2.1.2. Phân loại tín dụng
2.1.2.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng
a) Tín dụng ngắn hạn
- Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm được xác định phù hợp với chu
kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng, loại tín dụng này
chiếm chủ yếu trong các ngân hàng thương mại. Tín dụng ngắn hạn thường được
dùng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và cho vay phục vụ nhu
cầu sinh hoạt cá nhân.
b) Tín dụng trung hạn
- Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 3 năm dùng để cho vay vốn mua sắm
tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình
nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
c) Tín dụng dài hạn
- Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm được sử dụng để cấp vốn cho xây
dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
2.1.2.2. Căn cứ vào đối tượng tín dụng.
a) Tín dụng vốn lưu động
- Là loại tín dụng cung cấp nhằm hình thành vốn lưu động như cho vay để dự
trữ hàng hóa, mua nguyên vật liệu cho sản xuất.
b) Tín dụng vốn cố định
- Là loại tín dụng cung cấp nhằm hình thành vốn cố định, loại tín dụng này
được thực hiện dưới hình thức cho vay trung và dài hạn. Tín dụng vốn cố định
thường được cấp phát phục vụ cho việc đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và
đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới.
2.1.2.3. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng
a) Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Là loại tín dụng cung cấp cho các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân để
tiến hành sản xuất kinh doanh.
b) Tín dụng tiêu dùng
- Là hình thức tín dụng cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 5 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
2.1.3.Các hình thức huy động vốn.
2.1.3.1 Vốn tiền gửi
a)Tiền gửi khách hàng
* Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán)
- Tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng có thể rút ra
bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho ngân hàng biết và ngân hàng phải
đáp ứng yêu cầu đó của khách hàng, khách hàng cũng có thể ký séc để thanh toán
nên gọi là tài khoản giao dịch.
- Ưu điểm: Loại tiền gửi này có lãi suất thấp nên làm giảm chi phí huy động
vốn của ngân hàng.
- Nhược điểm: Tài khoản tiền gửi này thường xuyên biến động nên ngân
hàng không chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này.
* Tiền gửi có kỳ hạn (tiền gửi định kỳ)
- Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ được rút ra trong
một thời gian nhất định. Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút ra khi đến hạn.
Tuy nhiên, do tính cạnh tranh và khuyến khích khách hàng gửi tiền cho nên ngân
hàng cho phép khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện khách hàng không được
hưởng lãi suất hoặc được trả lãi suất thấp hơn mức lãi suất có kỳ hạn khi rút tiền
đúng hạn. Điều này còn tùy thuộc vào chính sách huy động vốn của ngân hàng và
loại tiền gửi định kỳ.
- Ưu điểm: Đối với ngân hàng tiền gửi có kỳ hạn là số tiền có hẹn đến một
ngày nhất định mới trả lại cho khách hàng gửi tiền, điều này giúp cho ngân hàng
chủ động được nguồn vốn trong các thời kỳ để có kế hoạch cho vay, do đó việc sử
dụng nguồn này để cho vay rất hiệu quả.
- Nhược điểm: Lãi suất để huy động nguồn vốn này cao và tùy thuộc vào kỳ
hạn gửi và số tiền gửi của khách hàng.
b) Tiền gửi tiết kiệm
- Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi vào thì được ngân
hàng cấp cho một quyển sổ gọi là sổ tiết kiệm. Khách hàng có trách nhiệm quản lý
sổ và mang theo khi đến ngân hàng để giao dịch. Hiện nay một số ngân hàng đã bỏ
sổ tiết kiệm và thay vào đó là cung cấp cho khách hàng một bản kê khi lúc gửi tiền
đầu tiên và hàng tháng để phản ánh tất cả các số phát sinh.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 6 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
- Ưu điểm: Đây là nguồn vốn có tính ổn định và chiếm tỉ lệ khá cao, ngân
hàng không phải cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
- Nhược điểm: Do mục đích của loại tiền gửi này là để dành nên lãi suất cao.
Gồm 2 loại hình:
* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:
- Là loại tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng có thể gửi vào, lấy ra bất cứ lúc
nào không cần báo trước cho ngân hàng. Đối tượng gửi chủ yếu là những người
tiết kiệm, dành dụm hầu trang trãi những chi tiêu cần thiết đồng thời có một khoản
lãi góp phần vào việc chi tiêu hàng tháng. Ngoài ra, đối tượng gửi có thể là những
người thừa tiền nhàn rỗi muốn gửi vào ngân hàng để thu lợi tức đồng thời bảo đảm
an toàn hơn giữ tiền ở nhà.
* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
- Đây là loại hình cá nhân gửi tiền có sự thoả thuận về thời gian với ngân
hàng, chỉ rút tiền khi đến thời hạn thoả thuận. Còn trường hợp đặc biệt rút ra trước
thời hạn thì lãi suất thấp hơn. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn lớn hơn tiền gửi
tiết kiệm không kỳ hạn.
2.1.3.2. Vốn huy động thông qua các chứng từ có giá
a) Kỳ phiếu ngân hàng.
- Kỳ phiếu ngân hàng là loại chứng từ có giá được ngân hàng phát hành để
huy động tiết kiệm trong xã hội nhằm mục đích phục vụ cho việc kinh doanh trong
thời kỳ nhất định. Thời hạn của kỳ phiếu còn phụ thuộc vào chính sách huy động
vốn của ngân hàng, có thể là: 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, trên 12 tháng.
- Ưu điểm: Thời gian huy động nhanh, số tiền lớn.
- Khuyết điểm: Ngắn hạn và lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm.
b) Trái phiếu ngân hàng.
- Trái phiếu ngân hàng là công cụ huy động vốn dài hạn vào ngân hàng, nó là
một loại chứng khoán có thể dùng để mua bán trên thị trường chứng khoán. Ở
nước ta, trái phiếu có kỳ hạn trên một năm. Khi ngân hàng phát hành trái phiếu thì
ngân hàng có mục đích dùng số vốn đó để đầu tư vào các dự án mang tính chất dài
hạn như: đầu tư vào các công trình, dự án liên doanh, cho vay dài hạn…
- Đối với khách hàng, trái phiếu ngân hàng là một khoản đầu tư mang lại thu
nhập ổn định và ít rủi ro so với cổ phiếu doanh nghiệp.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 7 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
- Ưu điểm: Đối với ngân hàng vốn huy động từ trái phiếu lãi suất thấp và ổn
định trong thời gian dài. Do vậy ngân hàng có thể chủ động trong việc sử dụng
nguồn vốn này để cho vay trung và dài hạn.
- Nhược điểm: Do lãi suất thấp và thời gian dài nên rất khó thu hút khách
hàng.
2.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân
hàng.
Để thu hút được tiền gửi cũng như nâng cao hiệu quả huy động vốn thì ngân
hàng cần phải đảm bảo những yếu tố cơ bản sau:
- Uy tín cao: Thể hiện mức độ tin tưởng, sự tín nhiệm của khách hàng hiện
có dành cho ngân hàng.
- Chất lượng dịch vụ cao: Thể hiện qua sự hiện đại hóa công nghệ ngân
hàng, sự đa dạng về hình thức dịch vụ, chất lượng sản phẩm, phong cách giao tiếp
của nhân viên đối với khách hàng. Nhân viên hiểu được người gửi tiền muốn gì.
- Lãi suất kích thích: Trả cho người gửi tiền thỏa đáng, nếu không nói là tốt
hơn các ngân hàng khác.
- Điều kiện kinh tế xã hội: Trong điều kiện kinh tế tăng trưởng, trật tự xã
hội ổn định, người dân an tâm sản xuất dẫn đến thu nhập cũng như đời sống của
họ được nâng cao. Do đó, nhu cầu sử dụng những tiện ích của ngân hàng ngày
càng nhiều, cũng như an tâm gửi tiền vào ngân hàng góp phần làm tăng vốn huy
động của ngân hàng.
- Thu nhập của khách hàng: Đối với khách hàng là cá nhân thì thu nhập chủ
yếu từ sản xuất nông nghiệp, từ lương…còn khách hàng là tổ chức kinh tế thì thu
nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh…Nếu khách hàng có thu nhập khá và ổn
định thì nhu cầu gửi tiền hay thanh toán qua ngân hàng sẽ tăng, tạo điều kiện thuận
lợi cho công tác huy động vốn của ngân hàng.
- Thói quen chi tiêu – tiết kiệm của khách hàng: Đối với người dân ở vùng
nông thôn chi tiêu hàng ngày của họ chủ yếu dành cho thực phẩm, giáo dục và y
tế. Vì vậy, sau khi đã trừ đi những chi phí sinh hoạt hàng ngày số tiền còn lại họ có
thể mua vàng hay chơi hụi để tiết kiệm. Do đó, ngân hàng phải có kế hoạch huy
động vốn để tận dụng những nguồn vốn nhỏ lẻ trong từng hộ gia đình để bổ sung
nguồn vốn kinh doanh chi phí thấp cho mình.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 8 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
2.1.5. Nguồn vốn đi vay của các ngân hàng khác.
Nguồn vốn đi vay của các ngân hàng khác là nguồn vốn được hình thành bởi
các mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng
với Ngân hàng Nhà nước. Nguồn vốn đi vay bao gồm:
- Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng khác.
- Nguồn vốn vay của Ngân hàng Trung ương.
* Ưu điểm: Ngân hàng có thể vay số tiền lớn và nhanh.
* Nhược điểm: Khi vay vốn của Ngân hàng Trung Ương hoặc của các Tổ
chức tín dụng khác, các ngân hàng thương mại thường phải chịu chi phí lớn, do
Ngân hàng Trung Ương cho vay theo lãi suất chiết khấu, các Tổ chức tín dụng
khác cho vay theo lãi suất thị trường. Vì vậy, hiệu quả kinh tế mang lại từ việc sử
dụng nguồn vốn này đối với các ngân hàng thương mại không cao. Trong thực tế
nguồn vốn này cũng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh
doanh của các ngân hàng thương mại.
2.1.6. Một số vấn đề trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
2.1.6.1. Các nguyên tắc của tín dụng
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.
- Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn trên hợp đồng tín dụng.
2.1.6.2. Điều kiện vay vốn
Ngân hàng xem xét và quyết định cho khách hàng vay khi có đủ các điều
kiện sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo qui định của pháp luật.
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết.
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và phù
hợp với qui định của pháp luật.
- Thực hiện qui định về bảo đảm tiền vay theo qui định của chính phủ, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và hướng dẫn của Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL.
2.1.6.3. Lãi suất cho vay
a) Khái niệm.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 9 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
- Lãi suất cho vay là tỉ lệ phần trăm giữa số lợi tức thu được trong kỳ so với
số vốn cho vay phát ra trong một thời kỳ nhất định. Thông thường lãi suất tính cho
năm, quý, tháng.
- Mức lãi suất cho vay do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với
Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng. Ngân hàng có trách
nhiệm công bố công khai các mức lãi suất cho vay cho khách hàng biết.
- Lãi suất cho vay ưu đãi được áp dụng đối với khách hàng được ưu đãi về
lãi suất theo qui định của Chính Phủ, hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
- Trường hợp khoản vay bị chuyển nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn
theo mức qui định của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước không vượt quá 150% lãi
suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong
hợp đồng tín dụng.
2.1.7. Rủi ro tín dụng
a) Khái niệm rủi ro tín dụng
- Rủi ro tín dụng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện
được nghĩa vụ tài chính của mình đối với ngân hàng. Hay nói cách khác rủi ro tín
dụng là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do
nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho
ngân hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt
động và có thể làm cho ngân hàng bị phá sản
- Biểu hiện rủi ro: Nợ xấu ngày càng lớn, lãi chưa thu hồi ngày càng tăng.
Rủi ro tín dụng =
b) Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng
* Nguyên nhân từ khách hàng vay vốn
Rủi ro tín dụng biểu hiện ra bên ngoài là việc không hoàn thành nghĩa vụ trả
nợ, vốn bị ứ đọng khó có khả năng thu hồi, nợ quá hạn ngày càng lớn, các khoản
lãi chưa thu ngày càng gia tăng…. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là:
+ Đối với khách hàng là cá nhân:
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 10 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
Nợ xấu
Tổng dư nợ
X 100%
Khi các cá nhân vay vốn gặp phải các nguy cơ sau đây thường không trả nợ
cho ngân hàng đầy đủ cả vốn lẫn lãi như: thu nhập không ổn định; bị sa thảy, thất
nghiệp; bị tai nạn lao động; hỏa hoạn, lũ lụt; hoàn cảnh gia đình khó khăn; sử dụng
vốn sai mục đích; thiếu năng lực pháp lý.
+ Đối với khách hàng là doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp thường không trả được nợ vay của ngân hàng đầy đủ cả
gốc lẫn lãi khi gặp phải các trường hợp sau: Năng lực chuyên môn và uy tín của
người lãnh đạo đơn vị giảm thấp; khả năng tài chính của doanh nghiệp bị giảm do
lỗ lã trong kinh doanh; sử dụng vốn sai mục đích; thị trường cung cấp vật tư bị đột
biến; bị cạnh tranh và mất thị trường tiêu thụ; sự thay đổi trong chính sách Nhà
nước; những tai nạn bất ngờ: hỏa hoạn, động đất, công nhân đình công, chiến
tranh,…
* Nguyên nhân khách quan
- Tình hình trong nước:
Hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động rất nhạy cảm với biến động
của nền kinh tế - xã hội như:
+ Thứ nhất khi nền kinh tế bị suy thoái thường xuất hiện những doanh
nghiệp thua lỗ và phá sản từ đó các khoản tiền vay của ngân hàng không trả được
sẽ làm cho nợ quá hạn trong ngân hàng tăng lên nhanh chóng và tác động sâu sắc
đến tình hình kinh tế xã hội của quốc gia.
+ Thứ hai khi nền kinh tế có lạm phát cao và ngày càng gia tăng cũng có thể
dẫn đến rủi ro tín dụng vì người gởi tiền có tâm lý lo sợ rằng đồng tiền của mình
bị mất giá khi gởi trong ngân hàng. Trong khi đó thì người đi vay thì muốn gia
tăng nhu cầu vay vốn và tìm cách kéo dài thời hạn vay. Điều này sẽ gây ảnh hưởng
không nhỏ đến nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, làm cho những khoản đầu tư
của ngân hàng không hiệu quả và có thể dẫn đến nguy cơ ngân hàng bị phá sản.
- Tình hình thế giới:
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, mỗi quốc gia là một tế
bào của nền kinh tế thế giới. Hoạt động kinh tế của nước này có tác động và ảnh
hưởng đến nền kinh tế của nước khác. Sự xuất hiện các khu vực kinh tế và các khu
mậu dịch tự do như NAFTA, AFTA,… cho thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của các
nước trong khu vực cũng như thế giới đối với các nước thành viên. Chính vì vậy,
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 11 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
khi có sự biến động về kinh tế, chính trị, quân sự xảy ra ở bất kỳ nước nào sẽ ảnh
hưởng đến các nước khác trên thế giới, và sẽ dẫn đến biến động kinh tế trong nước
và tác động xấu đến ngân hàng.
2.1.8. Một số chỉ tiêu phản ánh hoạt động tín dụng của ngân hàng
2.1.8.1. Doanh số cho vay
a) Khái niệm.
- Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng cho khách
hàng vay trong một thời gian nhất định bao gồm vốn đã thu hồi hay chưa thu hồi.
b) Những nhân tố ảnh hưởng đến doanh số cho vay của ngân hàng.
Doanh số cho vay thể hiện được quy mô hoạt động tín dụng của ngân hàng
và chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố sau:
- Vốn huy động: Nếu như ngân hàng huy động vốn càng nhiều, đặt biệt là
vốn có kỳ hạn thì việc chủ động trong cho vay của ngân hàng càng cao.
- Nhu cầu vốn trong xã hội: Có cầu thì mới có cung, vì vậy khi khách hàng
có nhu cầu vay vốn cao đồng thời thỏa mãn yêu cầu vay vốn của ngân hàng thì
ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu vốn đó làm cho doanh số cho vay tăng.
- Điều kiện kinh tế xã hội: Như nói ở trên trong điều kiện kinh tế xã hội ổn
định và phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân được thuận lợi.
Do vậy, nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất rất cao cũng là nguyên nhân làm tăng
doanh số cho vay của ngân hàng.
- Uy tín của khách hàng: Đây là một yếu tố khó đánh giá, uy tín trong quan
hệ tín dụng không chỉ là sự sẵn lòng trả nợ mà còn là thái độ thực hiện các cam kết
trong hợp đồng tín dụng. Thông thường, ngân hàng đánh giá uy tính của khách
hàng thông qua hồ sơ quá khứ, phỏng vấn người vay, hiệu quả hoạt động kinh
doanh của khách hàng
- Năng lực vay nợ của khách hàng:
Ngân hàng phải chắc rằng khách hàng đang giao dịch có thẩm quyền để yêu
cầu một khoản vay và tư cách pháp lý, tư cách thể nhân hoặc pháp nhân của khách
hàng để ký kết hợp đồng tín dụng. Đặc điểm này của khách hàng được gọi là năng
lực vay tiền.
Đối với khách hàng là công ty, ngân hàng cũng sẽ phải chắc rằng người đại
diện công ty vay vốn, có thẩm quyền đầy đủ để thương lượng khoản vay và ký kết
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 12 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
hợp đồng tín dụng nhân danh công ty. Một hợp đồng tín dụng được ký, nhưng
không đủ quyền về mặt pháp lý có thể dẫn đến nhiều rắc rối và tổn thất vốn đáng
kể cho ngân hàng.
- Vốn tự có của khách hàng: Đây là khoản mục mà ngân hàng đặc biệt quan
tâm, nó giúp cho ngân hàng đánh giá được khả năng tài chính và quy mô hoạt
động của khách hàng vay vốn. Nếu vốn tự có của khách hàng tham gia càng lớn,
điều đó làm cho khách hàng quan tâm nhiều hơn mục tiêu vay vốn làm cho dự án
sinh lời đúng theo kế hoạch.
- Tài sản thế chấp và cầm cố:
Đánh giá khía cạnh đảm bảo một khoản vay và cũng là căn cứ định giá để
quyết định mức cho vay đối với khách hàng. Tài sản làm đảm bảo phải dễ chuyển
nhượng, thông thường tài sản thế chấp, cầm cố là giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá, các loại động sản như xe, xà lan…
Song, đây là yếu tố sau cùng vì ngân hàng vẫn mong muốn rằng khoản cho
vay của ngân hàng được khách hàng hoàn trả bằng lợi nhuận của phương án vay
vốn. Việc thanh lý hay phát mãi tài sản thế chấp và cầm cố chỉ là giải pháp sau
cùng.
2.1.8.2. Doanh số thu nợ
a) Khái niệm
- Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng thu về được
khi đáo hạn vào một thời điểm nhất định nào đó.
b) Nhân tố ảnh hưởng đến doanh số thu nợ của ngân hàng
- Uy tín của khách hàng vay vốn: Uy tín của khách hàng thể hiện trong việc
thực hiện đúng như giao ước trong hợp đồng tín dụng và việc trả nợ đúng hạn.
- Điều kiện kinh tế xã hội:
+ Kinh tế tăng trưởng, thời tiết thuận lợi, giá cả nông sản tăng…nên sản xuất
đạt hiệu quả, kinh doanh có lời tạo điều kiện cho khách hàng trả nợ tốt. Ngược lại,
kinh tế suy thoái hoặc lạm phát, thời tiết bất thường, dịch bệnh gây ảnh hưởng
đến hoạt động sản xuất của người dân làm hạn chế khả năng trả nợ của khách
hàng.
+ Điều kiện chính trị, xã hội cũng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách
hàng vay vốn nhưng nó thường vượt quá sự kiểm soát của người vay vốn, kể cả
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 13 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
người cho vay. Do vậy, cán bộ tín dụng của ngân hàng phải không ngừng cập nhật
thông tin và phân tích tình hình kinh tế xã hội trong và ngoài nước của từng ngành
nghề mà ngân hàng cho vay.
- Cán bộ tín dụng: Thể hiện ở khâu thẩm định, lựa chọn khách hàng của cán
bộ tín dụng, đồng thời thường xuyên đôn đốc khách hàng trả nợ.
2.1.8.3. Dư nợ
- Là chỉ tiêu phản ánh số nợ mà ngân hàng đã cho vay và chưa thu được vào
một thời điểm nhất định.
- Để xác định được dư nợ, ngân hàng sẽ so sánh giữa 2 chỉ tiêu doanh số cho
vay và doanh số thu nợ.
2.1.8.4. Nợ quá hạn
- Là chỉ tiêu phản ánh các khoản nợ đến hạn mà khách hàng không có khả
năng trả nợ cho ngân hàng và không có lý do chính đáng khi đó ngân hàng sẽ
chuyển từ tài khoản dư nợ sang tài khoản nợ quá hạn.
2.1.9. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng
2.1.9.1. Chỉ tiêu vốn huy động trên tổng nguồn vốn.
Tỷ số này nhằm đánh giá khả năng huy động vốn của ngân hàng. Đối với
ngân hàng thương mại nếu tỷ số này càng cao thì khả năng chủ động của ngân
hàng càng lớn.
2.1.9.2. Chỉ tiêu về vốn huy động có kỳ hạn trên tổng nguồn vốn.
Tỷ số này cho biết tính ổn định vững chắc của nguồn vốn huy động tại một tổ
chức tín dụng. Tỷ số này càng lớn thì nguồn vốn huy động càng ổn định.
2.1.9.3. Chỉ tiêu dư nợ trên tổng nguồn vốn
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 14 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
Vốn huy động/Tổng nguồn vốn
=
Vốn huy động
Tổng nguốn vốn
=
=
Vốn huy động có kỳ hạn/Tổng nguồn vốn
Vốn huy động có kỳ hạn
Tổng nguồn vốn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét