Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Mở rộng hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà nội.doc

Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Hoạt động dịch vụ và thanh toán ngân quỹ: Ngân hàng cung cấp các dịch
vụ thanh toán thông qua hệ thống tài khoản của mình, hoạt động này không
chỉ tạo cho ngân hàng những nguồn vốn mới mà còn là nguồn thu nhập thông
qua thu phí đối với các dịch vụ thanh toán góp phần gia tăng lợi nhuận và
phát triển toàn dịên các hoạt động của ngân hàng. Cụ thể bao gồm các hoạt
động: cung cấp các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán
trong và ngoài nước cho khách hàng, thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ,
thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng, tổ chức hệ thống thanh
toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước, tham
gia vào hệ thống thanh toán quốc tế.
Các hoạt động khác: Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền
gửi, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán, ngân quỹ. Ngân hàng
thương mại còn thực hiện một số hoạt động khác như: góp vốn và mua cổ
phần, kinh doanh ngoại hối, tham gia vào thị trường tiền tệ, ủy thác và nhận
ủy thác, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính và bảo quản vật quý giá.
Bảo lãnh là một hoạt động trung gian của ngân hàng, ra đời do đòi hỏi
khách quan của nền kinh tế và ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong
nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong các giao dịch thương mại quốc tế. Nền
kinh tế thế giới ngày càng phát triển, các hợp đồng có giá trị lớn xuất hiện
ngày càng nhiều, bảo lãnh ngân hàng trở nên cần thiết và rất được chú trọng
phát triển.
1.2 Hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng thương mại
Bảo lãnh là một nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, nó chỉ mới xuất hiện ở
Mỹ vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20, vào thời điểm này bảo lãnh như là một
dạng của thư tín dụng dự phòng. Từ thập kỷ 70 trở đi, phạm vi áp dụng và
doanh số thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đã ngày càng tăng, bảo lãnh không chỉ
áp dụng đối với các hợp đồng quốc tế mà còn cả với hợp đồng ký kết trong
SV: Trịnh Thị Xuân Lớp: Ngân hàng 45B
5
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
nước; không những hoạt động thương mại mà còn trong các giao dịch tài
chính, thuê mua và liên doanh. Vì đây là thời điểm kinh tế của các nước
Trung Đông phát triển rất mạnh mẽ do ký kết được các hợp đồng lớn về xuất
khẩu dầu mỏ. Các hợp đồng này lớn cả về số và chất lượng mang lại nguồn
thu nhập khổng lồ cho các nước này tuy nhiên rủi ro tiềm ẩn cũng không phải
là nhỏ. Như vậy để hạn chế rủi ro sảy ra, những người xuất khẩu dầu mỏ yêu
cầu có sự đảm bảo cho các hợp đồng được diễn ra an toàn nhanh chóng, đảm
bảo cho việc thanh toán của bên đối tác. Bên cạnh đó để đảm bảo số lượng
cũng như chất lượng, người nhập khẩu yêu cầu có sự cam kết của bên thứ ba
về việc nhà xuất khẩu sẽ thực hiện đúng hợp đồng. Những bảo lãnh độc lập
do ngân hàng của các nước phương Tây đã đáp ứng được yêu cầu về sự an
toàn và tiện lợi của những người nhập khâủ cũng như xuất khẩu.
Tại Việt nam, trong thời kỳ hệ thống ngân hàng việt nam còn là hệ thống
một cấp, nghiệp vụ bảo lãnh chủ yếu được thực hiện thông qua Ngân hàng
Ngoại thương- đơn vị nhà nước được giao nhiệm vụ tín dụng và thanh toán
quốc tế. Nghiệp vụ bảo lãnh hình thành chủ yếu bằng các hình thức như mở
thư tín dụng nhập hàng trả chậm, ký bảo lãnh trên các hối phiếu, trong giai
đoạn này chưa có một văn bản pháp lý nào điều chỉnh và hướng dẫn nghiệp
vụ bảo lãnh. Nhưng đến cuối thập kỷ 80, bảo lãnh ngân hàng được áp dụng
rộng rãi, khi nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
sang nền kinh tế thị trường có định hướng của Nhà nước, khi hệ thống ngân
hàng bắt đầu đổi mới bằng việc hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp thì nhu
cầu vốn của các doanh nghiệp quốc doanh tại ngân hàng tăng cao song do các
doanh nghiệp này không có tài sản đảm bảo nên phải áp dụng bảo lãnh của
bên thứ ba. Ở thời điểm này bảo lãnh ngân hàng thường căn cứ vào ý kiến chỉ
đạo của các cấp lãnh đạo, cơ quan bảo lãnh trong nhiều trường hợp là các bộ,
ngành với điều kiện bảo lãnh không chặt chẽ, thiếu thống nhất dẫn đến nhiều
SV: Trịnh Thị Xuân Lớp: Ngân hàng 45B
6
Ngân hàng
(Bên bảo lãnh)
Người thứ ba
(Bên hưởng bảo lãnh)
Khách hàng
(Bên được bảo lãnh)
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
khoản vay đến hạn không trả được, ngân hàng buộc phải trả thay. Từ năm
1993, bảo lãnh mới thực sự hoạt động với chức năng của mình đồng thời ngày
càng được chú trọng và phát triển cùng với sự ra đời của một hệ thống các
văn bản pháp quy, hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo lãnh.
Ngày nay, bảo lãnh trở thành nghiệp vụ chủ yếu của các ngân hàng tại
nhiều nước trên thế giới. Trong xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa, chu
chuyển vốn và giao lưu thương mại quốc tế ngày càng gia tăng với tốc độ
nhanh chóng, nghiệp vụ bảo lãnh được các ngân hàng chú trọng hoàn thiện và
phát triển, nhất là trong điều kiện mua bán chịu trong giao dịch thương mại
ngày càng phổ biến tạo điều kiện cho việc tiết kiệm vốn giữa bên bán và bên
mua hàng.
1.2.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng
Theo điều 20 của Luật các Tổ chức tín dụng có định nghĩa về bảo lãnh
ngân hàng như sau: “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức
tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải
nhận nợ và hoàn trả cho các tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay”.
Bảo lãnh ngân hàng là một thuật ngữ thông dụng trong các giao dịch kinh
tế trong thời gian gần đây, bảo lãnh ngân hàng có thể hiểu đơn giản là một
hợp đồng giữa một bên là ngân hàng bảo lãnh và một bên là người thụ hưởng,
trong đó bên bảo lãnh sẽ cam kết bồi hoàn một khoản tiền nhất định cho
người thụ hưởng trong trường hợp người được bảo lãnh vi phạm những nghĩa
vụ đối với người thụ hưởng và đã được quy định trong cam kết bảo lãnh.
Như vậy nếu xét theo các hình thức tín dụng của ngân hàng thì bảo lãnh
như là một hình thức tín dụng đặc biệt hay “ tín dụng chữ ký”, là hình thức tín
dụng gián tiếp. Trong đó ngân hàng không trực tiếp cho vay bằng tiền mà
bằng uy tín của mình, ngân hàng tạo điều kiện cho khách hàng của mình có
SV: Trịnh Thị Xuân Lớp: Ngân hàng 45B
7
Ngân hàng
(Bên bảo lãnh)
Người thứ ba
(Bên hưởng bảo lãnh)
Khách hàng
(Bên được bảo lãnh)
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
thể sử dụng vốn của người khác và đảm bảo khả năng thanh toán của khách
hàng. Tuy cùng là một hình thức tín dụng nhưng khi hạch toán, bảo lãnh được
xếp vào tài sản ngoại bảng.
Bảo lãnh ngân hàng thường có ba bên tham gia: bên bảo lãnh, bên hưởng
bảo lãnh và bên được bảo lãnh, trong đó:
Bên bảo lãnh: là bên đứng ra phát hành thư bảo lãnh và có nghĩa vụ thanh
toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên này yêu cầu, phải xuất trình đầy đủ giấy
tờ và hợp lệ với những điều khoản đã ký trong thư bảo lãnh. Bảo lãnh ngân
hàng chính là việc ngân hàng đứng ra bảo lãnh hay ngân hàng là bên bảo lãnh.
Bên hưởng bảo lãnh: Là bên được hưởng bồi thường theo các quy định
trong thư bảo lãnh khi có sự vi phạm hợp đồng với điều kiện bên hưởng bảo
lãnh phải xuất trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với các điều khoản được
quy định trong thư bảo lãnh.
Bên được bảo lãnh: là bên yêu cầu ngân hàng mở thư bảo lãnh. Trong
trường hợp có sự vi phạm hợp đồng, ngân hàng phải trả thay thì bên được bảo
lãnh phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng.
1.2.2 Đặc điểm của bảo lãnh
1.2.2.1 Mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau
Đặc điểm này đựơc thể hiện ngay trong khái niệm về bảo lãnh ngân hàng,
trong đó quan hệ bảo lãnh phải có ít nhất ba bên: bên hưởng bảo lãnh, bên được
bảo lãnh và bên bảo lãnh tương ứng với nó là ba loại hợp đồng bảo lãnh:
(2) (3)

(1)
SV: Trịnh Thị Xuân Lớp: Ngân hàng 45B
8
Ngân hàng
(Bên bảo lãnh)
Người thứ ba
(Bên hưởng bảo lãnh)
Khách hàng
(Bên được bảo lãnh)
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
 (1) Hợp đồng cung cấp hàng hóa dịch vụ: đây là hợp đồng ký kết giữa
bên hưởng bảo lãnh và bên được bảo lãnh.
 (2) Hợp đồng bảo lãnh: bên được bảo lãnh.yêu cầu ngân hàng đứng ra
bảo lãnh cho mình
 (3) Cam kết bảo lãnh: là cam kết đơn phương bằng văn bản của tổ
chức tín dụng hoặc văn bản thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng, khách hàng
được bảo lãnh với bên hưởng bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng
nghĩa vụ đã cam kết với bên hưởng bảo lãnh.
1.2.2.2 Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập
Tính độc lập là một đặc điểm quan trọng trong bảo lãnh ngân hàng, chính
là sự độc lập về mặt pháp lý giữa hai mối quan hệ là ngân hàng với bên đựơc
bảo lãnh và ngân hàng với bên thụ hưởng hay cũng chính là sự độc lập giữa
hợp đồng bảo lãnh và hợp đồng cơ sở.
Thư bảo lãnh thể hiện mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh
với người thụ hưởng, trong đó ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính
thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với người thụ hưởng. Như vậy mục đích của bảo
lãnh là một cam kết đảm bảo cho giao dịch được thực hiện, nội dung của thư
bảo lãnh không liên quan đến nội dung hợp đồng giữa bên bảo lãnh và bên
hưởng bảo lãnh.
Tính độc lập của bảo lãnh còn đựơc thể hiện trong trách nhiệm thanh toán
của ngân hàng phát hành bảo lãnh. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với
quan hệ giữa ngân hàng phát hành và bên được bảo lãnh. Việc thanh toán bảo
lãnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào quyền kháng nghị phát sinh trong hợp đồng
chính. Nếu trong cam kết bảo lãnh có tham chiếu đến hợp đồng chính thì việc
tham chiếu này cũng chỉ mang tính hình thức và xem xét bề mặt bên ngoài.
SV: Trịnh Thị Xuân Lớp: Ngân hàng 45B
9
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Khi các điều kiện bảo lãnh được tuân thủ, ngân hàng sẽ phải thanh toán mà
không thể viện lý do để từ chối hay trì hoãn. Nhưng mặt khác, ngân hàng có
quyền đòi tiền người được bảo lãnh về số tiền đã thanh toán cho người nhận
bảo lãnh theo hợp đồng bảo lãnh mà không phụ thuộc vào hợp đồng cơ sở.
Tuy nhiên sự độc lập của bảo lãnh cũng chỉ mang tính tương đối vì còn
phụ thuộc vào chính những điều kiện của bảo lãnh. Nếu cam kết bảo lãnh quy
định việc thanh toán là theo văn bản yêu cầu của người hưởng bảo lãnh thì
người hưởng bảo lãnh có quyền yêu cầu thanh toán mà không nhất thiết phải
chứng minh sự vi phạm của người được bảo lãnh. Ngược lại, nếu cam kết bảo
lãnh yêu cầu phải kèm theo chứng từ thì buộc người hưởng bảo lãnh phải
mang đầy đủ bộ chứng từ theo quy định đến ngân hàng thì mới nhận được
khoản thanh toán.
1.2.2.3 Tính phù hợp của bảo lãnh
Khi bên được bảo lãnh không thực hiện đúng hợp đồng thì bên hưởng
bảo lãnh có quyền đòi ngân hàng thanh toán cho mình. Nhưng trước khi thanh
toán, ngân hàng cần kiểm tra, đối chiếu xem chứng từ mà người hưởng bảo
lãnh đưa ra có hợp lệ và phù hợp với cam kết bảo lãnh hay không. Ngân hàng
chỉ thực hiện thanh toán nếu các điều kiện đưa ra được đảm bảo, ngân hàng có
quyền từ chối trong trường hợp chứng từ không hợp lệ, nếu ngân hàng vẫn nhất
quyết thanh toán thì sẽ không nhận được khoản bồi hoàn từ bên được bảo lãnh.
1.2.2.4 Bảo lãnh vừa là hoạt động ngoại bảng, vừa là hoạt động nội bảng
Bảo lãnh là hình thức tài trợ thông qua uy tín, khi ngân hàng đứng ra bảo
lãnh thì ngân hàng không phải xuất tiền ngay nên bảo lãnh được xếp vào hoạt
động ngoại bảng. Chỉ khi bên được bảo lãnh không thực hiện đúng cam kết và
ngân hàng phải đứng ra chi trả thay cho bên được bảo lãnh thì lúc này bảo
lãnh sẽ được xếp vào hoạt động nội bảng và trở thành tài sản xấu hình thành
nên nợ quá hạn.
SV: Trịnh Thị Xuân Lớp: Ngân hàng 45B
10
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
1.2.3 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng
1.2.3.1 Đối với ngân hàng
Bảo lãnh làm đa dạng hóa các sản phẩm của ngân hàng, giúp ngân hàng
thỏa mãn được các yêu cầu tổng hợp cũng như có tính đặc thù cao, góp phần
nâng cao uy tín và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa ngân hàng và khách
hàng. Uy tín được nâng cao làm hoạt động của ngân hàng cũng trở nên thuận
lợi hơn. Hay nói cách khác, bảo lãnh gián tiếp thúc đẩy hoạt động kinh doanh
của ngân hàng.
Dịch vụ bảo lãnh góp phần tăng doanh thu của ngân hàng qua việc thu
phí bảo lãnh mà khách hàng (bên được bảo lãnh) phải trả cho ngân hàng trong
việc ngân hàng đã dùng uy tín để đảm bảo cho việc thực hiện các giao dịch.
Nguồn thu này chiếm tỷ trọng khá lớn trong thu từ dịch vụ của các ngân hàng
thương mại và có xu hướng ngày càng tăng.
Bảo lãnh là hình thức tài trợ thông qua uy tín, khi thực hiện bảo lãnh thì
ngân hàng chưa cần sử dụng vốn ngay, chưa cần phải chi trả cho khoản chi
phí huy động vốn nên không bỏ mất cơ hội kinh doanh khác. Mặt khác, khi
muốn bảo lãnh thì khách hàng phải ký quỹ theo một tỷ lệ nào đó, tùy vào từng
đối tượng khách hàng khác nhau có mức quy định tỷ lệ khác nhau. Số tiền này
sẽ được phong tỏa tại ngân hàng trong suốt thời gian bảo lãnh, đối với ngân
hàng đây là nguồn vốn không phải trả lãi mà rất ổn định, ngân hàng có thể
dùng số tiền này vào mục đích sinh lời khác mà vẫn đảm bảo tính an toàn
trong bảo lãnh.
Việc chấp nhận bảo lãnh của một ngân hàng đồng nghĩa với việc chấp
nhận mức độ uy tín và khả năng thanh toán của ngân hàng đó, thông thường
các ngân hàng có uy tín tốt sẽ trở thành đối tượng chọn lựa của khách hàng.
SV: Trịnh Thị Xuân Lớp: Ngân hàng 45B
11
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Qua hoạt động bảo lãnh góp phần làm tăng vị thế của ngân hàng và giúp mở
rộng quan hệ đại lý nhất là trên thị trường quốc tế.
1.2.3.2 Đối với doanh nghiệp
- Bên hưởng bảo lãnh: Tham gia nghiệp vụ bảo lãnh, người hưởng bảo
lãnh sẽ yên tâm hơn khi ký kết và thực hiện các hợp đồng. Trong trường hợp
đối tác không thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng gây ra tổn thất, thì
bên hưởng bảo lãnh chỉ cần xuất trình đầy đủ các chứng từ cần thiết chứng tỏ
sự vi phạm lúc đó họ sẽ nhận được khoản bồi thường từ ngân hàng. Như vậy
rủi ro của bên hưởng bảo lãnh được giảm thiểu tới mức thấp nhất nên họ sẽ
yên tâm hơn khi thực hiện hợp đồng và không bị bỏ lỡ mất cơ hội kinh doanh.
- Bên được bảo lãnh:
Bảo lãnh ngân hàng có ý nghĩa rất lớn đối với bên được bảo lãnh. Bảo
lãnh ngân hàng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có đủ tư cách tham gia
đấu thầu, thực hiện các giao dịch và ký kết hợp đồng khi doanh nghiệp có đủ
phương tiện và khả năng thực hiện hợp đồng nhưng chưa đủ uy tín với bên
đối tác. Khi ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho doanh nghiệp, doanh nghiệp có
thể tiết kiệm được một khoản vốn đáng kể đồng thời có thêm nguồn vốn đáp
ứng nhu cầu sản xuất và mở rộng kinh doanh của mình. Mặt khác, khi tiến
hành bảo lãnh, doanh nghiệp phải chịu sự giám sát chặt chẽ của ngân hàng qua đó
giúp doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích và làm ăn có hiệu quả hơn.
1.2.3.3 Đối với nền kinh tế
Bảo lãnh ngân hàng tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ thương mại quốc
tế vì hoạt động thương mại quốc tế là hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro.
Thông qua hoạt động bảo lãnh, các bên đối tác sẽ cảm thấy an toàn hơn, qua
đó giúp họ yên tâm hơn trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng tạo động lực
thúc đẩy quan hệ thương mại phát triển.
SV: Trịnh Thị Xuân Lớp: Ngân hàng 45B
12
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Bảo lãnh ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế để phát triển và
mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngoài ra việc sử dụng đòn bẩy bảo lãnh, phí
bảo lãnh để hướng nghiệp vụ bảo lãnh phục vụ cho một số lĩnh vực kinh tế
nhất định góp phần tích cực vào việc thực hiện các chương trình quốc gia,
thúc đẩy sự phát triển của một số ngành kinh tế mũi nhọn.
Bảo lãnh ngân hàng góp phần vào việc thực hiện cơ cấu lại các ngành kinh
tế bằng việc áp dụng chính sách đãi đối với các ngành kinh tế trọng điểm, trái lại
thực hiện các điều kiện bảo lãnh khắt khe với các ngành cần hạn chế.
Như vậy, bảo lãnh không chỉ có vai trò quan trọng với các ngân hàng
thương mại, các chủ thể tham gia bảo lãnh, mà nó cũng là một trong những
nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế của quốc gia. Vì thế mục tiêu phát
triển và mở rộng hoạt động bảo lãnh là mục tiêu chiến lược của tất cả các
ngân hàng thương mại.
1.2.4 Phân loại bảo lãnh
Có rất nhiều loại bảo lãnh đựơc áp dụng rộng rãi hiện nay nhưng tùy
theo các tiêu thức khác nhau mà người ta có thể chia bảo lãnh ngân hàng
thành các loại như sau:
1.2.4.1 Theo mục đích bảo lãnh
Bảo lãnh vay vốn: là một loại bảo lãnh của ngân hàng do ngân hàng
phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng
trong trường hợp khách hàng không trả nợ đầy đủ, đúng hạn. Bảo lãnh vay
vốn bao gồm: bảo lãnh vay vốn trong nước và bảo lãnh vay vốn nước ngoài,
trong đó bảo lãnh nay vốn nước ngoài chủ yếu dưới hình thức bảo lãnh mở
L/C trả chậm.
Bảo lãnh vay vốn là hình thức bảo lãnh phổ biến hiện nay, bảo lãnh này
được áp dụng với các khoản vay có quy mô lớn, thời gian dài và vay của
người nước ngoài. Nhưng lại rất phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro xảy ra nên
SV: Trịnh Thị Xuân Lớp: Ngân hàng 45B
13
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
đòi hỏi ngân hàng khi thực hiện bảo lãnh phải rất thận trọng với loại bảo lãnh
này, do đó giá trị bảo lãnh vay vốn thường là 100% giá trị hợp đồng gốc.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng
phát hành cho bên được bảo lãnh đảm bảo việc thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa
vụ của khách hàng với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết. Trong
trường hợp khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trong hợp
đồng, tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng có thể áp dụng cho cả hai bên (bên bán và
bên mua) và thường được đi kèm với một bảo lãnh hoặc phương thức thanh
toán khác. Trong một giao dịch thương mại, ngân hàng phục vụ người bán
phát hành bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho người mua để bảo đảm việc giao
hàng của người bán không bị chậm trễ hoặc thiếu hụt. Ngược lại, ngân hàng
phục vụ người mua phải mở một thư tín dụng bảo đảm việc thanh toán tiền
hàng cho người bán.
Bảo lãnh này được sử dụng để thay thế cho yêu cầu ký quỹ mà người đặt
hàng đề nghị với người cung ứng nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ khi có sự
vi phạm hợp đồng. Qua đó giúp người mua không bị ứ đọng vốn hay bỏ mất
cơ hội kinh doanh do phải ký quỹ. Giá trị bảo lãnh thường thấp, khoảng từ 5%
đến 10% giá trị hợp đồng nên loại bảo lãnh này thường ít rủi ro hơn so với các
loại bảo lãnh khác và đây là loại bảo lãnh phổ biến nhất tại các ngân hàng
thương mại hiện nay. Thời hạn bảo lãnh thường gắn liền với giá trị của hợp
đồng cơ sở và có thể kéo dài để bảo hành cho việc lắp đặt và bảo hành thiết bị
theo sự thỏa thuận của các bên.
Bảo lãnh dự thầu
Đối với những hợp đồng lớn, đặc biệt là các hợp đồng xây dựng, thiết kế
và cung ứng thiết bị thì chủ công trình thường lựa chọn đối tác thông qua đấu
SV: Trịnh Thị Xuân Lớp: Ngân hàng 45B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét