sản xuất và bị nhà t bản chiếm không.Nh vậy, giai đoạn III của sự vận động là giai
đoạn biến t bản hàng hoá thành t bản tiền tệ.
Toàn bộ quá trình vận động tuần hoàn của t bản có thể tóm tắt nh sau:
T bản đã vận động qua ba giai đoạn và trong mỗi giai đoạn, t bản đã tồn tại dới một
hình thức và làm tròn một chức năng nhất định. ở giai đoạn I, t bản tồn tại dới hình
thức t bản tiền tệ mà chức năng của nó là mua hàng hoá.ở giai đoạn II, t bản tồn tại
dới hình thức t bản sản xuất mà chức năng của nó là sản xuất ra giá trị thặng d. ở
giai đoạn III, t bản t bản tồn tại dới hình thức t bản hàng hoá mà chức năng của nó là
thực hiện giá trị và giá trị thặng d.
Cuộc vận động đó là cuộc vận động tuần hoàn của t bản công nghiệp.
Nh vậy, tuần hoàn của t bản là sự biến chuyển liên tiếp của t bản qua ba giai đoạn,
trải qua ba hình thái, thực hiện ba chức năng tơng ứng, để trở về hình thái ban đầu
với lợng giá trị lớn hơn.
1.2. Các hình thái tuần hoàn của t bản công nghiệp:
Trong ba giai đoạn vận động tuần hoàn của t bản thì giai đoạn I và giai đoạn
III diễn ra trong lu thông, thực hiện các chức năng mua yếu tố sản xuất và bán hàng
hoá có chứa đựng giá trị thặng d. Giai đoạn II diễn ra trong sản xuất, thực hiện chức
năng sản xuất giá trị và giá trị thặng d. Do vậy, giai đoạn II là giai đoạn có tính chất
quyết định vì chỉ trong giai đoạn đó mới sáng tạo ra giá trị và giá trị thặng d. Nhng
quá trình lu thông (giai đoạn I và giai đoạn III) cũng có tác dụng rất quan trọng, vì
5
SLĐ
TLSX
SX H-TT-H
nếu không có lu thông, thì không thể có tái sản xuất t bản chủ nghĩa, vì do đó t bản
chủ nghĩa không thể tồn tại đợc.
T bản chỉ có thể tuần hoàn một cách bình thờng trong điều kiện các giai đoạn đợc
kế tiếp nhau không ngừng. Nếu ngừng trệ giai đoạn I, thì tiền tệ không chuyển thành
hành hoá đợc và sẽ khồng có đợc các điều kiện sản xuất hàng hoá. Nếu ngừng trệ
giai đoạn II, thì t liệu sản xuất không kết hợp đợc với sức lao động, do đó không thể
có sản phẩm mới.Nếu ngừng trệ giai đoạn III ,thì hàng hoá sẽ không thể bán đợc, lu
thông sẽ bế tắc.
Mặt khác, t bản cũng chỉ có thể tuần hoàn một cách bình thờng, nếu nh t bản của
mỗi nhà t bản công nghiệp, trong cùng một lúc, đều tồn tại dới ba hình thức: t bản
tiền tệ, t bản sản xuất, t bản hàng hoá. Trong khi một bộ phận là t bản tiền tệ đang
biến thành t bản sản xuất, thì một bộ phận khác là t bản sản xuất đang biến thành t
bản hàng hoá, và một bộ phận thứ ba là t bản hàng hoá thì lại biến thành t bản tiền
tệ.Không những từng t bản cá biệt đều nh thế, mà tất cả các t bản trong xã hội cũng
nh thế. Các t bản không ngừng vận động, không ngừng trút bỏ hình thức này đẻ
mang hình thức khác, thông qua sự vận đọng đó mà lớn lên. Không thể quan niệm t
bản nh một vật tĩnh.
Trong sự vận động liên tục của chủ nghĩa t bản mỗi hình thái của t bản đều có thể
là điểm mở đầu và điểm kết thúc của tuần hoàn tạo nên các hình thái tuần hoàn khác
nhau của t bản.
2- Chu chuyển t bản:
2.1 Chu chuyển của t bản.Thời gian chu chuyển:
Sự tuần hoàn của t bản, nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới và lặp
đi lặp lại, chứ không phải là một quá trình cô lập, riêng lẻ, thì gọi là chu chuỷên t
bản.
Thời gian chu chuyển của t bản là khoảng thời gian kể từ khi t bản ứng ra dới một
hình thức nhất định (tiền tệ, sản xuất, hàng hoá) cho đến khi nó trở về tay nhà t bản
6
n1=
cũng dới hình thức nh thế, nhng có thêm giá trị thặng d.Thời gian chu chuyển của t
bản là thớc đo thời hạn đổi mới, thời hạn lắp lại quá trình tăng thêm giá trị của t bản.
Tuần hoàn của t bản bao gồm quá trình sản xuất và quá trình lu thông, nên
thời gian chu chuyển của t bản cũng do thời gian sản xuất và thời gian lu thông cộng
lại.
Thời gian sản xuất là thời gian t bản nằm trong lĩnh vực sản xuất.Thời gian
sản xuất lại bao gồm thời gian lao động và thời gian dự trữ sản xuất.
Thời gian sản xuất=thời gian lao động + thời gian gián đoạn lao động + thời gian dự
trữ sản xuất.
Thời gian lao động là thời gian ngời lao động tác động vào đối tợng lao
động để tạo ra sản phẩm. Đây là thời gian hữu ích nhất, vì nó tạo ra giá trị cho sản
phẩm.
Thời gian gián đoạn lao động là thời gian đối tợng lao động, dới dạng bán
thành phẩm nẳm trong lĩnh vực sản xuất, nhng không có sự tác động của lao động
mà chịu sự tác động của thời gian nh thời gian để cây lúa tự lớn lên, Thời gian
gián đoạn lao động có thể xen kẽ với thời gian lao động hoặc tách ra thành một thời
kỳ riêng biệt, nó có thể dài ngắn khác nhau tuỳ thuộc vào các ngành sản xuất, các
sản phẩm chế tạo và phụ thuộc vào công nghệ sản xuất.
Thời gian dự trữ sản xuất là thời gian các yếu tố sản xuất đã đợc mua về,
sẵn sàng tham gia quá trình sản xuất,nhng cha thực sự đợc sử dụng vào quá trình sản
xuất còn ở dạng dự trữ. Sự dự trữ đó là điều kiện cho quá trình sản xuất liên tục. Quy
mô dự trữ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: đặc điểm của các ngành, tình hình của thị tr-
ờng và năng lực tổ chức, quản lý sản xuất
Cả thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất đều không tạo
ra giá trị cho sản phẩm. Sự tồn tại của các thời gian này là không tránh khỏi, nhng
thời gian của chúng càng dài, hay sự chênh lệch giữa thời gian sản xuất với thời gian
lao động càng lớn thì hiệu quả của t bản càng thấp. Rút ngắn thời gian này là yếu tố
quan trọng để nâng cao hiệu quả của t bản.
7
8 tháng
n1=
Thời gian lu thông là thời gian t bản nằm trong lĩnh vực lu thông. Thời
gian lu thông gồm thời gian mua và thời gian bán, kể cả thời gian vận chuyển.
Thời gian lu thông = thời gian mua + thời gian bán.
Thời gian lu thông phụ thuộc vao nhiều yếu tố nh :
- Tình hình thị trờng, quan hệ cung-cầu và giá cả trên thị trờng;
- Khoảng cách tới thị trờng;
- Trình độ phát triển của giao thông vận tải
Trong thời gian lu thông, t bản không làm chức năng sản xuất, nhìn chung,
không tạo ra giá trị cho sản phẩm và giá trị thặng d cho t bản.Tuy nhiên, sự tồn tại
của nó là tất yếu và có vai trò quan trọng. Vì đó là đầu vào và đầu ra của sản xuất.
Cung cấp các điều kiện cho sản xuất và thực hiện sản phẩm do sản xuất tạo ra. Rút
ngắn thời gian lu thông làm cho t bản nằm trong lĩnh vực lu thông giảm xuống, tăng
đợc lợng t bản đầu t cho sản xuất. Rút ngắn thời gian lu thông cũng làm rút ngắn
thời gian chu chuyển, làm cho quá trình sản xuất lặp lại nhanh hơn, tạo đợc nhiều
giá trị và giá trị thặng d hơn, làm tăng hiệu quả của t bản.
Do chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố nh vây, nên thời gian chu chuyển của
các t bản khác nhau(trong cùng một ngành và ở các ngành khác nhau) là rất khác
nhau. Để so sánh, cần tính tốc độ chu chuyển của t bản bằng số vòng chu chuyển
thực hiện đợc trong một khoảng thơì gian nhất định, chẳng hạn trong một năm.
Ví dụ, t bản thứ nhất có thời gian chu chuyển 6 tháng và t bản thứ 2 có thời
gian chu chuyển 8 tháng thì số vòng chu chuyển (n) trong năm của hai t bản đó là
8
12 tháng
8 tháng
=1,5 vòng/ năm
n1=
12 tháng
6 tháng
= 2 vòng/ năm
n1=
2.2. T bản cố định và t bản lu động.
T bản sản xuất gồm nhiều bộ phận với thời gian chu chuyển khác nhau, do đó
ảnh hởng tới thời gian chu chuyển của toàn bộ t bản . Căn cứ vào sự khác nhau trong
phơng thức chu chuyển về mặt giá trị của các bộ phận đó, t bản sản xuất đợc chia
thành t bản cố định và t bản lu động.
T bản cố định là bộ phận t bản đợc sử dụng toàn bộ vào quá trình sản xuất, nh-
ng giá trị của nó chỉ chuyển từng phần vào sản phẩm. Đặc điểm của t bản cố định là
về hiện vật, nó luôn luôn bị cố định trong sản xuất, chỉ có giá trị của nó là tham gia
vào quá trình lu thông cùng sản phẩm, hơn nữa nó cũng chỉ lu thông từng phần, còn
một phần vẫn bị cố định trong t liệu lao động, phần này không ngừng giảm xuống
cho tới khi nó chuyển hết giá trị vào sản phẩm. Thời gian mà t bản cố định chuyển
hết giá trị của nó vào sản phẩm bao giờ cũng dài hơn thời gian một vòng tuần hoàn.
T bản lu động là bộ phận t bản, khi tham gia vào quá trình sản xuất, nó chuyển
toàn bộ giá trị sang sản phẩm. Đó là bộ phận t bản
bất biến dới hình thái nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ Bộ phận t bản khả biến,
xét về phơng thức chu chuyển cũng giống nh bộ phận t bản bất biến lu động nói
trên, nên cũng đợc xếp vào t bản lu động.
Nh vậy, xét theo nguồng gốc tạo ra giá trị và giá trị thặng d thì t bản đợc chia
thành t bản bất biến(c) và t bản khả biến(v), còn khi xem xét về phơng thức chu
chuyển giá trị thì t bản đợc chia thành t bản cố định và t bản lu động. Căn cứ để
phân chia không phải do đặc tính tự nhiên của chúng (lâu bền hay không lâu bền, có
di chuyển hay không di chuyển đợc ) mà có sự khác nhau về phơng thức chuyển
giá trị, đợc quyêt định bởi chức năng của các bộ phận t bản trong quá trình sản xuất.
9
Trong thực tế, sự phân biệt giữa t bản cố định và t bản lu động đôi khi rất khó.
Hơn nữa, vì các mục tiêu thực tiễn, đôi khi ngời ta sử dụng các tiêu chuẩn quy ớc
khác cho việc phân chia t bản cố định và t bản lu động: quy mô t bản, thời hạn tồn
tại, chi phí sửa chữa nhỏ hay lớn, thờng xuyên hay định kỳ
Trong quá trình hoạt động, t bản cố định bị hao mòn đi. Có hai loại hao mòn
hữu hình và hao mòn vô hình. Hao mòn hữu hình là hao mòn do sử dụng hoặc do sự
phá huỷ của tự nhiên gây ra làm cho t bản mất giá trị sử dụng. Hao mòn vô hình là
hao mòn do sự tiến bộkhoa học kỹ thuật, những máy móc, thiết bị đợc sản xuất ra
với chi phí sản xuất thấp hơn và có hiệu suất lớn hơn, làm cho những t bản cố định
cũ giảm giá trị ngay khi giá trị sử dụng của nó vẫn còn nguyên vẹn hoặc mới suy
giảm một phần. Khi tính toán việc chuyển việc chuyển giá trị t bản cố định vào sản
phẩm cần tính tới cả hình thức hao mòm này, nhất là hao mòn vô hình, nhằm bảo
đảm thu hồi đợc t bản cố định đã sử dụng và góp phần rút ngắt khoảng cách lạc hậu
về các thế hệ kỹ thuật và công nghệ.
Trong quá trình hoạt động, t bản cố định còn cần đợc bảo quản, cần có các chi
phí bảo dỡng, sửa chữa, thay thế các bộ phận sử dụng một cách đúng đắn là cách
bảo dỡng tốt nhất. Ngoài ra, vẫn cần các chi phí bảo quản khác (lau chùi, vệ sinh
công nghiệp, bôi trơn). Những chi phí bảo dỡng, sửa chữa, thay thế có thể đợc thực
hiện định kỳ hay đột xuất. Tất cả các chi phí đó đợc xác định theo kinh nghiệm
chung của xã hội, đợc bổ sung vào t bản hoạt động và đợc phân bổ theo tỷ lệ vào giá
trị sản phẩm đợc chế tạo gắn vơí toàn bộ cuộc đời hoạt động của t bản cố định. Để
hạn chế sự phá huỷ của tự nhiên, tránh hao mòn vô hình, tiết kiệm các chi phí bảo
quản, sửa chữa, các nhà t bản tìm đủ mọi cách để thu hồi nhanh t bản cố định nh
nâng tỷ lệ khấu hao, kéo dài ngày làm việc, thực hiện chế độ làm việc ba ca để máy
móc hoạt động 24/24 giờ một ngày, tăng cơng độ lao động, tiết kiệm các chi phí về
bảo hộ lao động, các chi phí cải thiện vệ sinh và điều kiện nơi làm việc(hệ thống ánh
sáng, thông gió, chống ô nhiễm )
Trong chủ nghĩa t bản hiện đại, t bản cố địnhcó quy mô rất lớn. Các chi phí
bảo quản, sửa chữa, thay thế, bảo đảm điều kiện cho hoạt động cũng rất lớn, nên
việc thu hồi nhanh t bản cố định lại càng có ý nghĩa quan trọng trong cạnh tranh. Do
tác động của cách mạng khoa học và công nghệ hiện hại, t bản cố định càng có nguy
10
cơ hao mòn vô hình. Vì vậy, các nhà t bản phải tìm mọi cách để khấu hao nhanh t
bản cố định. Tỷ lệ khấu hao thơng đợc tính rất cao ngay từ những năm đầu chế tạo
sản phẩm mới, lợi dụng giá sản phẩm cao của đầu chu kỳ sản phẩm, sau đó giảm
dần khấu hao cùng với việc giảm giá sản phẩmcuối chu khỳ của nó. Quy mô sản l-
ợng ban đầu càng lớn, càng có lợi cho việc thu hồi t bản cố định. Những yêu cầu đó
không phải khi nào cũng thực hiện dễ dàng. Bởi vậy, các nhà t bản, một mặt, phát
triển hệ thống tự đông hoá linh hoạt, cùng với những máy móc thiết bị nhất định có
thể chế tạo đợc nhiều dạng sản phẩn, thậm chí có thể sản xuất những sản phẩm cá
biệt theo các đơn đặt hàng khác nhau; mặt khác, phát triển hệ thống doanh nghiệp
vừa nhỏ đẻ dễ dàng đổi mới t bản cố định trong điều kiện cách mạng công nghệ hiện
đại và cạnh tranh gay gắt. Đồng thời, cvác nhà t bản vẫn tiếp tục sử dụng những biện
pháp cổ điển nh tăng cờng độ lao động, tổ chức lao động theo ca kíp, tiết kiệm lao
động của ngời công dân.
3. ý nghĩa của việc rút ngắn thời gian chu chuyển của t bản
tăng tốc độ chu chuyển của t bản hay rút ngắn thời gian chu chuyển của t bản
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng hiệu quả hoạt động của t bản.
Trớc hết, tăng tốc độ chu chuyển của t bản cố định sẽ tiết kiệm đợc chi phí bảo
quản, sửa chữa t bản cố định trong quá trình hoạt động, tránh đợc hao mòn hữu hình
và hao mòn vô hình, cho phép đổi mới nhanh máy móc, thiết bị, có thể sở dụng quỹ
khấu hao làm quỹ dự trữ sản xuất để mở rộng sản xuất mà không cần có t bản phụ
thêm. (Hiện nay, trong nhiều trờng hợp, máy móc, thiết bị ở các nớc t bản phát triển
đã đợc khấu hao hết, nhng vẫn còn đợc bán cho nớc ngoài dới các hình thức liên
doanh, chuyển giao công nghệ cho các nớc kém phát triển).
Đối với t bản lu động, việc tăng tốc độ chu chuyển hay rút ngắn thời gian chu
chuyển sẽ cho phép tiết kiệm đợc t bản ứng trớc khi quy mô sản xuất nh cũ hay có
thể mở rộng sản xuất mà không cần có t bản phụ thêm. thí dụ, một t bản có thời gian
chu chuyển 9 tuần gồm 5 tuần sản xuất và 4 tuần lu thông. Quy mô sản xuất đòi hỏi
một lợng t bản cho 5 tuần sản xuất là 100 x 5 =500. Nhng, sau đó sản phẩm làm ra
phải qua 4 tuần lu thông. Do vậy, để sản xuất liên tục cần một lợng t bản để lu động
khác cho 4 tuần này là 100 x 4 = 400, tổng cọng là 900. Nếu do những nguyên nhân
11
nào đó, thời gian chu chuyển rút ngắn lại còn 8 tuần (rút ngắn 1 tuần sản xuất hay 1
tuần lu thông) với quy mô sản xuất không đổi thì t bản lu động cần thiết cho sản
xuất liên tục chỉ là 100 x 8 =800, chứ không phải là 900, tiết kiệm dợc 100 t bản ứng
trớc. Giả dụ, t bản lu động sử dụng vẫn là 900 thì quy mô sản xuất sẽ đợc mở rộng,
t bản lu động sử dụng một tuần sẽ là 900:8 = 112,5 chứ không phải là 100, mà
không cần có t bản phụ thêm.
Chính cì thế, khi mới bắt đầu kinh doanh, thực lợng kinh còn yếu, t bản thờng
đợc đầu t vào những nghành có thời gian chu chuyển ngắn nh công nghiệp nhẹ, công
nghiệp thực phẩm Chỉ khi đã trởng thành, có vốn lớn thì t bản mới đầu t vào
những nghành có chu kỳ kinh doanh dài nh công nghiệp nặng. Còn viễcây dựng kết
cấu hạ tầng(đờng sá, cầu cống ) thờng là lĩnh vực đầu t của nhà nớc.
Cuối cùng, đối với t bản khả biến, việc tăng tốc độ chu chuyển có ảnh hởng
trực tiếp tới việc làm tăng thêm tỷ suất giá trị thặng d và khối lợng giá trị thặng d
hàng năm vì đã thu hút đợc nhiều lao động sống hơn, nhờ đó mà tạo ra đợc nhiều giá
trị mới trong đó có giá trị thặng d. Và vì vậy, việc lựa chọn ngành có thời gian chu
chuyển ngắn hơn và tìm cách rút ngắn thời gian của một vòng chu chuyển là một
trong những biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp.
Thí dụ, có hai t bản A và B, đều có lợng t bản khả biến cho mỗi tuần sản xuất
là 100, đều có tỷ suất giá trị thặng d m =100%, chỉ khác nhau ở thời gian chu
chuyển, t bản A là 5 tuần(nghành dệt) còn t bản B là 50 tuần (nghành đóng tàu). Để
sản xuất liên tục, t bản A cần một lợng t bản khả biến ứng trớc là 100 x 50 = 500.
Cùng với m=100, sau 5 tuần, t bản A tạo ra một giá trị thặng d là 5x100=500 và sau
50 tuần(1năm) tạo ra một giá trị thặng d là 100x50=5000(hay 500x10vòng=5000),
nhng luôn luôn chỉ cần một lợng t bản khả biến ứng trớc là 500; còn t bản B, sau 50
tuần (1năm) cũng tạo ra một giá trị thặng d là 100x50=5000 nhng cần một lợng t
bản khả biến ứng trớc là 5000.
Chúng ta gọi tỷ giá thặng d hằng năm(M) là tỷ lệ tính bằng phần trăm giữa
khối lợng giá trị thặng d hàng năm (M) với t bản khả biến ứng trớc (V)
12
mxn
Trong đó: - m là giá trị thặng d tạo ra trong một vòng chu chuyển
- m/v là tỷ suất giá trị thặng dthực tế.
- n là số vòng chu chuyển trong năm.
ở t bản A, tỷ suất giá trị thặng d hàng năm là:
5000
M
= x 100%= 1000% (100%x10 vòng)
500
ở t bản B, tỷ suất giá trị thặng d hàng năm là:
5000
M
= x100%= 100%(100%x1 vòng)
5000
Nh vậy, mặc dù có tỷ sất giá trị thặng d (m
) phản ánh trình độ bóc lột ở hai t bản
A và B nh nhau, nhng tỷ suất giá trị thặng d hàng năm (M
) phản ánh hiệu quả hoạt
động của hai t bản đó lại khác nhau. Bởi vậy, việc lựa chọn ngành có thời gian chu
chuyển ngắn hơn và tìm mọi cách rút ngắn thời gian của một vòng chu chuyển là
một trong những biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh
nghiệp
Điều đó gây ảo tởng cho rằng, lu thông cũng tạo ra giá trị thặng d cho t bản.
Song thực tế không phải nh vậy. Sở dĩ chu chuyển nhanh có thể đem lại cho nhà t
bản nhiều giá trị thặng d hơn là vì đã thu hút đợc nhiều lao động sống hơn, nờ đó
mà tạo ra đợc nhiều giá trị mới trong đó có giá trị thặng d.
13
M =
M
V
X 100% =
V
X 100%=m.n
II-Vận dụng ở Việt Nam
1-Đặc điểm Việt Nam khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng:
Chuyển đôỉ nền kinh tế vậh hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà
nớc là bớc ngoặt quan trọng làm thay đổi đời sống kinh tế xã hội đất nớc. Sự thành
công hay không của quá trình chuyển đổi quyết định sự thắng lợi hay không của sự
nghiệp đổi mới.
Quá trình đổi mới những năm qua của nớc ta cho thấy rằng việc chuyển nền
kinh tế nớc ta vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc là phù hợp
với xu hớng phát triển tất yếu khách quan của nền kinh tế, phù hợp với xu hớng
quốc tế hoá đời sống kinh tế.
Thực tế hơn mời năm qua, từ Đại hội Đảng VI (1986), kinh tế Việt Nam đã
vợt qua những thăng trầm của những thập niên khủng hoảng, bớc vào thời kỳ phát
triển ổn định và tăng trơng cao, tạo ra những tiền đề rất quan trọng đẻ bớc vào thời
kỳ CNH.
Bức tranh kinh tế chung của Việt Nam trớc đổi mới là tăng trởng thấp
3,7%/năm, kinh tế tự cấp tự túc làm không đủ ăn dựa vào nguồn viện trợ bên ngoài
là chủ yếu, các doanh nghiệp sản xuất theo lệnh từ cấp trên đa xuống, sản phẩm làm
ra do chính Nhà nớc tìm cách tiêu thụ. Thu nhập quốc dân trong nớc, sản xuất chỉ
đáp ứng đợc 80-90% thu nhập quốc dân sử dụng. Đến năm 1985 tỷ trọng thu từ các
nguồn viện trợ, cho vay từ bên ngoài chiếm 10,2% thu nhập quốc dân sử dụng.Nợ n-
ớc ngoài chồng chất, bội chi ngân sách rất lớn và tăng dần:18,1%
( 1980);36,6%(1985), buộc nhà nớc phải phát hành tiền để bù đắp. Cũng trong
những năm đó, nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, siêu lạm
phát ở mức 774,7%(1986) kéo theo giá cả leo thang và vô phơng kiểm soát.
Vậy mà từ năm 1986, với đờng lối đổi mới đúng đắncủa Đảng, các cơn sốt
do hậu quả của cơ chế quan liêu, tập trung bao cấp dần dà vơi đi kéo theo sự ra đi
của nguyên nhân khủng hoảng và suy thoái kinh tế. Kinh tế đã từng bớc khôi phục,
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét