Chương 3: Truyện cổ tích các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Chương 4: Mối quan hệ và nét đặc trưng của truyện kể dân gian các dân
tộc thiểu số miền núi phía Bắc
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU
TRUYỆN KỂ DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Truyện kể dân gian nói chung là sản phẩm văn hóa tinh thần sớm được hình
thành từ trong đời sống lao động và sinh hoạt của các dân tộc. Truyện kể dân gian
được lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ vùng này sang vùng khác tạo nên sức
sống lâu dài, bền bỉ. Các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc là một bộ phận cư dân
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vì thế điều kiện sinh sống tự nhiên, đời sống
văn hóa, tín ngưỡng, phong tục có những tương đồng và không ít khác biệt so với
các dân tộc thiểu số ở khu vực khác. Chính những yếu tố này có tác động quan trọng
và góp phần tạo nên bản sắc cũng như sức sống, sức lưu truyện của truyện kể dân
gian nói riêng, văn học dân gian nói chung. Do đó, trước khi đi vào nghiên cứu cụ
thể kho truyện kể phong phú của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc,
chúng tôi thấy cần thiết phải trình bày khái lược những nội dung có ý nghĩa cơ sở,
nền tảng liên quan như không gian địa - văn hóa khu vực miền núi phía Bắc trong đó
các dân tộc thiểu số là chủ nhân trung tâm, khái quát về văn học dân gian, diện mạo
và tư liệu truyện kể dân gian các dân tộc nơi đây cùng với khái niệm và phương pháp
nghiên cứu truyện kể theo type và motif.
1.1. Điều kiện tự nhiên, đặc điểm xã hội khu vực miền núi phía Bắc
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Theo các nhà địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế, miền núi phía Bắc là khu vực có
địa hình chủ yếu là đồi núi cao, hiểm trở, được phân chia một cách tự nhiên thành hai
vùng Đông Bắc và Tây Bắc. Đông Bắc là vùng có nhiều núi cao, cao nguyên xen với
những thung lũng- cánh đồng lòng chảo, những dòng sông dài và nhiều danh lam
thắng cảnh. Đông Bắc nổi tiếng với những ngọn núi cao như Tây Côn Lĩnh, Ngân
Sơn, Mẫu Sơn…với những cao nguyên nằm ở biên giới Việt - Trung như cao nguyên
Bắc Hà, Quản Bạ, Đồng Văn…Bên cạnh đó, vùng Đông Bắc còn chứa cả những
thung lũng với những cánh đồng bằng phẳng như Nước Hai, Lộc Bình, Phủ Thông…
và khá nhiều con sông lớn nhỏ như sông Lô, sông Chảy, sông Bằng Giang, sông Kỳ
Cùng…Khí hậu Đông Bắc cơ bản thuộc về vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ
6
trung bình trong năm là từ 20-22 độ C. Đáng chú ý là nhiệt độ giữa ban ngày và ban
đêm chênh lệch nhau khá nhiều. Cá biệt có những nơi vào mùa đông nhiệt độ hạ thấp
tạo ra những dải tuyết trắng phủ đầy trên các đỉnh núi. Có thể thấy, về mặt địa lý tự
nhiên, Đông Bắc là vùng có đủ các yếu tố mang tính đại diện cho cả nước. Ở đây, có
núi cao, có sông dài, có vùng thấp vùng cao, có thung lũng, có cánh đồng, có biển, có
biên giới quốc gia. Đó cũng là vùng chuyển tiếp từ đồng bằng châu thổ sông Hồng
lên vùng biên giới Đông Bắc. Môi trường tự nhiên cơ bản là điều kiện thuận lợi và có
nhiều ưu đãi cho quá trình xây dựng và phát triển đời sống của cư dân vùng Đông
Bắc nói chung trong đó có các tộc người dân tộc thiểu số.
Cùng với Đông Bắc, Tây Bắc là vùng có điều kiện tự nhiên đặc biệt. Khu vực
này nổi tiếng với các cánh đồng rộng lớn màu mỡ là: nhất Thanh (Mường Thanh-
Điện Biên), nhì Lò (Mường Lò- Văn Chấn- Yên Bái), tam Thanh (Mường Thanh-
Than Uyên- Lai Châu) và tứ Tấc (Mường Tấc- Phù Yên- Sơn La). Ngoài ra, địa bàn
sinh tụ của các nhóm Mường còn nổi danh với bốn mường: nhất Bi (Mường Bi- Tân
Lạc), nhì Vang (Lạc Sơn), tam Thàng (Kỳ Sơn) và tứ Động (Chiềng Động- Kim Bôi)
thuộc tỉnh Hòa Bình. Tây Bắc cũng là khu vực có những ngọn núi cao vào loại nhất
nhì Việt Nam như đỉnh Phanxipăng, dãy Hoàng Liên Sơn…Khí hậu nơi đây là khí
hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi điển hình. Mùa đông lạnh, có sương muối, ít mưa,
mùa hè nóng, nhiều mưa. So với vùng Đông Bắc, nhiệt độ mùa khô ở đây cao hơn từ
1-2 độ C. Như vậy, Tây Bắc cũng là vùng địa lý điển hình và độc đáo với núi non
hiểm trở, trùng điệp, nhiều dòng sông lớn, nhiều cao nguyên và những cánh đồng.
Đây cũng là vùng có đường biên giới với hai nước bạn Lào và Trung Hoa, đặc biệt,
nơi đây có các nhà máy thủy điện lớn cung cấp năng lượng cho cả nước.
Điều kiện tự nhiên vừa có phần hùng vĩ, thơ mộng vừa có phần khắc nghiệt,
hiểm trở ấy đã chi phối đến đời sống xã hội, văn hóa và văn học dân gian các dân tộc
thiểu số trên nhiều phương diện. Những núi, những sông, những cánh đồng rộng dài
bát ngát đã ghi dấu ấn trong nhiều truyện kể dân gian các dân tộc. Các loài động thực
vật phong phú đa dạng đã được đồng bào các dân tộc thể hiện sinh động trong các
truyện thần thoại và cổ tích. Đặc trưng khí hậu rét vào mùa đông, mưa nhiều vào
mùa hè và ấn tượng về những đại nạn trong tự nhiên như hạn hán, lũ lụt chính là cơ
7
sở cho sự hình dung và miêu tả về những chàng người khỏe, những nhân vật khổng
lồ ngăn nước, đắp mương trong truyện kể.
1.1.2. Đặc điểm xã hội
Miền núi phía Bắc là nơi trú cư lâu đời của rất nhiều dân tộc thiểu số như Tày,
Nùng, Thái, Mường, Hmông, Dao, Giáy, Cao Lan, Sán Dìu, Hà Nhì, Lô Lô, Khơ
Mú, Xinh Mun, Pu Péo… thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau như: Việt- Mường,
Tày- Thái, Hmông- Dao, Tạng- Miến, Môn- Khơme. Theo số liệu tổng điều tra dân
số năm 2009, các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 62% tổng dân số của cả khu vực
miền núi phía Bắc. Xét về mặt hành chính, miền núi phía Bắc bao gồm 15 tỉnh Hà
Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái
Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình.
Tuy nhiên, sự phân bố cư dân các dân tộc thiểu số ở các tỉnh này có sự chênh lệch rõ
rệt. Ví dụ ở tỉnh Cao Bằng, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 95% nhưng ở Quảng
Ninh đồng bào thiểu số chỉ chiếm khoảng 11% số dân. Những địa phương có dân tộc
thiểu số cư trú đông tập trung ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên
Quang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên. Vì
lẽ đó, trong luận án, chúng tôi tập trung khảo sát nghiên cứu truyện kể các dân tộc
thiểu số cư trú ở các tỉnh đã kể trên. Trong các dân tộc thiểu số khu vực miền núi
phía Bắc có những nhóm dân tộc di cư, du nhập và liên hệ rất mật thiết với một số
dân tộc miền Nam Trung Quốc và một số dân tộc Đông Nam Á. Tiêu biểu là các dân
tộc Hmông, Dao có nguồn gốc phương Bắc, di cư vào nước ta ở những thời kỳ lịch
sử khác nhau như dân tộc Dao là từ thế kỷ XIII, dân tộc Hmông là từ thế kỷ XIII đến
thế kỷ XIX. Đặc điểm lịch sử xã hội này tạo ra sự ảnh hưởng qua lại giữa các dân tộc
miền núi phía Bắc Việt Nam và một số dân tộc phía Nam Trung Quốc, điều đó được
thể hiện khá rõ nét trong một số thể loại, type truyện dân gian mà chúng tôi sẽ chỉ ra
và phân tích ở những chương sau.
Đối với các dân tộc thiểu số, bản làng, mường là đơn vị cư trú quan trọng. Các
nóc nhà quần tụ với nhau, gắn bó và quan hệ chặt chẽ tạo thành bản. Các bản làng
cùng cư trú trong một thung lũng trở thành mường. Các dân tộc cư trú ở vùng thấp
có thể xây dựng bản làng ở chân núi, thung lũng còn các dân tộc vùng cao chọn sườn
đồi hay sườn núi để tạo lập. Người Thái thường lập bản ở ngay giữa các cánh đồng
8
nên bản của họ là những cụm dân cư khá đông đúc, có khi có tới hàng trăm nóc nhà.
Người Mường lại thường dựng bản thành từng cụm ven chân núi nên quy mô không
lớn như bản người Thái. Các dân tộc ở vùng Đông Bắc như Tày, Nùng, Hmông, Dao
thì hay chọn sườn đồi, sườn núi làm nơi dựng bản. Dù ở những vị trí khác nhau thì
đồng bào các dân tộc đều thống nhất tiêu chuẩn dựng bản mường đó là gần nguồn
nước để tiện cho lao động sản xuất và sinh hoạt. Riêng dân tộc Mường còn dựng bản
nơi có gốc cây si hoặc cây đa. Nước có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống, đặc biệt
với các cư dân vùng thấp. Người Tày, Nùng, Thái có hoạt động sản xuất cơ bản là
làm ruộng ở những thung lũng lúa nước với hệ thống thủy lợi theo kiểu mương, phai,
lái, lịn và các loại cọn, guồng…Và có lẽ vì thế, nước cùng với những yếu tố có liên
quan đã trở thành một trong những biểu tượng tiêu biểu thường xuyên xuất hiện
trong truyện kể dân gian các dân tộc. Mỗi bản đều có địa giới rõ ràng, địa giới hoặc
là một con đường, dòng suối hoặc là một gốc cây cổ thụ, một cái đèo, một con dốc…
Mỗi bản có nguồn tài nguyên riêng mà chỉ các thành viên trong bản được quyền sử
dụng. Mỗi bản thường có nhiều dân tộc cùng sinh sống, lao động và có quan hệ đoàn
kết, giúp đỡ lẫn nhau. Người cùng một bản thường tổ chức các hoạt động văn hóa
cộng đồng ở nơi sinh hoạt chung như miếu, đình làng…
Về tổ chức quản lý xã hội, các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc chủ yếu
thực hiện theo thiết chế tự quản, mỗi bản, mường đều có một người đứng đầu được
gọi là trưởng bản. Một số dân tộc thiểu số tiêu biểu như Thái, Tày, Mường do ảnh
hưởng rõ rệt của chế độ phong kiến, do xã hội đã phát triển hơn và đạt đến trình độ
tiền giai cấp, tiền nhà nước do vậy, thiết chế xã hội đã hình thành bộ máy bao gồm lý
trưởng, chánh tổng, quan châu…một số dân tộc khác thực hiện thiết chế theo chế độ
quằng, thổ ty, phìa tạo, lang đạo. Chính vì thế, trong truyện kể dân gian các dân tộc
này, chúng ta thấy xuất hiện phổ biến hình ảnh thực của giai cấp thống trị với tên gọi,
đặc điểm tính cách xác định cụ thể.
Hầu hết gia đình các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đều thuộc loại gia
đình nhỏ phụ hệ bao gồm hai hình thức gia đình hạt nhân và gia đình hạt nhân mở
rộng, trong đó, người chồng, người cha làm chủ gia đình. Người chủ gia đình có vai
trò quyết định trong tổ chức sản xuất và điều hòa các mối quan hệ giữa con người
với con người trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Trong gia đình, nề nếp phân
9
công lao động theo lứa tuổi và giới tính đã hình thành từ lâu đời. Người đàn ông
trưởng thành thường gánh vác những công việc nặng nhọc như cày, bừa, phát rẫy,
săn bắn, đánh bắt, dựng nhà cửa…Phụ nữ tham gia những công việc sản xuất ít nặng
nhọc hơn như gieo cấy, chăm sóc lúa và hoa màu, đặc biệt là đảm nhận công việc
trong gia đình như dệt may, khâu vá nấu nướng và chăm sóc con cái. Đặc điểm xã
hội này đã để lại những dấu ấn nhất định trong nhiều truyện kể.
1.2. Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Miền núi phía Bắc là khu vực định cư của rất nhiều dân tộc thiểu số, ngoài
một số tộc người bản địa còn có nhiều nhóm tộc người từ các khu vực, quốc gia khác
di cư đến và định cư sinh sống tại đây. Do đó, đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số
cư trú tại khu vực này vừa là sự tổng hợp một cách tự nhiên bởi mối giao lưu, ảnh
hưởng, tiếp biến các sắc thái văn hóa tộc người vừa là sự hiện hữu một số nét văn
hóa riêng của mỗi tộc người ấy. Trong luận án này, chúng tôi chủ yếu khái quát
những nét văn hóa mang tính chất tổng hợp, là điểm gặp gỡ, thống nhất giữa các dân
tộc coi đó như một phần điểm tựa để khám phá giá trị của bộ phận truyện kể phong
phú ấy. Bên cạnh đó, ở một số luận điểm chúng tôi cũng xem xét đến bản sắc văn
hóa mỗi tộc người có ảnh hưởng và tạo ra những type, motif truyện độc đáo của từng
dân tộc. Tìm hiểu một số biểu hiện cụ thể trong đời sống văn hóa các dân tộc cũng có
nghĩa là chúng tôi muốn hướng tới việc khai thác và lý giải các thể loại truyện kể dân
gian từ góc độ văn hóa tộc người, văn hóa vùng lãnh thổ và trong mối liên hệ văn
hóa liên quốc gia ở một vài trường hợp cụ thể. Với tinh thần đó, dưới đây chúng tôi
xin trình bày khái quát một số vấn đề cơ bản về đời sống văn hóa của các dân tộc
thiểu số miền núi phía Bắc.
Cộng cư trong khung cảnh thiên nhiên vừa bí ẩn, khắc nghiệt vừa hùng vĩ, nên
thơ, người dân các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đã tạo dựng và lưu giữ được
những nét văn hóa đặc trưng thời cổ đại- văn hóa Nam Á. Đó là bức tranh văn hóa
phản ánh một nền sản xuất nông nghiệp miền núi vùng nhiệt đới gió mùa. Bức tranh
văn hóa ấy được biểu hiện ra thành các nét vẽ muôn màu muôn vẻ trong tất cả các
phương diện văn hóa vật chất và tinh thần.
Sống ở miền núi, giữa môi trường tự nhiên nhiều loại gỗ, tre, nứa lá, người
miền núi phía Bắc đã biết sử dụng các nguyên liệu tự nhiên có sẵn để làm nhà ở. Cư
10
dân thiểu số vùng thấp miền núi phía Bắc thường làm nhà sàn. Những dân tộc sinh
sống ở vùng cao hơn như Hmông, Dao có thể kết hợp nhà sàn với nhà đất, nhà gỗ.
Nét chung trong tập quán làm nhà và sử dụng nhà ở của các dân tộc là sự phân chia
nhà thành các tầng, các gian với chức năng được phân định rõ ràng. Nhà gồm ba
tầng: tầng dưới cùng là gầm sàn- nơi dành để công cụ sản xuất, gia súc, gia cầm; tầng
trên là nơi con người ở và các đồ dùng hàng ngày của con người và tầng gác là nơi
chứa lương thực và cất giữ các đồ đạc bảo quản lâu ngày. Nhà cũng gồm ba gian:
gian giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, là nơi tiếp khách cũng là không gian sinh hoạt
chung của gia đình, một gian làm bếp và buồng ngủ cho phụ nữ, gian còn lại dành
chon nam giới.
Về trang phục, các dân tộc thiểu số trước đây đều tự túc hoàn toàn từ khâu
trồng bông, trồng lanh, dệt vải đến công đoạn cắt, khâu thành quần áo. Trang phục
của các dân tộc miền núi cầu kỳ và tinh tế bao gồm mũ (khăn đội đầu), áo, quần
(váy), thắt lưng, tạp dề, xà cạp, guốc hoặc dép. Các dân tộc thiểu số vùng thấp Đông
Bắc như Tày, Nùng ưa dùng sắc màu chàm xanh để nhuộm quần áo. Đó là vẻ đẹp
thâm trầm không gây cảm giác choáng ngợp nhưng lại mang nét độc đáo và duyên
dáng. Trong khi đó, các dân tộc Hmông, Dao ở vùng cao thường gây cảm giác và ấn
tượng mạnh mẽ bởi vẻ đẹp rực rỡ của những tấm váy xòe nhiều màu sắc. Người Thái
hấp dẫn bởi áo cánh, váy cuốn bó sát thân với hai sắc màu trắng và thâm (đen) làm
chủ đạo, cùng khăn piêu nền nã, tinh tế và dải thắt lưng xanh duyên dáng. Trang
phục của nữ giới thường phức tạp, đa dạng và nhiều màu sắc hơn trang phục nam
giới. Thêm vào đó, đồng bào các dân tộc thiểu số thường sử dụng kết hợp trang phục
với các loại trang sức để tăng sức hấp dẫn. Đó là các loại hoa tai, vòng tay, vòng cổ,
bộ xà tích…Các loại trang sức này thường được làm từ bạc và được trạm khắc với
nhiều hoa văn đẹp mắt. Ngoài chức năng làm đồ trang điểm cho thêm duyên dáng,
một số loại trang sức còn được coi như bùa hộ mệnh, đồ chữa bệnh…Có thể nói,
trang phục các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc vừa đậm đà tính truyền thống, bản
sắc dân tộc vừa có yếu tố hiện đại tạo ra những ấn tượng riêng góp phần hoàn thiện
bức tranh văn hóa đặc sắc.
Nói đến văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc không thể
không nói đến đời sống tín ngưỡng, nghi lễ bởi đó là nhu cầu tất yếu trong cuộc sống
11
của tất cả các dân tộc. Đặc biệt, các cư dân vùng cao miền núi phía Bắc, sống gắn bó
thường xuyên với môi trường tự nhiên còn nhiều bí ẩn, nguy hiểm nên mặc nhiên ở
họ xuất hiện niềm tin vào số phận, vào lực lượng siêu nhiên và đó chính là cơ sở của
niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc trước
hết là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sau là tín ngưỡng đa thần giáo, tín ngưỡng vật tổ
dựa trên niềm tin “vạn vật hữu linh” và một số phương diện chịu ảnh hưởng của Phật
giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Trong gia đình, cư dân các dân tộc đều lập bàn thờ để
thờ cúng tổ tiên, thờ Bà Mụ. Ngoài ra họ còn thờ Phật, Khổng, Đạo, có khi thờ tổ sư
nghề thầy cúng, hoặc thờ vị thần được coi là thủy tổ của dân tộc mình. Một số dân
tộc và dòng họ trong các dân tộc do ảnh hưởng của tín ngưỡng vật tổ mà có tục kiêng
ăn thịt một số loài vật. Ví dụ, dân tộc Tày có nhiều dòng họ. Họ Bế kiêng ăn thịt chó
vì họ cho rằng xưa kia tổ tiên dòng họ này đã được con chó chăm sóc và cho bú lúc
gặp hoạn nạn. Họ Hồ không ăn thịt rùa hay họ Vương thì kiêng ăn thịt ếch. Đồng bào
Thái ở nhiều vùng lại kiêng ăn thịt rắn vì họ coi đó là vật tổ của mình. Đồng bào Dao
cũng kiêng ăn và giết chó vì trong tâm thức của họ, con chó thần Long khuyển chính
là tổ tiên đã sinh ra các dòng họ Dao. Điều này để lại dấu ấn trong truyện kể dân gian
của các dân tộc rất rõ từ những truyện thần thoại giải thích tục thờ thần, thờ vật tổ,
truyền thuyết về vị tổ sư đến sự xuất hiện nhân vật thần, phật trong truyện cổ tích. Ví
như trong quan niệm của các dân tộc Tày, Nùng, thần Nông là vị thần phụ trách việc
nông trang, thần định ra thời vụ và giữ nước cho thời vụ. Thần có ý nghĩa rất quan
trọng đối với đời sống sản xuất gắn liền với nông nghiệp của các cư dân. Hàng năm,
các dân tộc đều tổ chức những nghi lễ trang trọng thờ cúng thần Nông để cầu mong
mưa thuận gió hòa, bớt thiên tai đối với cuộc sống. Đồng bào các dân tộc cũng quan
niệm vạn vật đều có hồn, có ma, có thần. Tất cả các loại hồn đều được chia làm hai
loại: lành (thiện) và dữ (ác). Đây là quan niệm điển hình trong nhận thức nhân dân
các dân tộc chi phối mạnh mẽ đến đời sống văn hóa và các sáng tác văn học dân
gian. Đó là nguyên nhân, là cơ sở hình thành hàng loạt các miếu thờ thổ công, thổ
địa, thổ thần, đình làng thờ Thần hoàng, là nguyên cớ để đồng bào các dân tộc tổ
chức các lễ hội mang tính nghi lễ, cũng là cơ sở hình thành các thể loại sáng tác dân
gian nghi lễ tiêu biểu.
12
Đối với các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, tín ngưỡng, tôn giáo chủ yếu mới
dừng lại ở các loại hình nguyên thủy. Đó là niềm tin về sự tồn tại của ba mường (dân
tộc Thái), ba tầng- bốn thế giới (dân tộc Mường). Với người Mường, ba tầng đó là
tầng trên cao (tầng trời), tầng giữa (tầng mặt đất) và tầng thấp (tầng dưới mặt đất).
Bốn thế giới bao gồm thế giới Mường Trời (Phạ, Then hoặc Blơi, Klơi)- nơi ở của tổ
tiên và các vị thần linh trông coi mọi vật trên trái đất, thế giới Mường Pưa- thế giới
trần gian của người sống, thế giới Mường Pưa Tín (dưới mặt đất) và thế giới Mường
Vua Khú (mường nước). Trong các mường đó, mường Trời là nơi trú ngụ của các vị
thần có sức mạnh, uy quyền phi phàm nhất, có thể chia làm nhiều tầng, lớp khác
nhau với các địa vị, chức năng khác nhau. Niềm tin ấy đã tạo nên trong truyện kể dân
gian các dân tộc không khí huyền ảo với sự xuất hiện của không gian Mường Trời và
nhân vật Vua Trời đầy uy quyền một cách rất phổ biến.
Lễ hội cũng là một nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng của đồng bào các dân tộc.
Lễ hội được tổ chức khá thường xuyên và gắn liền với đời sống của nhân dân đặc
biệt là đời sống sản xuất, phản ánh niềm tin và mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp
hơn. Lễ hội ở đây thường được tổ chức theo mùa và theo mục đích của lễ hội như Tết
Nguyên Đán, lễ hội mùa xuân, lễ hội cầu mùa, lễ hội cầu an, lễ cầu tự. Ở mỗi dân
tộc, các lễ hội này có thể được gọi theo những cách khác nhau như lồng tồng (lùng
tùng), hội Hai (Tày), nào xồng, gầu tào (Hmông), dun pùn (Dao), sắc bùa, khuổng
mùa (Mường), xên mường, xên bản (Thái) …Các lễ hội được tổ chức phổ biến vào
mùa xuân, tháng Giêng, ngoài ra có thể vào một số dịp khác như mùa hè, thu. Sau
những năm mùa màng thất bát, vào dịp xuân mới, người Tày ở Tràng Định (Lạng
Sơn) và Thạch An (Cao Bằng) thường tổ chức Hội Hai để đón rước nàng Hai (nàng
Trăng). Đồng bào quan niệm trên cung trăng có Mẹ Trăng và 12 cô gái đẹp chuyên lo
lắng và bảo vệ mùa màng cho dân ở trần gian. Tổ chức hội Trăng là để đón Mẹ Trăng
và các cô gái xuống tìm hiểu cõi người và đồng cảm với khát vọng của dân. Lễ “xên
mường” của người Thái cũng là lễ hội mùa nông nghiệp được tổ chức đầu xuân để
cúng bái trời đất, thần linh, các tổ tiên, dòng họ chúa, các ma quỉ…cầu mong một
năm bản mường được tốt đẹp, yên ấm.
Giống như dân tộc Kinh, đồng bào khu vực nơi đây cũng duy trì được một số
lễ hội gắn với các nhân vật anh hùng lịch sử như lễ hội Dương Tự Minh ở Thái
13
Nguyên, lễ hội về anh hùng Nùng Trí Cao ở Cao Bằng, lễ hội nàng Han ở Sơn La…
Tuy hệ thống lễ hội này không thật phong phú như ở người Việt nhưng chúng đã góp
phần tạo ra môi trường lưu giữ các giá trị văn hóa, văn học truyền thống quý báu của
các dân tộc. Lễ hội được coi như những “bảo tàng sống” phản ánh, bảo lưu và giữ
gìn nhiều nét tín ngưỡng, phong tục, tập quán truyền thống của các tộc người.
Trong lễ hội, đồng bào các dân tộc đặc biệt chú ý đến việc sử dụng các nhạc
cụ nhằm làm phong phú hấp dẫn cho các hoạt động và hơn hết góp phần giúp cho
các sáng tác văn học dân gian truyền miệng một cách sinh động và sâu sắc hơn.
Người Tày nổi tiếng với cây đàn tính, người Thái có cây sáo pí pặp còn với dân tộc
Hmông, cây khèn được coi là nhạc cụ đặc trưng tiêu biểu. Đồng bào Hmông giãi bày
tâm sự với nhau bằng khèn, than thân bằng khèn, cúng lễ bằng khèn, nghĩa là diễn tả
mọi tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của mình bằng khèn. Dưới góc độ nhân học biểu tượng,
cây khèn là hiện thân của tâm hồn, tính cách, tài năng, phẩm chất của người đàn ông
Hmông và cũng là vật tượng trưng cho tâm hồn, tình yêu, khát vọng tuổi trẻ của người
Hmông. Vì thế, trong truyện kể dân tộc này, biểu tượng này xuất hiện phổ biến gắn với
những chàng trai mồ côi nghèo khổ mà tài giỏi và đức hạnh. Tiếng khèn và tài thổi khèn
trở thành một trong những yếu tố khẳng định vẻ đẹp của nhân vật và giúp nhân vật tìm
được hạnh phúc trong cuộc sống.
Có thể khẳng định, trong quá trình cộng cư lâu dài, các dân tộc thiểu số miền
núi phía Bắc tạo ra một nền văn hóa, văn học và truyện kể mang nhiều đặc điểm
chung do có sự giao lưu, tiếp nhận và ảnh hưởng lẫn nhau nhưng đồng thời ở mỗi
dân tộc, mỗi nhóm dân tộc vẫn có những nét khác biệt nhất định phản ánh trình độ
phát triển khác nhau. Bên cạnh đó, trong đời sống, các dân tộc thiểu số miền núi phía
Bắc một mặt giữ gìn những nét văn hóa tộc người, mặt khác cũng có xu hướng tiếp
cận và hòa nhập cả với cuộc sống, văn hóa của dân tộc Kinh. Thành phần các dân tộc
thiểu số đa dạng, phong phú đã góp phần tạo nên bức tranh văn hóa nhiều màu sắc là
chứng tích cho sự hiện hữu và gắn bó với vùng đất này của đồng bào.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét