Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Giảm giá hàng bán: phản ánh khoản giảm trừ do việc chấp thuận
giảm giá ngoài hoá đơn (tức là sau khi đã có hoá đơn bán hàng), đó là số
tiền mà doanh nghiệp chấp thuận giảm giá cho khách hàng do các nguyên
nhân nh: hàng kém phẩm chất, hàng không đúng quy cách
Trị giá hàng bán bị trả lại: phản ánh doanh thu của số hàng hoá,
dịch vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do không phù hợp với nhu cầu của
ngời mua, do vi phạm HĐKT, hàng kém phẩm chất, không đúng chủng
loại, quy cách.
Thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế xuất nhập khẩu phải nộp.
DTTT sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đốii với mỗi doanh nghiệp, quy mô
của DTTT ảnh hởng đến tình hình tài chính của mỗi doanh nghiệp, nó là biểu
hiện của kết quả tiêu thụ sản phẩm, phản ánh quy mô tái sản xuất. Đồng thời,
thông qua DTTT sản phẩm để thấy đợc trình độ tổ chức SXKD, tổ chức thanh
toán của doanh nghiệp. Chính vì vậy, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tăng DTTT
sản phẩm luôn là mục tiêu mà các doanh nghiệp hớng tới.
1.1.3. ý nghiã của tiêu thụ sản phẩm và doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trờng, nhiệm vụ của một doanh nghiệp nói chung
và doanh nghiệp sản xuất nói riêng không chỉ có nhiệm vụ sản xuất mà còn
phải tổ chức tiêu thụ sản phẩm đó. Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp
phải đảm bảo về vốn và tự chủ trong SXKD. Với điều kiện đó, việc thực hiện
tốt tiêu thụ sản phẩm, có đợc DTTT sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng,
không chỉ đối với bản thân doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa to lớn đối với xã
hội.
Đối với doanh nghiệp, vấn đề tiêu thụ sản phẩm và có đợc doanh thu có ý
nghĩa rất lớn, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
- Khi thực hiện hoàn thành tiêu thụ sản phẩm chứng tỏ sản phẩm mà
doanh nghiệp sản xuất ra đợc thị trờng chấp nhận về số lợng, chủng loại, quy
cách, mẫu mã và giá cả. Đây là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất
mở rộng. Nếu sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ đợc sẽ gây khó khăn cho
doanh nghiệp cả về vốn và chi phí, đó là tình trạng ứ đọng vốn do lợng tồn
kho lớn và chi phí bảo quản lớn, làm hiệu quả sử dụng vốn giảm. Nếu tình
trạng này kéo dài sẽ là một cản trở lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp,
sản xuất bị ngừng trệ, thậm chí có thể dẫn đến nguy cơ phá sản.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Bên cạnh đó, sản phẩm tiêu thụ đợc nghĩa là doanh nghiệp sẽ thu đợc
một khoản tiền đó là DTTT. Đây là nguồn quan trọng để thực hiện phân phối
tài chính trong doanh nghiệp. Chỉ khi có DTTT doanh nghiệp mới có thể trang
trải đợc các khoản chi phí, thu hồi số vốn đã ứng ra để tiến hành SXKD, thực
hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nớc và có đợc DTTT cũng là điều kiện để
có đợc lợi nhuận mong muốn, từ đó tạo điều kiện để doanh nghiệp tiến hành
trích lập đầy đủ các quỹ, tăng quy mô vốn chủ sở hữu, tăng cờng đầu t chiều
sâu, mở rộng quy mô SXKD
- Ngoài ra, thực hiện đợc tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng và đầy đủ sẽ
góp phần thúc đẩy tăng tốc độ chu chuyển vốn lu động, rút ngắn chu kỳ sản
xuất, tạo điều kiện cho quá trình sản xuấtt tiếp theo. Tình hình thực hiện chỉ
tiêu DTTT có ảnh hởng rất lớn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Khi
sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra không tiêu thụ đợc nghĩa là không có
DTTT trong kỳ sẽ khiến cho doanh nghiệp không thu hồi đợc vốn, khả năng
thanh toán yếu và khả năng cạnh tranh trên thị trờng sẽ bị giảm sút.
Đối với toàn bộ nền kinh tế, tiêu thụ sản phẩm và thực hiện DTTT sản
phẩm cũng có ý nghĩa to lớn với toàn bộ nền kinh tế. Trớc hết, thông qua việc
tiêu thụ sản phẩm sẽ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, giữ vững đợc quan
hệ cân đối giữa cung và cầu về sản phẩm, hàng hoá, giữa tiền và hàng. Đồng
thời, thông qua tình hình tiêu thụ có thể đánh giá đợc nhu cầu và trình độ phát
triển của xã hội, dự đoán đợc nhu cầu trong tơng lai để từ đó có chính sách
phù hợp đảm bảo sự cân đối trong từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền
kinh tế quốc dân. Và điều quan trọng là thực hiện đợc tiêu thụ sản phẩm sẽ tạo
đợc doanh thu và là điều kiện để thực hiện lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp,
đó cũng là điều kiện tạo nên sự tăng trởng của toàn bộ nền kinh tế.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hởng đến tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá và doanh thu
tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá.
Tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá là khâu quyết định trong hoạt động sản xuất
kinh doang của mỗi doanh nghiệp, nó đóng vai trò quan trọng không chỉ đối
với doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Song
đây cũng là một hoạt động phức tạp, chịu ảnh hởng của rất nhiều nhân tố, cả
nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Đó là:
1.1.4.1. Các nhân tố chủ quan:
Khối lợng sản phẩm, hàng hoá đa ra tiêu thụ:
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Khối lợng sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ là một trong những nhân tố có
ảnh hởng trực tiếp và mang tính quyết định đối với công tác tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp, nó phản ánh trực tiếp kết quả tiêu thụ. Khối lợng sản phẩm
hàng hoá càng nhiều thì khả năng thu đợc doanh thu càng lớn, song để biến
khả năng đó thành hiện thực thì khối lợng hàng hoá đó phải phù hợp với nhu
cầu thị trờng và đợc thị trờng chấp nhận. Nếu khối lợng sản phẩm đa ra quá
lớn, vợt qua nhu cầu thị trờng thì dù sản phẩm đó có chất lợng tốt, giá cả hợp
lý và hình thức hấp dẫn ngời tiêu dùng trong khi sức mua có hạn thì cũng
không thể tiêu thụ đợc. Ngợc lại, nếu khối lợng sản phẩm hàng hoá đa ra quá
nhỏ so với nhu cầu thị trờng thì nó sẽ hạn chế việc tăng doanh thu, bên cạnh
đó nó còn có thể dẫn đến việc doanh nghiệp mất một bộ phận khách hàng do
không đáp ứng đợc nhu cầu, họ tìm đến sản phẩm cùng loại của các doanh
nghiệp khác trên thị trờng. Vì vậy trong công tác tiêu thụ sản phẩm, doanh
nghiệp cần phải đánh giá chính xác nhu cầu thị trờng và năng lực của mình để
đa ra đợc một khối lợng sản phẩm phù hợp nhất đảm bảo tốt cho công tác tiêu
thụ.
Chất lợng sản phẩm, hàng hoá
Trong cơ chế cạnh tranh hiện nay, đảm bảo nâng cao chất lợng sản phẩm
có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tiêu thụ sản phẩm, góp phần nâng cao
uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng. Đây là nhân tố có ảnh hởng trực tiếp
đến khối lợng sản phẩm tiêu thụ và gía bán sản phẩm, chính vì vậy ảnh hởng
không nhỏ đến DTTT.
Có thể thấy, chất lợng sản phẩm tốt sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp
nâng cao giá một cách hợp lý mà vẫn thu hút đợc khách hàng, góp phần phát
triển và mở rộng đợc khả năng tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá và tăng doanh thu
cho doanh nghiệp. Mặc dù gía thấp sẽ kích thích đợc khả năng tiêu thụ, nhng
thực tế cho thấy khách hàng sẽ chọn sản phẩm có giá bán cao hơn một chút
nếu chất lợng đảm bảo. Vấn đề quan trọng là doanh nghiệp sẽ nâng giá bán
đến mức nào là hợp lý, nếu nh tăng quá cao vợt quá khả năng thanh toán của
khách hàng sẽ lại là một trở ngại cho việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá không
tiêu thụ đợc.
Ngoài ra ta còn thấy, nếu chất lợng sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp
cao sẽ tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, nhanh chóng thu đợc tiền
hàng, đồng thời cũng tạo đợc ấn tợng tốt về nhãn hiệu sản phẩm hàng hoá của
doanh nghiệp, từ đó tạo đợc uy tín cho doanh nghiệp, kích thích ngời tiêu
dùng và tăng đợc số lợng sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ, đảm bảo tăng doanh
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thu. Nếu sản phẩm hàng hoá kém chất lợng sẽ gây ra những khó khăn trong
công tác tiêu thụ, không chỉ đối với việc thực hiện khối lợng tiêu thụ mà còn
gây ra những trở ngại trong công tác thanh toán, có thể sẽ dẫn đến trờng hợp
phải giảm giá bán khối lợng sản phẩm đó, làm giảm DTTT.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của chất lợng sản phẩm đối với tiêu thụ
sản phẩm và DTTT sản phẩm, doanh nghiệp cần tổ chức quá trình sản xuất
gắn liền với việc đảm bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm thông qua việc đầu
t cải tạo máy móc thiết bị sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề công nhân,
đồng thời làm tốt công tác kiểm tra chất lợng hàng hoá khi nhập, xuất kho
Giá cả sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ
Đây cũng là một nhân tố ảnh hởng trực tiếp và quyết định đến quá trình
tiêu thụ sản phẩm.
Theo Mác, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, giá cả xoay
quanh giá trị hàng hoá. Nếu nh trong cơ chế trớc đây, giá cả là một chỉ tiêu kế
hoạch do Nhà nớc giao cho các doanh nghiệp, nó không thực sự dựa vào quan
hệ cung cầu trên thị trờng, sự thoả thuận giữa ngời mua và ngời bán, thì trong
cơ chế thị trờng hiện nay, giá cả đợc hình thành một cách tự phát trên thị trờng
theo sự thoả thuận của ngời mua và ngời bán, doanh nghiệp có thể hoàn toàn
chủ động trong việc định giá sản phẩm, hàng hoá, có thể sử dụng giá cả nh
một vũ khí sắc bén để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ, tăng DTTT cho doanh
nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải đa ra đợc mức giá cả phù hợp với chất l-
ợng sản phẩm, hàng hoá và đợc ngời tiêu dùng chấp nhận, có nh vậy doanh
nghiệp mới có thể dễ dàng tiêu thụ đợc các sản phẩm, hàng hoá của mình.
Còn nếu doanh nghiệp định giá quá cao, vợt quá khả năng thanh toán của ngời
tiêu dùng thì dù sản phẩm có chất lợng cao cũng sẽ không thể tiêu thụ đợc, sẽ
làm giảm DTTT. Trờng hợp nếu doanh nghiệp quản lý, tổ chức SXKD tốt, làm
giá thành sản phẩm hạ, chất lợng vẫn đợc đảm bảo, doanh nghiệp có thể bán
sản phẩm với giá thấp hơn so với những sản phẩm khác trên thị trờng, đây sẽ
là một lợi thế cho doanh nghiệp để có thể thu hút đợc khách hàng, tăng khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng. Chính vì vậy, để bảo toàn và
nâng cao đợc khả năng tiêu thụ doanh nghiệp cần có một chính sách giá cả
hợp lý, linh hoạt theo từng đối tợng khách hàng, từng không gian, thời gian cụ
thể.
Hiện nay có một số chính sách định giá cả sản phẩm, hàng hoá nh sau:
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Định giá theo thị tr ờng : nghĩa là mức giá mà doanh nghiệp đa ra
đối với các sản phẩm, hàng hoá của mình xoay quanh mức giá của các sản
phẩm, hàng hoá cùng loại đang la thông trên thị trờng. Đây là một chính
sách định giá đợc sử dụng khá phổ biến, nhất là đối với các sản phẩm khi
đợc sản xuất ra đã có nhiều sản phẩm cùng loại trên thị trờng. Do đó, trong
chính sách này, để tiêu thụ đợc sản phẩm, doanh nghiệp cần tăng cờng
công tác tiếp thị, tổ chức, bố trí sản xuất hợp lý để giảm đợc chi phí kinh
doanh, có nh vậy doanh nghiệp mới thực hiện tiêu thụ đợc sản phẩm đồng
thời mới có lãi.
Định giá thấp : nghĩa là mức giá cả mà doanh nghiệp đa ra đối với
sản phẩm, hàng hoá của mình thấp hơn mức giá thị trờng của sản phẩm,
hàng hoá đó. Chính sách này thờng đợc áp dụng trong trờng hợp sản phẩm
mới thâm nhập thị trờng,cần bán nhanh với số lợng lớn để cạnh tranh, hoặc
để giả phóng hàng tồn kho, thu hồi vốn. Việc áp dụng chính sách này trớc
mắt có thể làm giảm doanh thu và lợi nhuận nhng về lâu dài với biện pháp
phù hợp doanh nghiệp sẽ có thể tăng mạnh đợc khả năng tiêu thụ và đảm
bảo đợc doanh thu.
Định giá cao : theo chính sách này, mức giá mà doanh nghiệp đa
ra sẽ cao hơn mức giá hiện hành của các sản phẩm, hàng hoá cùng loại trên
thị trờng và cao hơn giá trị sản phẩm. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho
việc tăng doanh thu, song điều đó chỉ đợc thực hiện khi chất lợng của sản
phẩm, hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp đảm bảo đợc chất lợng
cao, sản phẩm độc quyền, những mặt hàng cao cấp có chất lợng đặc biệt.
ổ n định giá: không thay đổi giá cả theo quan hệ cung cầu trên thị
trờng mà luôn cố gắng ổn định về giá cả trong mọi thời kỳ. Cách này sẽ
giúp doanh nghiệp thâm nhập, giữ vững và mở rộng thị trờng, đảm bảo và
tăng đợc DTTT.
Công tác tổ chức bán hàng, thanh toán của doanh nghiệp
Trong điều kiện hiện nay, khi cơ chế bao cấp và phân phối không còn
nữa, doanh nghiệp phải thực sự lăn lộn để tìm kiếm thị trờng tiêu thụ và ngời
mua đợc đặt ở vị trí trung tâm, thì việc tổ chức công tác bán hàng một cách có
hiệu quả sẽ là một điều kiện thuận lợi, có tác động thúc đẩy rất lớn đến tốc độ
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Một doanh nghiệp nếu biết áp dụng tổng hợp các hình thức bán buôn,
bán lẻ, bán tại đại lý, bán tại kho, cửa hàng, bán tận tay cho khách hàng thì
sẽ tiêu thụ đợc nhiều sản phẩm hơn là nhiều doanh nghiệp đủ áp dụng đơn
thuần một hoặc hai hình thức tiêu thụ. Thông thờng hiện nay doanh nghiệp
đang sử dụng mạng lới đại lý hoặc các cửa hàng giới thiệu sản phẩm tạo ra
năng nắm bắt thị trờng và mở rộng thị trờng.
Về trình độ và chất l ợng phục vụ của đội ngũ nhân viên bán hàng:
Tâm lý của ngời tiêu dùng là luôn lựa chọn những cửa hàng, đại lý mà ở
đó có nhân viên phục vụ chu đáo, thoải mái và có hiểu biết về sản phẩm mà
họ cần. Chính vì vậy, việc đào tạo, lựa chọn một đội ngũ có trình độ, có t cách
phẩm chất tốt cũng là một yếu tố thúc đẩy đợc khối lợng sản phẩm và tăng đ-
ợc DTTT cho doanh nghiệp.
Về chất l ợng của các hoạt động hỗ trợ và xúc tiến bán hàng:
Để thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu doanh nghiệp
cần phải tiến hành một loạt các hoạt động hỗ trợ nh: thông tin quảng cáo,
tham gia hội trợ triển lãm, tổ chức hội nghị khách hàng, tổ chức các hoạt động
sau bán hàng. Nếu thực hiện tốt các hoạt động này sẽ tạo đợc ấn tợng tốt đối
với các khách hàng, họ sẽ tìm đến với sản phẩm của doanh nghiệp. Còn nếu
các hoạt động này không đợc thực hiện hoặc thực hiện không tốt thì nó không
chỉ không thúc đẩy đợc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, tăng đợc DTTT sản
phẩm mà còn làm ảnh hởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp do chi
phí của các hoạt động này khá cao.
Về mặt thanh toán:
Nếu doanh nghiệp áp dụng nhiều phơng thức thanh toán khác nhau nh:
thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán bằng tiền chuyển khoản, thanh toán bằng
séc, bằng uỷ nhiệm chi, thanh toán hàng đổi hàng, thanh toán ngay, thanh
toán chậm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc lựa chọn các
phơng tiện thanh toán, đáp ứng mọi điều kiện thanh toán của khách hàng. do
đó có thể thu hút đợc đông đảo khách hàng đến với doanh nghiệp mình, từ đó
tăng khả năng tiêu thụ và mở rộng đợc DTTT sản phẩm, hàng hoá. Ngợc lại,
nếu doanh nghiệp áp dụng đơn điệu một hoặc hai phơng tiện thanh toán, điều
đó chỉ phù hợp với một số khách hàng, không phù hợp với khả năng thanh
toán của một số khách hàng khác từ đó sẽ hạn chế việc tiêu thụ và tăng DTTT
sản phẩm, hàng hoá.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.1.4.2. Các nhân tố khách quan
Thị trờng tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá
Thị trờng là một yếu tố rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Doanh
nghiệp tham gia vào thị trờng trên cả hai lĩnh vực: thị trờng đầu vào và thị tr-
ờng đầu ra. Đặc biệt với thị trờng đầu ra, đó không chỉ là nơi tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp mà đó còn là nơi cung cấp cho doanh
nghiệp những thông tin quan trọng để hoạch định kế hoạch đầu t sản xuất.
Nh chúng ta đã biế,t thị trờng đợc hình thành bởi ba yếu tố: cung, cầu và
giá cả. Đối với yếu tố về cung và giá cả thì doanh nghiệp có thể chủ động dựa
trên yếu tố về cầu và khả năng để quyết định. Riêng đối với yếu tố về cầu thì
đây là một nhân tố khách quan mà doanh nghiệp khó kiểm soát đợc. Khi cầu
của thị trờng lớn tức là quy mô của thị trờng lớn, khối lợng sản phẩm, hàng
hoá tiêu thụ sẽ cao. Tuy nhiên, bên cạnh quy mô thị trờng, doanh nghiệp cần
thiết phải xem xét về chất lợng thị trờng, đó là những vấn đề về sự biến động
của sức mua, khả năng thanh toán của khách hàng, khả năng xảy ra rủi ro
Một thị trờng có quy mô lớn, chất lợng thị trờng tốt (sức mua ổn định,
khả năng thanh toán tốt ) sẽ là một điều kiện rất thuận lợi cho doanh nghiệp
trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, tăng DTTT sản phẩm.
Vì vậy, trong công tác tiêu thụ sản phẩm, việc nghiên cứu nhu cầu thị tr-
ờng là rất quan trọng, làm tốt công tác nghiên cứu thi trờng doanh nghiệp sẽ
biết thị trờng cần cái gì, cần bao nhiêu và nắm đợc thị trờng nào là chủ yếu,
thị trờng nào là thứ yếu để phân phối khối lợngng sản phẩm một cách hợp lý,
từ đó có thể tăng đợc khối lợng tiêu thụ, nâng cao doanh thu, đồng thời cân
bằng đợc cung cầu trên thị trờng. Ngợc lại, không nghiên cứu kỹ nhu cầu thị
trờng sẽ dẫn đến những quyết định sai lệch trong kinh doanh, có thể dẫn đến
thua lỗ và phá sản.
Đặc điểm SXKD của từng ngành nghề, từng doanh nghiệp
Đặc điểm SXKD của từng ngành nghề, từng doanh nghiệp có ảnh hởng
không nhỏ đến công tác tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là DTTT.
Trong ngành công nghiệp, do tính chất sản phẩm đa dạng, nhiều chủng
loại, dựa trên trình độ kỹ thuật tiên tiến, việc sản xuất ít phụ thuộc vào điều
kiện tự nhiên và thời vụ, sản phẩm sản xuất ra đợc tiêu thụ nhanh hơn, thờng
xuyên hơn, do đó doanh thu cũng đợc thực hiện nhanh chóng và ổn định hơn.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Trong ngành xây dựng cơ bản, do đặc điểm của ngành là khâu đầu tiên
của quá trình tái sản xuất mở rộng, đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra
tài sản cố định của nền kinh tế, các doanh nghiệp xây lắp khi tiến hành thi
công xây lắp cũng đồng thời là quá trình tiêu thụ sản phẩm. Thi công xây lắp
là một loại hình sản xuất theo đơn đặt hàng, các sản phẩm xây lắp đợc sản
xuất ra theo yêu cầu về giá trị sử dụng, về chất lợng đã thoả thuận giữa hai
bên, cho nên tiêu thụ sản phẩm xây lắp tức là bàn giao công trình đac hoàn
thành cho đơn vị giao thầu và nhận tiền về. Việc tiêu thụ sản phẩm chịu ảnh h-
ởng khách quan của chế độ thanh toán theo hạng mục công trình và khối lợng
hoàn thành theo giai đoạn quy ớc hoặc theo hạng mục công trình hoàn thàn,
do đó DTTT sản phẩm cũng phụ thuộc vào thời gian và tiến độ hoàn thành các
công trình.
Trong ngành nông nghiệp, do đặc điểm sản xuất mang tính chất thời vụ,
phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên cho nên việc tiêu thụ sản phẩm cũng mang
tính chất thời vụ, DTTT tăng chủ yếu vào mùa thu hoạch.
Trong lĩnh vực thơng mại dịch vụ, do có đặc điểm kinh doanh nhiều mặt
hàng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ việc sản xuất của các ngành sản xuất đến
nhu cầu và quyết định của ngời tiêu dùng nên doanh thu thờng đợc tổng hợp từ
nhiều mặt hàng và phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố trên.
Tập quán, thói quen tiêu dùng và nguồn gốc xuất xứ của các sản phẩm,
hàng hoá
Mỗi một khu vực, một nhóm khách hàng đều có một tập quán, thói quen
tiêu dùng các chủng loại hàng hoá khác nhau, trong từng giai đoạn khác nhau.
Do đó, việc hiểu rõ tập quán, thói quen của ngời tiêu dùng là rất quan trọng
đối với việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, nếu sản phẩm sản xuất ra
phù hợp với tập quán, thói quen tiêu dùng của các khách hàng ở một thị trờng
nào đó thì chắc chắn việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá đó rất dễ dàng trên thị
trờng này.
Bên cạnh đó, nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá cũng tác động rất lớn đến
thói quen tiêu dùng của khách hàng. Ngời tiêu dùng đã có ý thích và tin tởng
vào một hãng nào đó thì họ sẽ luôn luôn sử dụng các sản phẩm của hãng đó,
hơn nữa, sự ảnh hởng của ngời tiêu dùng này đến ngời tiêu dùng khác là rất
lớn, do đó khi họ đã tôn sùng sản phẩm của một hãng nào đó thì họ sẽ làm
cho nhiều ngời mua theo. Chính điều này đã tạo nên uy tín cho doanh nghiệp,
tăng đợc khả năng tiêu thụ sản phẩm, tăng DTTT cho doanh nghiệp.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Mức thu nhập của ngời tiêu dùng
Mức thu nhập có ảnh hởng quyết định đến khả năng thanh toán của ngời
tiêu dùng. Khi, mức thu nhập của ngời tiêu dùng tăng lên chứng tỏ khả năng
thanh toán của họ cũng tăng lên, họ sẽ có điều kiện mua sắm sản phẩm hàng
hoá để thoả mãn nhu cầu của mình, do đó khối lợng sản phẩm, hàng hoá có
thể tiêu thụ sẽ tăng lên, sẽ tăng đợc DTTT. Ngợc lại, khi thu nhập của ngời
tiêu dùng giảm sút, khả năng thanh toán yếu sẽ làm hạn chế lớn đến khối lợng
sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ, làm giảm DTTT.
Mặt khác, khi thu nhập tăng cao thì nhu cầu của ngời tiêu dùng về các
mặt hàng cao cấp thờng tăng theo do vậy sự thay đổi của mức thu nhập không
chỉ ảnh hởng đến khối lợng, giá bán mà còn ảnh hởng đến kết cấu sản phẩm
tiêu thụ từ đó làm ảnh hởng lớn đến DTTT.
Khả năng thay thế của sản phẩm hàng hoá trên thị trờng
Mỗi loại sản phẩm, hàng hoá có tính năng, tác dụng khác nhau, song xét
trên toàn thị trờng thì lại có vô số chủng loại hàng hoá nhằm đáp ứng những
nhu cầu và thị hiếu củangời tiêu dùng. Do vậy, nếu doanh nghiệp có thể lựa
chọn cho mình một sản phẩm độc đáo, gần nh không có các sản phẩm, hàng
hoá khác có thể thay thế trên thị trờngthì khả năng thâm nhập vào thị trờng
càng lớn, thị phần sẽ ổn định và tạo điều kiện từng bớc mở rộng thị trờng, phát
triển doanh thu cho doanh nghiệp.
Ngợc lại, nếu sản phẩm, hàng hoá mà doanh nghiệp cung cấp ra thị trờng
đã có rất nhiều chủng loại khác nhau, hoặc có nhiều mặt hàng thay thế thì sẽ
có khó khăn cho doanh nghiêp trong công tác tiêu thụ. Tuy nhiên trong trờng
hợp này nếu doanh nghiệp biết tổ chức tốt quá trình sản xuất, tạo ra lợi thế
cạnh tranh bằng giá thông qua việc hạ giá thành sản phẩm, hàng hoá, nâng
cao đợc chất lợng sản phẩm, tạo ra tính u việt hơn các sản phẩm khác thì
doanh nghiệp lại có thể tiêu thụ đợc một khối lợng lớn sản phẩm, hàng hoá,
góp phần tăng DTTT. Do vậy rất cần thiết phải tìm hiểu thị trờng và có đối
sách phù hợp.
Chính sách, cơ chế của Nhà nớc
Đây cũng là nhân tố ảnh hởng đến tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá và DTTT
sản phẩm của doanh nghiệp.
Tuỳ theo mục đích quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân, trong mỗi thời kỳ
khác nhau, Nhà nớc có thể có những chính sách khuyến khích hoặc hạn chế
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tiêu dùng một loại sản phẩm, hàng hoá nào đó thông qua các công cụ điều tiết
vĩ mô nh thuế, trợ giá do đó sẽ ảnh hởng lớn đến DTTT của nhóm hàng,
ngành hàng đó. Chẳng hạn, với những sản phẩm hàng hoá là nhu cầu thứ yếu
nh lơng thực, thực phẩm Nhà nớc có chính sách bình ổn giá, trợ giá để đảm
bảo doanh thu trong những lúc khó khăn. Hoặc trong một thời kỳ nào đó Nhà
nớc có chính sách khuyến khích hay hạn chế một hoặc một số mặt hàng cuả
một ngành, lĩnh vực nào đó thì Nhà nớc sử dụng việc trợ giá hoặc thuế
khuyến khích hoặc hạn chế, trong thời kỳ này DTTT của doanh nghiệp sẽ có
biến động đáng kể.
1.2. Các biện pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, tăng
DTTT sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp
1.2.1. Sự cần thiết phải thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, tăng DTTT sản phẩm,
hàng hoá của doanh nghiệp
Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tăng DTTT sản phẩm luôn là mục tiêu phấn
đấu, cố gắng của bất kỳ doanh nghiệp nào trong nền knh tế thị trờng, sở dĩ có
xu hớng này là do một số nguyên nhân sau:
1.2.1.1. Xuất phát từ mục đích sản xuất của các doanh nghiệp là sản
xuất sản phẩm để tiêu thụ chứ không phải để tiêu dùng:
Mỗi một doanh nghiệp đợc thành lập ra có một chức năng, nhiệm vụ
khác nhau có thể sản xuất ra sản phẩm, hàng hoá, có thể thực hiện lu thông
hàng hoá. Các doanh nghiệp này đợc thành lập ra đều nhằm mục đích là sản
xuất ra sản phẩm, cung cấp hàng hoá, dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu tiêu
dùng của toàn xã hội chứ không phải để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của
bản thân doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm sau một quá trình sản xuất sẽ
đợc đa ra thị trờng, thực hiện quá trình tiêu thụ nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi
đối tợng trong xã hội.
Đối với doanh nghiệp thơng mại - dịch vụ, sản phẩm, hàng hoá mua về
không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nội bộ doanh nghiệp mà thực
hiện qúa trình tiêu thụ tiếp theo, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình thì nhất thiết doanh
nghiệp phải thực hiện tốt công tác tiêu thụ sản phẩm, thông qua việc tìm kiếm
các biện pháp để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, tăng DTTT sản phẩm.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét