.
2) Thành tựu kinh tế - chính trị:
Từ nền kinh tế bao cấp trì trệ bị bao vây cấm vận, đời sống nhân dân hết sức
khó khăn, đến hôm nay sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền
kinh tế nước ta đã có những bước tiến vững vàng, tạo đà cho thế kỷ phát triển mới
của đất nước. Trong hơn 20 năm qua, GDP của chúng ta đã tăng trưởng 7,5-8%
mỗi năm. Chúng ta đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị
trường và chúng ta đã thành công trong việc hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới.
Thành công nhất đối với Việt Nam là trở thành thành viên của WTO và việc Việt
Nam ký kết một loạt hiệp định hợp tác thương mại song phương với hầu hết các
nước và các vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong quá khứ, chúng ta đã theo đuổi mô
hình kinh tế của Liên Xô và các nước Đông Âu. Sau 20 năm cải cách, chúng ta đã
đạt được sự tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tục Phúc lợi xã hội đã đến được
với người nghèo và người nghèo được hưởng lợi từ sự phát triển. Tỷ lệ đói nghèo
trong dân số đã giảm từ 60% trong năm 1993 xuống 14% và Việt Nam cũng đã đạt
được hầu hết các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, thậm chí trước thời hạn.
7
Thành tích nổi bật là tăng trưởng kinh tế cao nhất so với tốc độ tăng của 12
năm trước đó, đạt được mức cao của mục tiêu do Quốc hội đề ra, thuộc loại cao so
với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế cao đã góp phần
làm cho quy mô kinh tế lớn lên. GDP tính theo giá thực tế đạt khoảng 1.143 nghìn
tỉ đồng, bình quân đầu người đạt khoảng 13,42 triệu đồng, tương đương với 71,5 tỉ
USD và 839 USD/người! Đây là tín hiệu khả quan để có thể sớm thực hiện được
mục tiêu thoát khỏi nước nghèo và kém phát triển có thu nhập thấp vào ngay năm
tới.
Chúng ta đã đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng, kinh tế xã hội tăng
trưởng nhanh, cơ sỡ vật chất kỹ thuật được tăng cường, đời sống nhân dân không
ngừng được cải thiện. Tốc độ tăng trường kinh tế cao, năm vừa rồi là 8.5%. Cơ cấu
kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể, nguồn lực phát triển trong các ngành, các vùng
đã được phát huy. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được cải thiện.
Thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Đảng đã
quan tâm đổi mới cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước. Luật doanh
nghiệp nhà nước ra đời cho thấy sự tiến bộ rõ ràng về mặt quản lý kinh tế.
Cho đến những năm gần đây, doanh nghiệp Nhà nước vẫn giữ một vị trí
quan trọng trong nền kinh tế nước ta: năm 2000 doanh nghiệp Nhà nước đóng góp
39.5% giá trị sản lượng công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu, 39.2% tổng
thu ngân sách nhà nước.
Kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã đã được đổi mới theo luật, chính
sách Đảng và nhà nước. Các hợp tác xã đã chứng tỏ được rõ hơn vai trò, vị trí đối
với kinh tế hộ gia đình trong sản xuất hàng hoá, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất
nhà nước. Từ năm 1988, hộ gia đình nông dân đã tự mình quyết định sản xuất cái
8
gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất như thế nào, bán cho ai và tự quyết định cả giá bán.
Địa vị nói trên của hộ gia đình không chỉ là kết quả của các biện pháp đổi mới kinh
tế hợp tác, chế độ quản lý đất đai, mà cả các biện pháp cải cách vĩ mô như về giá
cả, về thị trường…
Đẩy mạnh khu vực tư nhân: sau nhiều năm phân biệt đối xử với khu vực tư
nhân, chính phủ đã hoàn toàn thay đổi cách đối xử và giờ đây nó khuyến khích khu
vực tư nhân. Những đạo luật về các công ty và doanh nghiệp tư nhân đã chính thức
thừa nhận khu vực đã có một thời kỳ là khu vực không chính thức này. Kinh tế tư
nhân phát huy ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân, nhất
là sau khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000. Đến nay cả nước đã có rất nhiều doanh
nghiệp tư nhân mà đóng góp quan trọng nhất của kinh tế tư nhân là tạo việc làm và
góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội từ nông dân thành công nhân, nhân
viên văn phòng… Điển hình là công ty cà phê Trung Nguyên, một công ty tư nhân
rất phát triển và thương hiệu cũng xuất hiện ở nhiều nước. Hàng năm kinh tế tư
nhân đã đóng góp một lượng lớn vào ngân sách quốc gia.
Mở cửa cho đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Việt Nam đã khá thành công
trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong những năm qua. Đạo
luật mới về đầu tư và những lần sửa lại sau đó chứng tỏ rằng chính phủ mở cửa cho
khu vực tư nhân của nước ngoài tham gia. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có
những bước phát triển quan trọng. Đến nay có rất nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài được cấp phép và có hiệu lực. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam phát triển khá nhanh, bao quát nhiều lĩnh vực, đã có những đóng góp
quan trọng vào sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước như: bổ sung nguồn vốn
quan trọng cho đầu tư phát triển, phục vụ chuyển dịch cơ cấu theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, thu hút công nghệ hiện đại, phương pháp quản lý tiên
tiến, phát triển nguồn nhân lực, góp phần tiếp cận và mở rộng thị trường Quốc Tế,
9
nâng cao năng lực xuất khẩu ở nước ta… Đã có những tập đoàn, công ty xuyên
quốc gia lớn như Nhật Bản (Misubishi, Mitsui. . .), của Đức (Mercedes Benz,
Siemens. . .), của Mỹ ( Mobil, carterrpila. . .), đầu tư voào nước ta. Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài được coi là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà Nước đã có nhiều chủ trương,
chính sách để khẳng định vị trí của khu vực này hướng vào sản xuất kinh doanh
hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu, hàng hoá và dịch vụ có công nghệ cao, xây dựng
kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều
việc làm theo yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như hội nhập kinh tế quốc tế
và quan trọng là góp phần tăng thu nhập quốc dân.
Nhà nước đã từng bước tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của các cơ
quan nhà nước, chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước của nhà nước và
chức năng kinh doanh của doanh nghiệp chuyển từ quản lý cụ thể các hoạt động
của nền kinh tế sang quản lý tổng thể nền kinh tế quốc dân; chuyển từ can thiệp
trực tiếp vào nền kinh tế sang can thiệp gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật, kế
hoạch, cơ chế, chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô khác.
Cơ cấu kinh tế ngành có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục. Nước ta từ
chỗ chưa khai thác dầu đến nay đã khai thác có sản lượng khá cao gần 20 triệu tấn/
năm; ngành công nghiệp chế tác chuếm 80% giá trị sản lượng công nghiệp; công
nghiệp xây dựng phát triển khá mạnh được thể hiện quaviệc các cao ốc cũng như
chung cư cao tầng liên tục xuất hiện ở các thành phố lớn; sản phẩm công nghiệp
xuất khẩu ngày càng tăng như một số ngành may mặc, thực phẩm… Ngành nông
nghiệp, cơ cấu cây trồng và vật nuôi đã chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng sản
phẩm có năng suấ và hiệu quả kình tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu. Các
ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng tốt nhu cầu của sản xuất đời
10
sống. Ngành bưu chính viễn thông và du lịch phát triển nhanh. Các dịch vù tài
chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý… có bước phát triển khá.
Cơ cấu vùng kinh tế có sự chuyển biến theo hướng phát huy lợi thế của mình.
Các vùng kinh tế khó khăn đang từng bước vươn lên, có chuyển biến tốt về đời
sống kinh tế xã hội. Ở đây có vài thí dụ xác thực như khu công nghiệp Dung Quất ở
Quảng Ngãi, điều này thể hiện sự chuyển đổi vùng kinh tế, nhà nước tạo điều kiện
cho mỗi vùng đều có khả năng tự lực hoặc như thị xã Tam Kỳ thì nay là thành phố
Tam Kỳ cho thấy tốc độ đô thị hoá tương đối nhanh.
Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ lệ lao động trong sản
xuất thuần nông, tăng tỷ lệ trong công nghiệp và dịch vụ. Điều này có ý nghĩa rất
lớn quan trọng trong công cuộc đưa nước ta từ nước nông nghiệp sang nước công
nghiệp phát triển.
Tóm lại, theo em từ khi đổi mới đến nay kinh tế nước ta đã đạt được hai thành
công lớn do sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ.
Thứ nhất là việc xoá bỏ chế độ tập trung quan liêu, bao cấp. Chấp nhận nền
kinh tế nhiều thành phần. Đó là thành tựu vô cùng to lớn mà Đảng chính trị đã đạt
được trong thời kỳ đổi mới. Điều này thể hiện sự sáng suốt, trí tuệ của Đảng cầm
quyền hay nói cách khác là sự tác động có hiệu quả của chính trị với kinh tế.
Thứ hai là việc Việt Nam đã là thành viên của WTO- tổ chức thương mại thế
giới. Mở ra cho kinh tế nước nhà nhiều cơ hội cũng như thể hiện sự kiên định, tài
tình trong hơn 10 năm thương lượng ròng rã để trở thành thành viên chính thức
WTO của chính phủ nước ta.
11
3) Những hạn chế- bất cập:
Cùng với những mặt tích cực thời kỳ đổi mới đem lại thì những mặt hạn chế
cũng đã xuất hiện. Do chính sách mở cửa giao lưu kinh tế thì những văn hoá không
lành mạnh ở các nước khác cũng đã xâm nhập vào Việt Nam. Có thể thấy bản chất
người Á Đông từ bao đời nay là luôn vì cộng đồng, làm cùng cộng đồng đang và
sống rất tình nghĩ “tối lửa tắt đèn có nhau” dần rơi vào quên lãng mà thay vào đó là
lối sống thực dụng, không quan tâm đến người khác, chỉ biết sống cho bản thân
mình lợi ích của mình… Nền kinh tế hàng hoá- tiền tệ mặc dù đã đưa đất nước ta đi
lên, phát triển kinh tế thấy rõ song để lại hệ luỵ vô cùng xấu là vì tiền mà người ta
cò thể quên đi cả tình nghĩa cha mẹ, anh em, bạn bè… Ảnh hưởng không tốt đến
chính trị, văn hoá, truyền thống nước ta.
Tuy kinh tế đang phát triển nhưng nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng
nghèo nàng. Tổng thu nhập bình quân đầu người thấp hơn 1000 USD/năm. Thêm
vào đó là sự phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc giữa thành thị với nông thôn,
giữa người thành thị với thành thị…, đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến mâu thuẫn
giai cấp hay nói cách khác là mâu thuẫn xã hội, tức là những bất ổn xã hội sẽ nảy
sinh từ đây và làm ảnh hưởng đến đời sống chính trị. Thấy rõ trong thời gian qua là
người nông dân đổ xô lên thành phố buôn bán lấn chiếm lòng lề đuừơng gây ảnh
hưởng đến an toàn giao thông, mỹ quan đô thị…
Trong thời gian qua, Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp trợ giúp doanh
nghiệp Nhà nước như: miễn thuế, giảm thuế, chi vay ưu đãi , vay không thế chấp,
khoanh nợ, dãn nợ, chuyển nợ thành vốn ngân sách, cấp, tham gia xuất khẩu trả nợ
Nhà nước được trúng thầu hoặc được giao thầu nhiều công trình do Nhà nước đầu
tư, để lại khấu hao cơ bản tái đầu tư v…v… Tuy vậy, những yếu kém của doanh
nghiệp nhà nước vẫn còn rất nghiêm trọng. Đó là: năng lực cạnh tranh còn thấp
12
kém, do chất lượng thấp, giá thành của nhiều sản phẩm còn cao, nhiều mặt hàng
cao hơn giá mặt hàng cùng loại nhập khẩu (như sắt, thép, phân bón, xi măng,
đường), công nợ quá lớn, nợ quá hạn, nợ khó đòi ngày càng tăng (doanh nghiệp
Nhà nước chiếm tới 74.8% trong số nợ quá hạn của ngân hàng thương mại quốc
doanh), quy mô quá nhỏ, công nghệ lạc hậu, v…v… Có những doanh nghiệp đáng
ra phải cho phá sản vì thua lỗ kéo dài, không thể nào cứu vãn được, nhưng vẫn phải
để tồn tại, hàng năm tiếp tục lỗ thêm.
Các chính sách, bộ luật về đảm bảo kinh tế vẫn chưa được xây dựng hoàn
chỉnh. Vẫn tồn tại những yếu tố theo kiểu “ phép vua thua lệ làng” làm mất các cơ
hội được nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Đặc biệt sự quản lý về thuế lỏng lẽo đã
làm thất thoát ngân sách nhà nước rất nhiều và ngày càng xuất hiện nhiều thủ đoạn
tinh vi hơn để trốn thuế thu lợi bất chính.
GDP có tăng cao nhưng việc kiềm chế lạm phát không hiệu quả, gây hệ luỵ
xấu về sức mua. Ví dụ đơn giản cho thấy một người kiếm được một triệu, GDP
tăng 10% thì thu được 1100000 nhưng mức độ lạm phát, giá cả các sản phẩm tiêu
dùng lại tăng hơn 10%. Vậy cuộc sống sẽ ngày càng eo hẹp hơn.
Ngoài ra gần đây nhất, tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 cũng bộc lộ một số
hạn chế, bất cập. Ngoài những hạn chế, bất cập tồn tại từ những năm trước, thì năm
nay cũng nổi lên ba vấn đề lớn. Giá tiêu dùng tăng cao nhất so với 11 năm trước đó
và cao hơn tốc độ tăng GDP. Nhập siêu gia tăng cả về kim ngạch tuyệt đối, cả về tỷ
lệ nhập siêu. Ách tắc và tai nạn giao thông nghiêm trọng,
13
III/ Một số giải pháp:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá trên cơ sở tiếp tục cuộc cách mạng
khoa học kĩ thuật phù hợp với trình độ, bước đi của công cuộc đổi mới. Phải xác
định được những phương hướng đúng đắn cho sự phát triển khoa học- công nghệ.
Sở dĩ như vậy là vì, khoa học công nghệ là lĩnh vực hết sức rộng lớn, trong khi có
đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ nước ta còn nhỏ bé, chất lượng thấp, khả năng
của đất nước ta về vốn liếng, phương tiện nghiên cứu… rất hạn hẹp. Do đó, chúng
ta không thể cùng một lúc đầu tư để phát triển tất cả các lĩnh vực khoa học công
nghệ, mà phải lựa chọn những lĩnh vực nhất định để đầu tư. Nếu việc lựa chọn
đúng sẽ tạo điều kiện cho khoa học công nghệ phát triển và ngược lại, nếu việc lựa
chọn không đúng thì không những ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của khoa học
công nghệ mà còn ảnh hưởng không tốt đến công nghiệp hoá hiện đại hoá. Phương
hướng chung cho sự phát triển khoa học công nghệ nước ta là: Phát huy lợi thế của
đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt được trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt
là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều
hơn, ở mức cao hơn và phổ biến nhiều hơn những thành tựu mới về khoa học và
công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Ở đây chỉ có chính phủ mới có khả
năng quyết định con đường đi cho khoa học cũng như đầu tư hay kêu gọi đầu tư
vốn từ nước ngoài. Bộ máy chính trị nếu có tầm nhìn xa trông rộng thì sẽ tạo cho
khoa học kinh tế một bước tiến thần kỳ. Như vậy sẽ góp phần đầy nhanh tiến trình
công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Đưa ra các quyết sách kinh tế nhằm mục địch giảm tỷ trọng nông nghiệp và
tăng tỉ trọng công mghiệp và dịch vụ lên. Song nông nghiệp vẫn phát triển với sản
lượng ngày càng cao. Chính phủ tạo điều kiện để bà con được vay vốn kinh doanh
cũng như xây dựng trường lớp để bà con nông dân được học về cách sử dụng các
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét