Trang 5
Hình 1.1: Qui trình nghiên cứu
Chương II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Ch-III: NHU CẦU THỊ
TRƯỜNG
Nhận chuyển giao
công nghệ Tự động
hóa
Ch-V: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH Ch-V: PHÂN TÍCH KINH TẾ
Xây dựng qui trình
công nghệ
Ch-IV: THIẾT KẾ QUI
TRÌNH SX
Sản lượng bán Gía bán
Các chi phíDoanh thuDự báo nhu cầu
Ch-VI: KẾT LUẬN VÀ NHẬN XÉT
Đường
cầu
Trường
GTĐG
Qui mô sản
xuất tối ưu
Trang 6
2.1 PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO NHU CẦU
2.1.1 Phương pháp hồi qui [ 8 ]
Phương pháp hồi qui đa biến là một kỹ thuật nghiên cứu được sử dụng phổ biến trong
kinh tế lượng nhằm xây dựng mối quan hệ tuyến tính giữa các yếu tố kinh tế. Phương
pháp này cho phép xác định sự thay đổi của biến cần nghiên cứu (biến phụ thuộc)
dựa vào sự thay đổi của một hoặc nhiều biến nguyên nhân (biến độc lập). Các biến
trong mô hình hồi qui được thu thập theo thời gian.
Mô hình toán
Yt = A
0
+ ΣAiXt + ε
t
( 2.1 )
Trong đó : Yt : biến phụ thuộc
Xt : biến độc lập
A
0
: tung độ gốc
Ai : hệ số độ dốc
ε
t
: sai số ngẫu nhiên.
Việc ước lượng các hệ số A
0
, Ai trong phương trình hồi qui theo phương pháp bình
phương tối thiểu dựa trên cơ sở các dữ liệu thống kê trong quá khứ. Mức độ chính
xác của phương pháp này thể hiện ở tổng bình phương độ lệch giữa giá trị lý thuyết
hàm hồi quy và giá trị thực tế của chuỗi các tham số theo thời gian là nhỏ nhất.
Mức độ thích hợp của mô hình được đánh giá dựa trên chỉ số R
2
, Khi R
2
càng tiến tới
1 thì mô hình hồi qui càng thích hợp với các giá trị thực nghiệm.Việc kiểm định mô
hình dựa trên t
stat
, hoặc P-value, với n dữ liệu, bậc tự do là k, độ tin cậy (1 - α) thì mô
hình phù hợp khi tstat
> tn
-k,
α
/2
hoặc P-value < α.
Xây dựng phương trình hồi quy và kiểm định được thực hiện bằng phần mềm E.View
2.1.2 Phương pháp chuỗi thời gian [ 8 ]
Phương pháp dự báo dựa vào chuỗi thời gian của dữ liệu, dùng để biểu thị những
thay đổi của một đại lượng nghiên cứu theo thời gian qua việc phân tích và dự đoán
xu thế của biến số trong tương lai dựa trên những dữ liệu theo thời trong quá khứ.
Phương pháp này chỉ cho phép tiến hành các dự báo ngắn hạn. Mô hình chuỗi thời
gian được cấu thành từ ba yếu tố :
Trang 7
Xu thế phát triển dài hạn của đại lượng nghiên cứu
Những dao động có tính chu kỳ
Yếu tố ngẫu nhiên.
Trong các phương pháp dự báo theo chuỗi thời gian, mô hình trung bình trượt kết
hợp tự hồi qui – ARIMA hay phương pháp Box –Jenkins được sử dụng phổ biến.
2.1.3 Phương pháp dự báo theo tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
Căn cứ vào dữ liệu của năm gốc thường chọn là năm hiện tại và tỷ lệ tăng trưởng dự
báo. Kết quả dự báo là số liệu của năm gốc cộng với mức tăng trưởng đến năm cần
dự báo. Để dự báo tỷ lệ tăng trưởng người ta dựa vào kết quả thống kê trong quá khứ,
xu thế phát triển và ý kiến của các chuyên gia trong ngành về lĩnh vực cần dự báo.
Phương pháp này thường được sử dụng trong thực tế để dự báo ngắn hạn và trung
hạn, dễ ước lượng, tính toán. Khó xác định chính xác tỷ lệ tăng trưởng khi số liệu
trong quá khứ biến thiên nhiều.
2.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH [ 4 ]
Phân tích tài chính là đánh giá triển vọng tài chính, khả năng thành công và hiệu quả
của dự án dưới góc độ của các tổ chức, cá nhân tham gia vào dự án. Trong phân tích
tính khả thi của dự án người ta thường sử dụng ba nhóm phương pháp phân tích là:
giá trị tương đương, suất thu lợi và tỷ số lợi ích/chi phí. Trong luận văn này chỉ sử
dụng hai nhóm phương pháp phổ biến là giá trị tương đương và suất thu lợi.
2.2.1 Các phương pháp phân tích tài chính
Nhóm phương pháp giá trị tương đương: Nhóm phương pháp giá trị tương đương
gồm ba phương pháp là:
Giá trị hiện tại ròng (NPV – Net Present Value)
Chuỗi giá trị đều hàng năm (AW – Annual Worth)
Giá trị tương lai (FW – Future Worth).
Nội dung của nhóm phương pháp này là quy đổi toàn bộ dòng tiền tệ thu nhập và
dòng tiền tệ chi phí của dự án về một giá trị hiện tại, hoặc thành một chuỗi giá trị đều
hàng năm, hoặc một giá trị tương lai với mức chiết khấu được chọn. Trong thực tế
chiết khấu được chọn thường là suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được MARR
Trang 8
(Minimum Attractive Rate of Return). Dự án được xem là đáng giá khi NPV, AW,
FW ≥ 0.
Trong luận văn này phương pháp giá trị hiện tại ròng được sử dụng để phân tích hiệu
quả tài chính của dự án, phương pháp này được giới thiệu chi tiết dưới đây.
Phương pháp giá trị hiện tại ròng
Giá trị hiện tại ròng là hiệu số giữa giá trị hiện tại của dòng thu nhập và giá trị hiện
tại của dòng chi phí đã được chiết khấu với một lãi suất yêu cầu thích hợp. NPV
được tính theo công thức :
∑
=
+
−
=
N
t
t
i
CtBt
NPV
0
)1(
( 2.2 )
Trong đó : B
t
: lợi ích ở năm thứ t
C
t
: chi phí ở năm thứ t
i : suất chiết khấu yêu cầu
t : thứ tự năm hoạt động của dự án
N : số năm hoạt động của dự án.
Đánh giá dự án theo NPV: dự án đáng giá khi NPV ≥ 0
So sánh nhiều dự án theo NPV: nếu có nhiều dự án loại trừ nhau thì dự án có NPV
dương lớn nhất sẽ được chọn.
2.2.2 Các quan điểm phân tích tài chính
Phân tích tài chính dự án được xây dựng theo những quan điểm khác nhau của các tổ
chức, cá nhân có liên quan đến dự án cho phép đánh giá dự án có hấp dẫn những nhà
đầu tư và những nhà tham gia thực hiện dự án hay không. Do đó luận văn tập trung
phân tích tài chính theo quan điểm tổng đầu tư (ngân hàng) và quan điểm chủ đầu tư.
2.2.2.1 Phân tích theo quan điểm tổng đầu tư
Quan điểm tổng đầu tư còn gọi là quan điểm ngân hàng. Theo quan điểm này, dự án
được xem như một hoạt động có khả năng tạo ra những lợi ích tài chính và thu hút
những nguồn chi phí tài chính rõ ràng. Các nhà phân tích xem xét toàn bộ dòng chi
phí, lợi ích thu được trong đó có tính đến chi phí cơ hội của những thành phần tài
chính đóng góp vào dự án.
Trang 9
Phân tích theo quan điểm tổng đầu tư được trình bày như sau :
A = Lợi ích tài chính trực tiếp - Chi phí tài chính trực tiếp - Chi
phí cơ hội của tài sản hiện có đóng góp vào dự án. ( 2.3 )
Suất chiết khấu được sử dụng trong phân tích theo quan điểm tổng đầu tư là giá sử
dụng vốn trung bình WACC của dự án. Trong đó WACC là trung bình trọng của giá
sử dụng vốn của chủ đầu tư và lãi vay.
2.2.2.2 Phân tích theo quan điểm chủ đầu tư
Phân tích theo quan điểm chủ đầu tư hay quan điểm cổ đông, các nhà phân tích xem
xét dòng tài chính chi cho dự án và các lợi ích thu được, đi kèm với chi phí cơ hội
của vốn cổ đông góp vào dự án; coi vốn vay là khoản thu, trả vốn vay và lãi là khoản
chi.
B = A + Vốn vay - Trả lãi và nợ vay. ( 2.4 )
Suất chiết khấu được sử dụng theo quan điểm này là giá sử dụng vốn của chủ đầu tư.
2.2.3 Phân tích rủi ro
Rủi ro là sự sai lệch giữa giá trị ước tính hay kế hoạch so với giá trị thực tế. Việc
phân tích rủi ro của dự án nhằm cung cấp thông tin về các khả năng có thể xảy ra ảnh
hưởng đến hiệu quả dự án. Nguồn gốc của rủi ro là do sai số dự báo của các yếu tố
nhập lượng và xuất lượng của dự án, sự không chắc chắn liên quan đến loại hình đầu
tư kinh doanh, tình hình kinh tế chính trị xã hội, sự thay đổi của công nghệ và thiết
bị. Do đó, các dự án đều có rủi ro nhất định tùy vào sự thay đổi của môi trường và
mức độ tin cạây của các thông tin dự báo. Phần này chúng tôi giới thiệu ba phương
pháp phân tích rủi ro đang được sử dụng phổ biến hiện nay là phân tích độ nhạy,
phân tích tình huống và phân tích rủi ro bằng mô phỏng.
2.2.3.1 Phân tích độ nhạy
Phân tích độ nhạy là phân tích những ảnh hưởng của sự thay đổi các yếu tố đầu vào
đến hiệu quả của dự án. Trước hết, ta chọn các tham số có khả năng ảnh hưởng đến
kết quả dự án, sau khi tiến hành phân tích xác định các tham số nhạy cảm, là những
tham số mà khi thay đổi sẽ tác động nhiều đến kết quả dự án.
Trang 10
2.2.3.2 Phân tích tình huống
Trên cơ sở phân tích độ nhạy, chúng ta xác định các tham số quan trọng ảnh hưởng
đến kết quả dự án. Phân tích tình huống nhằm giúp cho việc đánh giá tác động đồng
thời của nhiều tham số và sự tương tác của chúng lên kết quả cần nghiên cứu. Sau đó
chọn ra các tình huống tốt nhất, trung bình và xấu nhất có thể xẩy ra đối với các tham
số để phân tích hiệu quả dự án mà cụ thể là giá trị NPV và IRR.
2.2.3.3 Phân tích rủi ro bằng mô phỏng
Trong phần này chúng tôi dùng phương pháp mô phỏng Monte Carlo để phân tích rủi
ro của dự án. Việc phân tích bằng mô phỏng cho phép nghiên cứu đồng thời ảnh
hưởng của các tham số liên quan đến kết quả dự án trên cơ sở phân phối xác suất.
Đầu tiên chúng ta phải xây dựng mô hình của dự án, sau đó xác định phân phối xác
suất cho cho tham số không chắc chắn tham gia trong mô hình dựa trên các dữ liệu
thu thập được trong quá khứ và cuối cùng là chọn số lần chạy mô phỏng đủ lớn để
kết quả đạt được độ tin cậy mong muốn. Kết quả mô phỏng cho phép xác định xác
suất thành công của dự án dựa trên các tiêu chuẩn đã chọn. Khi chạy mô phỏng mô
hình trên máy tính, máy sẽ thực hiện tạo chuỗi ngẫu nhiên cho các tham số để xác
định giá trị thử nghiệm của mô hình. Tiến trình trên sẽ được thực hiện đến số lần thử
mong muốn. Để thực hiện phân tích rủi ro bằng mô phỏng chúng tôi sử dụng phần
mềm @RISK ( Tài liệu tham khảo 9 )
2.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KINH TẾ [ 7 ]
Phân tích kinh tế là một nội dung quan trọng trong phân tích dự án. Phân tích kinh tế
có các tác dụng sau đây:
Đối với nhà đầu tư: phần phân tích kinh tế là căn cứ chủ yếu để nhà đầu tư thuyết
phục các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án và thuyết phục ngân hàng cho vay
vốn.
Đối với Nhà nước: phân tích kinh tế là căn cứ chủ yếu để quyết định có cấp giấy
phép đầu tư hay không
Trang 11
Đối với các ngân hàng: phân tích kinh tế là cơ sở để ngân hàng quyết định có tài trợ
vốn hay không.
Giữa phân tích tài chính và phân tích kinh tế có những điểm khác biệt nhất định.
Xét về mặt quan điểm, giữa phân tích tài chính và phân tích kinh tế có những khác
biệt sau đây:
- Phân tích tài chính chỉ mới xét trên tầng vi mô còn phân tích kinh tế sẽ phải xét
trên tầng vĩ mô.
- Phân tích tài chính mới xét trên góc độ của chủ đầu tư còn phân tích kinh tế phải
xuất phát từ quyền lợi của cả quốc gia.
- Mục tiêu chính của nhà đầu tư là tối đa hoá lợi nhuận nhưng không đảm bảo
mang lại giá trị kinh tế cho quốc gia thậm chí còn có thể có hại.
Do đó mặc dù đã tiến hành phân tích tài chính rồi, dự án đôi lúc cần phải tiến hành
phân tích kinh tế, và như đã trình bày đây chính là căn cứ để Nhà nước cấp giấy phép
đầu tư và ngân hàng tài trợ cho dự án.
Như vậy khi phân tích kinh tế dự án, người phân tích phải đặt mình vào vị trí của
người thẩm định dự án để xem xét vấn đề.
Do có sự khác nhau về mặt quan điểm nên trong tính toán cũng có nhiều điểm
khác nhau giữa phân tích tài chính và phân tích kinh tế. Phân tích kinh tế không tách
rời khỏi phân tích tài chính mà giữa chúng có những mối liên hệ nhất định vì các yếu
tố đầu vào và đầu ra nói chung là giống nhau.
2.3.1 Phương pháp xác định tỷ lệ sinh lời kinh tế ERR (Economic Rate of
Return)
Đối với các dự án thay thế nhập khẩu, sự đóng góp của dự án vào nền kinh tế chính
là giá trị mà xã hội đáng lẽ phải trả cho sản phẩm của dự án thay vì phải nhập khẩu.
Khi tính toán, các khoản thu nhập, chi phí được đưa về hiện giá vì các khoản này xảy
ra ở các thời điểm khác nhau. Cách tính được dựa vào các kết quả phân tính tài chính
và tiến hành một số điều chỉnh cần thiết sau:
a. Doanh thu kinh tế:
Trang 12
Để tính doanh thu kinh tế, giá bán sản phẩm lấy theo giá CIF cảng Việt Nam
của sản phẩm cùng loại nhập khẩu cộng thêm các lệ phí phải trả cho các ngân hàng.
b. Chi phí kinh tế
- Nguyên liệu: với nguyên liệu nhập khẩu tính theo giá CIF, nguyên liệu xuất
khẩu tính theo giá FOB và không tính các loại thuế trong các chi phí này.
- Nhân công trực tiếp: đối với nhân công có chuyên môn, chi phí vẫn để nguyên,
còn đối với nhân công không chuyên môn, chỉ tính bằng 50%.
- Nhiên liệu năng lượng: tính theo giá CIF trừ đi thuế, chi phí nước được giữ
nguyên.
- Chi phí bao bì: chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, không điều chỉnh.
- Nhân công gián tiếp: được xem như có chuyên môn nên để nguyên.
- Các chi phí khác như: thuê mướn nhà cửa, bảo hiểm xã hội, quản lý hành
chánh, chuyên chở, bốc xếp không phải điều chỉnh.
c. Chi phí đầu tư:
- Chi phí ban đầu: không điều chỉnh
- Chi phí về đất: nếu đất đang sử dụng thì giữ nguyên (như đất công nghiệp,
nông nghiệp,…) còn nếu là đất hoang thì lấy giá trị bằng 0.
- Chi phí xây dựng cơ bản. Nếu chi phí này lớn thì chia thành hai phần để điều
chỉnh. Vật liệu, xe máy lấy theo giá mua, thuê trừ các khoản thuế. Nhân công
được điều chỉnh như trên.
- Chi phí máy móc thiết bị: đối với máy móc thiết bị nhập khẩu lấy theo giá CIF,
các thiết bị nội địa lấy bằng giá mua trừ đi các khoản thuế.
- Chi phí lắp đặt thiết bị: không điều chỉnh vì chủ yếu là trả cho công nhân có
chuyên môn.
- Vốn lưu động: các khoản phải thu, khoản phải trả, các khoản dự trữ không có
giá trị kinh tế, không điều chỉnh.
Để tính thu chi, lời lỗ kinh tế, lập bảng sau:
Bảng 2-1 Tính lời kinh tế
Hạng mục Năm 1 Năm 2 Năm 3 … Năm
10
I. Doanh thu kinh tế
Trang 13
-
II. Chi phí sản xuất kinh tế
-
III. Chi phí đầu tư
-
Cộng chi (II+III)
IV. Lời kinh tế
I-(II+III)
Để tính tỷ lệ sinh lời kinh tế (ERR), lập bảng sau và đưa về hiện giá.
Bảng 2-2 Tính tỷ lệ sinh lời kinh tế
Năm thực
hiện
Số thu
(1)
Số chi
(2)
Kết số
(2) – (1)
Hiện giá thuần
Chiết khấu
%
Chiết khấu
%
1
2
10
2.3.2 Phương pháp xác định giá trị hàng hoá gia tăng
Giá trị sản phẩm hàng hoá gia tăng, gọi tắt là giá trị gia tăng của một dự án bao
gồm:
- Giá trị gia tăng trực tiếp: là giá trị do chính hoạt động của dự án sinh ra.
- Giá trị gia tăng gián tiếp: là những giá trị gia tăng thu được từ các dự án khác
hoặc các hoạt động kinh tế khác do phản ứng dây chuyền mà dự án sinh ra.
Giá trị gia tăng = Giá trị gia tăng trực tiếp + Giá trị gia tăng gián tiếp
Trong đó:
Giá trị gia tăng trực tiếp = Lãi ròng + Lương + Thuế + Các khoản trả nợ – Trợ giá
Trang 14
Giá trị gia tăng gián tiếp trong đa số trường hợp không tính toán được mà chỉ phân
tích định tính. Giá trị gia tăng gián tiếp có thể kể đến là: dự án góp phần làm phát
triển các ngành khác, thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, góp phần phát triển địa
phương, Giá trị gia tăng được tính cho từng năm hoạt động và tổng cộng cho cả thời
hạn đầu tư.
Sau khi tính được giá trị gia tăng, tiếp tục tính một số chỉ tiêu liên quan và lập
bảng sau:
Bảng 2-3 Tính các chỉ tiêu kinh tế
Các chỉ tiêu
Năm thứ
1 2 … 10
1. Giá trị gia tăng
2. Giá trị gia tăng/tổng vốn đầu tư
3. Giá trị gia tăng/tổng giá trị hàng
hoá và dịch vụ mua ngoài.
2.4 MÔ HÌNH TRƯỜNG GIÁ TRỊ ĐÓNG GÓP [ 1 ]
Mô hình Trường lợi nhuận giúp xác định “Sản lượng tối ưu” từ đó có thể lựa chọn
qui mô sản xuất tối ưu cho dự án. Ngòai ra nó còn giúp cho doanh nghiệp họach định
chiến lược kinh doanh sau này dựa trên ‘lượng bán tối ưu’ và ‘giá bán tối ưu’
Mô hình trường lợi nhuận được xây dựng dựa trên: Đường giá trị đóng góp và đường
cầu
Đường giá trị đóng góp
Phương trình lợi nhuận: LN = p*q – C(q) = p*q – C
bđ
*q – C
0
( 2.5 )
Trong đó: + p: giá bán
+ q: lượng bán
+ C(q): tổng chi phí,
+ C
0
: chi phí cố định
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét