Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Hoàn thiện kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty Thương Mại và Xuất Nhập Khẩu Viettel”

Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế
toán
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HÓA VÀ XÁC ĐỊNH
KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HÓA TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG
MẠI
1. Đặc điểm và nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả
tiêu thụ trong doanh nghiệp thương mại
1.1Hoạt động kinh doanh hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại
1.1.1Khái niệm kinh doanh thương mại
Hiện nay, hoạt động kinh doanh thương mại có rất nhiều khái niệm, song
khái niệm “Hoạt động kinh doanh thương mại là giai đoạn quan trọng trong quá
trình tái sản xuất xã hội, là khâu trung gian nối liền giữa sản xuất với tiêu dùng”
được sử dụng nhiều. Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành
vi các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan bao
gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc
tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách
kinh tế - xã hội. Thương nhân có thể là các cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự
đầy đủ hay các hộ gia đình, lập theo quy định của pháp luật (được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh).
Điểm khác biệt cơ bản giữa doanh nghiệp kinh doanh thương mại và doanh
nghiệp sản xuất là doanh nghiệp thương mại không trực tiếp sản xuất sản phẩm,
nó đóng vai trò trung gian môi giới giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Doanh
nghiệp sản xuất trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, vật chất phục vụ nhu cầu xã hội.
Doanh nghiệp thương mại thừa hưởng kết quả của doanh nghiệp sản xuất. Như
vây, quá trình kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất gồm ba giai đoạn là cung
cấp – sản xuất – tiêu thụ, trong khi đó doanh nghiệp thương mại quá trình này chỉ
gồm cung cấp – tiêu thụ. Do đó, chi phí mà doanh nghiệp thương mại bao gồm:
chi phí cho quá trình cung cấp và chi phí phục vụ tiêu thụ, phục vụ khâu bán hàng
Lê Bích Huyền Lớp Kế toán 46A
5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế
toán
Hoạt động kinh doanh thương mại diễn ra trong phạm vi từng nước, thực
hiện quá trình lưu chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ được gọi là
kinh doanh thương mại nội địa (nội địa).
Hoạt động kinh doanh thương mại diễn ra giữa các quốc gia với nhau được
gọi là hoạt động kinh doanh xuất – nhập khẩu (ngoại thương).
Trong bài luận văn tốt nghiệp của em, em xin đề cập đến một số mặt của
hoạt động nội thương.
1.1.2Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại
Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại
Hoạt động kinh tế cơ bản của kinh doanh thương mại là lưu chuyển hàng
hóa. Lưu chuyển hàng hóa là sự tổng hợp các hoạt động thuộc các quá trình mua
bán, trao đổi và dự trữ hàng hóa
Đặc điểm về hàng hóa
Hàng hóa trong kinh doanh thương mại rất đa dạng và phong phú. Hàng hóa
trong kinh doanh thương mại có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác
nhau, trong đó phân theo ngành hàng là điển hình nhất. Cụ thể:
- Hàng công nghệ phẩm
- Hàng nông, lâm, sản, thực phẩm
- Hàng tư liệu sản xuất, hàng tư liệu tiêu dùng
- Hàng hóa bất động sản…
Đặc điểm về phương thức lưu chuyển hàng hóa
Quá trình lưu chuyển hàng hóa trong kinh doanh thương mại có thể theo một
trong hai phương thức bán buôn và bán lẻ. Trong đó, bán buôn là phương thức
bán hàng cho các đơn vị thương mại, các doanh nghiệp sản xuất… để bán hoặc
gia công, chế biến, bán ra. Đặc điểm của bán buôn là hàng hóa vẫn nằm trong lưu
thông chứ không bán thẳng cho người tiêu dùng. Bán lẻ hàng hóa là việc bán
thẳng cho người tiêu dùng, bán lẻ…
Đặc điểm về tổ chức kinh doanh
Lê Bích Huyền Lớp Kế toán 46A
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế
toán
Tổ chức kinh doanh thương mại có thể theo nhiều mô hình khác nhau như tổ
chức công ty bán buôn, bán lẻ, công ty kinh doanh tổng hợp, công ty môi giới
Ngoàì ra, tổ chức kinh doanh thương mại có thể thực hiện nhiệm vụ sản xuất, gia
công chế biến tạo them nguồn hàng và tiến hành các hoạt động kinh doanh khác
nhau như cung cấp dịch vụ.
Đặc điểm về sự vận động của hàng hóa
Sự vận động của hàng hóa trong kinh doanh thương mại cũng không giống
nhau, tùy thuộc vào nguồn hàng và ngành hàng. Do đó, chi phí thu mua và thời
gian lưu chuyển hàng hóa cũng khác nhau giữa các loại hàng.
1.1.3Yêu cầu của việc quản lý hàng hóa trong tiêu thụ hàng hóa
Trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, lựa chọn phương thức bán hàng và
phương thức thanh toán sao cho phù hợp với hoạt động kinh doanh thương mại là
công việc quan trọng. Sau đó, công tác quản lý hàng hóa trong tiêu thụ hàng hóa
sao cho phù hợp với phương thức bán hàng đóng vai trò quan trọng trong kinh
doanh thương mại. Quản lý tốt hàng hóa sẽ giúp doanh nghiệp giảm được rủi ro
trong tiêu thụ hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Chính vì vậy, muốn quản
lý tốt hàng hóa, quản lý hàng hóa có hiệu quả, doanh nghiệp cần hướng tới quản
lý tốt hàng hóa ở những mặt sau:
-Quản lý về mặt số lượng: doanh nghiệp phải cập nhật đầy đủ tình hình nhập,
xuất, tồn kho hàng hóa về mặt hiện vật. Qua đó, người quản lý có thể đánh giá
được tình hình thực hiện kế hoạch mua và tiêu thụ hàng hóa, phát hiện và cung
cấp cho người quản lý tình hình tiêu thụ từng mặt hàng giúp doanh nghiệp có
biện pháp xử lý kịp thời.
-Quản lý về mặt chất lượng: chất lượng hàng hóa là một trong những nhân tố
quyết định trong việc xác định kết quả kình doanh của các doanh nghiệp, trong đó
bao gồm cả các doanh nghiệp kinh doanh thương mại. Để quản lý tốt chất lượng
hàng hóa, doanh nghiệp phải quán triệt công tác kiểm soát chặt chẽ chất lượng
hàng hóa ngay từ khâu mua hàng thông qua công tác kiểm nhận hàng hóa trước
Lê Bích Huyền Lớp Kế toán 46A
7
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế
toán
khi nhập kho. Bên cạnh đó, hàng hóa dự trữ trong kho cần phải luôn luôn được
kiểm tra và bảo quản tốt, tránh tình trạng tiêu thụ hàng kém phẩm chất làm ảnh
hưởng đến thương hiệu cũng như uy tín của doanh nghiệp.
-Quản lý về mặt giá trị: đòi hỏi doanh nghiệp cần phải theo dõi giá trị hàng
hóa tồn kho cũng như sự biến động giá cả của hàng hóa trên thị trường, xác định
sự chênh lệch về giá cả và phản ánh đúng giá trị thực tế của hàng hóa tồn kho.
Đồng thời cần phải theo dõi và kiểm soát tốt sự vận động của hàng hóa trong kinh
doanh của doanh nghiệp nhằm có phương pháp lưu chuyển hàng hóa hợp lý, giảm
sự rủi ro giảm giá trị của hàng hóa kinh doanh.
Để quản lý hàng hóa có hiệu quả, một trong những biện pháp hữu hiệu đó là
doanh nghiệp thực hiện tốt kế toán chi tiết hàng hóa. Đây là công tác kế toán
được hiện chi tiết đến từng mã hàng của những mặt hàng có nhiều chủng loại, là
công tác kế toán quản lý cần thiết tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
kinh doanh thương mại.
1.1.4Các phương thức tiêu thụ hàng hóa trong kinh doanh thương mại
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng trong quá trình lưu chuyển hàng hóa của kinh
doanh thương mại. Hàng hóa trong kinh doanh thương mại được lưu chuyển theo hai
phương thức bán buôn và bán lẻ. Cụ thể như sau:
a) Phương thức bán buôn: đây là phương thức tiêu thụ hàng hóa trong đó
người bán giao hàng trực tiếp cho người mua như các đại lý, tổ chức sản
xuất, kinh doanh, các đơn vị dịch vụ với khối lượng lớn hoặc theo lô. Khi
người mua kiểm nhận hàng hóa, lượng hàng kiểm nhận chính thức được
tiêu thụ. Tuy nhiên, đặc điểm của phương thức này hàng hóa vẫn nằm
trong lưu thông chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Trong phương thức này
thường gồm hình thức:
Bán buôn qua kho: đây là hình thức bán hàng truyền thống, với hình thức bán
hàng này hàng bán được xuất từ kho của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp áp
dụng hình thức này cần có kế hoạch dự trữ hàng hóa đầy đủ, bảo quản hàng hóa
Lê Bích Huyền Lớp Kế toán 46A
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế
toán
tốt, đồng thời có kế hoạch cụ thể để đáp ứng kịp tiến độ giao nhận hàng, giảm
thiểu tối đa những chi phí không đáng có. Bán buôn qua kho bao gồm: bán buôn
theo hình thức giao hàng trực tiếp và bán buôn theo hình thức gửi bán hàng hóa.
Thứ nhất, bán buôn theo hình thức giao hàng trực tiếp: là hình thức bên mua cử đại
diện trực tiếp đến kho doanh nghiệp để mua hàng, doanh nghiệp xuất kho hàng hóa
giao trực tiếp cho bên mua. Sau khi nhận hàng, bên mua chấp nhận thanh toán thì hàng
hóa được coi là tiêu thụ, việc thanh toán của khách hàng cho doanh nghiệp tủy thuộc
vào sự thỏa thuận giữa hai bên đã ký kết trong hợp đồng.
Thứ hai, bán buôn theo phương thức gửi bán: đây là hình thức doanh nghiệp xuất
bán kho hàng hóa gửi cho đại lý của mình. Số hàng hóa này chỉ được coi là tiêu thụ khi
kế toán nhận được báo cáo bán hàng của các đại lý
Bán buôn vận chuyển thẳng: là phương thức bán buôn mà hàng hóa mua về
không nhập kho mà chuyển thẳng cho khách hàng. Bán buôn vận chuyển thẳng
bao gồm: bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán và bán buôn vận
chuyển thẳng không tham gia thanh toán.
Thứ nhất, bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán: với hình thức này,
doanh nghiệp vừa tham gia thanh toán với bên mua vừa tham gia thanh toán với bên
bán trong quá trình mua hàng, bán hàng…
Thứ hai, bán buôn vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán: bản chất của hình
thức này là doanh nghiệp làm môi giới cho bên mua và bên bán để hưởng hoa hồng.
Với hình thức này giảm thiểu được khâu ghi chép cho kế toán vì hình thức này kế toán
chỉ ghi khoản hoa hồng mà doanh nghiệp được nhận từ việc làm môi giới
b) Phương thức bán lẻ: là hàng hóa được đưa đến tận tay người tiêu dùng
hoặc các đơn vị có nhu cầu tiêu dùng. Những hình thức trong bán lẻ gồm:
Bán hàng thu tiền tại chỗ: hình thức này thường áp dụng cho những cửa hàng có
quy mô nhỏ, công tác kế toán tiêu thụ đơn giản. Theo phương thức này, chức năng
nhận hàng, bán hàng thu tiền và hoàn toàn chịu trách nhiệm tài chính về số hàng
và số tiền bán hàng là công việc của nhân viên bán hàng. Cuối ca làm việc nhân
Lê Bích Huyền Lớp Kế toán 46A
9
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế
toán
viên bán hàng, kiểm hàng, kiểm tiền và lập báo cáo bán hàng để nộp cho kế toán
doanh thu bán lẻ.
Bán hàng thu tiền tập trung: hình thức này thường áp dụng cho các cửa hàng có
quy mô lớn. Trong hình thức này, nhân viên bán hàng và nhân viên thu tiền thực
hiện độc lập chức năng bán hàng và chức năng thu tiền. Cuối ca làm việc, nhân
viên bán hàng kiểm kê hàng bán, đối chiếu với sổ quầy và lập báo cáo bán hàng.
Nhân viên thu ngân có nhiệm vụ thu tiền, lập báo cáo nộp tiền. Sau đó, cả hai nhân
viên này đối chiếu với nhau và nộp cho kế toán bán hàng làm căn cứ ghi sổ các
nghiệp vụ bán hàng trong ngày.
Bán hàng trả góp: doanh nghiệp áp dụng hình thức bán hàng này thường có quy
mô lớn. Theo hình thức này, khách hàng khi mua hàng chỉ trả một phần tiền hàng,
phần còn lại được trả vào nhiều tháng sau theo hợp đồng mua bán đã ký. Theo
hình thức này, ngoài số tiền thu theo giá bán lẻ doanh nghiệp còn được hưởng một
khoản tiền lãi do việc trả chậm đem lại. Việc ghi chép kế toán tiêu thụ cần phải
chính xác, theo dõi chặt chẽ nhằm tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn.
Bán hàng theo phương thức hàng đổi hàng: đây là hình thức doanh nghiệp đem
hàng hóa, vật chất của mình đi đổi lấy hàng hóa, vật chất theo sự thỏa thuận của
hai bên, giá của hàng hóa đem đổi là giá của hàng hóa trên thị trường.
Bán hàng tự phục vụ và bán hàng tự động: đây là hình thức bán hàng rất phổ
biến hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà giảm được nhân lực
trong khâu vận chuyển hàng trong quá trình mua hàng. Khách hàng tự chọn hàng
sau đó khách hàng đến quầy thu ngân để thanh toán. Tuy nhiên, hình thức này
được áp dụng thù doanh nghiệp phải có hàng rào an ninh tốt đảm bảo cho doanh
nghiệp không có tình trạng mất hàng. Hình thức này hiện nay bao gồm các siêu
thị, các metrol… đang tồn tại ở Việt Nam.
Ngoài ra, còn có một số hình thức coi là xuất bán: xuất hàng tiêu dùng nội bộ,
xuất hàng cho biếu tặng, quà khuyến mại, xuất hàng thanh toán cho cán bộ công
nhân viên của doanh nghiệp, xuất hàng thưởng cho cán bộ công nhân viên…
Lê Bích Huyền Lớp Kế toán 46A
10
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế
toán
c) Điều kiện ghi nhận doanh thu của các phương thức bán hàng: đảm bảo
nguyên tắc thận trọng, nguyên tắc phù hợp với chi phí, kế toán doanh thu
phải tuân thủ chuẩn mực kế toán số 14 của Việt Nam (VAS14). Nội dung
khái quát như sau:
-Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu
hàng hóa cho người mua.
-Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng
hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa
-Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
-Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ việc giao dịch bán hàng
-Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
1.2 Ý nghĩa, nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu
thụ trong doanh nghiệp thương mại
1.2.1Ý nghĩa của kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ
hàng hóa
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh. Thông
qua quá trình tiêu thụ, giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, hàng hóa được thực
hiện, đơn vị thu hồi được vốn bỏ ra. Tuy nhiên, doanh nghiệp muốn quá trình tiêu
thụ có hiệu quả trong thời kỳ mới – mở cửa và hội nhập, đòi hỏi các nhà quản trị
phải theo dõi và kiểm soát, cập nhật thông tin thị trường cũng như thông tin về
hoạt động của doanh nghiệp mình nhằm hoạch định kế hoạch, chiến lược kinh
doanh có hiệu quả. Do đó, kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra là công cụ
quản lý hữu hiệu nhất không thể thiếu đối với các doanh nghiệp nói chung và
doanh nghiệp thương mại nói riêng.
Trong doanh nghiệp thương mại, kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả
tiêu thụ đóng vai trò quan trọng nhất. Phần hành này cung cấp thông tin, số liệu, tài
liệu cho việc quản lý hoạt động kinh doanh nhằm kiểm tra, theo dõi, phân tích tình
Lê Bích Huyền Lớp Kế toán 46A
11
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế
toán
hình tài chính của doanh nghiệp cũng như tốc độ thực hiện mục tiêu cuối cùng là lợi
nhuận.
Bên cạnh đó, kế toán tiêu thụ không chỉ tính toán và kiểm tra việc sử dụng
tài sản, nguồn vốn đảm bảo tính chủ động về tài chính trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp mà còn là nguồn thông tin hữu ích cho nhà quản trị
ra quyết định phù hợp với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp.
1.2.2Nhiệm vụ kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ hàng
hóa trong doanh nghiệp thương mại
Với ý nghĩa của kế toán tiêu thụ nói trên, hạch toán quá trình tiêu thụ hàng
hóa trong doanh nghiệp thương mại, kế toán tiêu thụ có nhiệm vụ sau:
Hạch toán đầy đủ, chính xác tình hình tiêu thụ hàng hóa cùng các chi phí
phát sinh:
-Ghi chép đầy đủ số lượng, giá trị hàng mua và giá mua, chi phí mua hàng, các
chi phí khác có liên quan, các thuế không được hoàn trả… theo chứng từ và hệ
thống sổ quy định.
-Lựa chọn phương pháp và xác định đúng giá vốn hàng xuất bán hợp lý
-Phân bổ hợp lý chi phí mua hàng cho số hàng bán ra và số hàng tồn cuối kỳ
để làm cơ sở xác định giá vốn hàng bán và giá trị hàng tồn cuối kỳ.
-Phản ánh kịp thời, chính xác số lượng hàng bán, doanh thu hàng bán và các
chỉ tiêu liên quan như giá vốn hàng bán, các khoản giảm trừ doanh thu, các khoản
phải thu khách hàng…
-Theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch thanh toán với nhà cung cấp và khách hàng.
Cung cấp thông tin chính xác, kịp thời phục vụ cho công tác quản lý hàng
hóa của nhà quản trị:
-Có kế hoạch kiểm soát chặt chẽ tình hình biến động giá cả hàng hóa tiêu thụ
và hàng tiêu thụ, phát hiện và có biện pháp xử lý kịp thời đối với những hàng hóa
bị giảm giá cũng như những hàng hóa có tốc độ tiêu thụ chậm.
Lê Bích Huyền Lớp Kế toán 46A
12
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế
toán
-Theo dõi và phản ánh kịp thời, chính xác tình hình nhập – xuất – tồn hàng
hóa cả về mặt số lượng cũng như về mặt giá trị.
-Tổ chức hạch toán kế toán tiêu thụ hàng hóa tốt, kiểm tra tình hình ghi chép
tại các kho hàg, quầy hàng, đại lý mang tính chất thường xuyên.
Xác định kết quả tiêu thụ hàng hóa, chi tiết đến từng mã hàng một cách kịp
thời, chính xác.
2. Hạch toán kế toán tiêu thụ hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại
2.1 Các phương pháp xác định giá vốn hàng hóa tiêu thụ
Để xác định được kết quả tiêu thụ hàng hóa, bên cạnh các yếu tố như doanh
thu thuần, chi phí quản lý, chi phí bán hàng, kế toán cần thiết phải xác định được
trị giá vốn hàng bán. Theo chuẩn mực 02 (VAS02), các doanh nghiệp tùy thuộc
vào tình hình và lĩnh vực kinh doanh của mình mà lựa chọn một trong những
phương pháp tính giá vốn hàng hóa sau:
2.1.1Phương pháp giá thực tế đích danh
Phương pháp này thường áp dụng đối với những doanh nghiệp có ít loại mặt
hàng, hoặc những mặt hàng ổn định, có thể nhận diện được, có giá trị cao. Theo
Phương pháp này, hàng hóa được xác định đơn chiếc hoặc từng lô và có đặc điểm
là giá hàng hóa giữ nguyên từ lúc nhập kho cho đến lúc tiêu thụ.
Ưu điểm: phản ánh chính xác, thực tế giá của hàng xuất bán.
Nhược điểm: đòi hỏi kế toán phải ghi chép chi tiết từng loại mặt hàng.
2.1.2Phương pháp bình quân gia quyền
Theo phương thức này, giá vốn hàng xuất kho trong kỳ được tính theo công thức:
Giá thực tế hàng
xuất kho
=
Số lượng hàng
xuất kho
x
Giá đơn vị bình quân
của hàng hóa
Trong đó, giá đơn vị bình quân của hàng hóa được tính theo một trong ba cách
sau:
a) Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ:
Lê Bích Huyền Lớp Kế toán 46A
13
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế
toán
Giá đơn vị
bình quân cả
kỳ dự trữ
=
Giá trị thực tế của
hàng tồn đầu kỳ
+
Giá trị thực tế của hàng
nhập trong kỳ
Số lượng hàng tồn
đầu kỳ
+
Số lượng hàng nhập
trong kỳ
Ưu điểm: đơn giản, dễ làm, ít tốn công sức.
Nhược điểm: tính giá vốn theo phương pháp này có thể ảnh hưởng đến công
tác kế toán vì giá vốn được xác định sau khi kết thúc kỳ hạch toán.
b) Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập:
Giá đơn vị bình
quân sau mỗi
lần nhập
=
Giá trị thực tế hàng hóa tồn kho
sau mỗi lần nhập
Số lượng hàng hóa tồn kho
sau mỗi lần nhập
Ưu điểm: đảm bảo tính kịp thời của số liệu kế toán.
Nhược điểm: khối lượng công việc nhiều, tốn nhiều công sức vì sau mỗi lần
nhập kho kế toán lại phải tính lại giá bình quân.
c) Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước ( hoặc đầu kỳ này):
Giá đơn vị bình quân cuối
kỳ trước (đầu kỳ này)
=
Giá trị thực tế hàng hóa tồn kho cuối kỳ
trước (đầu kỳ này)
Số lượng thực tế hàng hóa tồn kho cuối
kỳ trước (đầu kỳ này)
Ưu điểm: đơn giản, dễ làm, ghi chép kịp thời giá hàng hóa xuất bán.
Nhược điểm: phản ánh không chính xác giá của hàng hóa xuất bán.
2.1.3Phương pháp nhập trước, xuất trước
Theo phương pháp này, giả định rằng lô hàng nào nhập vào kho trước sẽ
đem xuất dùng trước. Do đó, khi tính giá của hàng hóa xuất kho tình hết theo giá
của lô hàng nhập trước rồi mới đến giá của lô hàng nhập sau. Nói cách khác, cơ
sở của phương pháp này là giá thực tế của hàng mua trước sẽ được dùng làm giá
Lê Bích Huyền Lớp Kế toán 46A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét