Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014
Tổng quan về kiểm toán
5
góp vốn, phân chia kết quả nên kiểm toán phát triển mạnh hơn. Năm 1990 Luật kiểm toán
đầu tiên ra đời. Sau đó kiểm toán phát triển nhanh chóng, nhiều công ty kiểm toán xuyên
quốc gia xuất hiện.
Mỹ: 45 000 hãng kiểm toán.
Pháp: 24 miền có 24 công ty kiểm toán với khoảng > 10 000 Kiểm toán viên độc lập.
Trung Quốc: Công ty đầu tiên ra đời năm 1983, đến nay có khoảng > 600 công ty, mức
phí bình quân 50 USD/giờ.
Việt Nam: trước năm 1975 đã có dịch vụ kiểm toán độc lập của công ty nước ngoài. Tháng
5/1991 Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) được thành lập theo giấy phép số 957- PPLT
của HĐBT và Quyết định số 165/TC - QĐ - TCCB của Bộ trưởng Bộ Tài chính và chính
thức hoạt động từ 7/91. Cũng trong năm này Công ty Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm
toán (AASC) cũng được thành lập. Năm 1991 số nhân viên của các công ty kiểm toán chỉ
là 13 người.
Đến tháng 9/2003 có 60 công ty , 52 công ty đã đăng ký hoạt động tại BTC với 4
DNNN, 4 công ty 100% vốn nước ngoài, 1 công ty liên doanh, 3 công ty cổ phần, 40 công
ty TNHH với 68 văn phòng và chi nhánh ở các Tỉnh, Thành phố. BTC đã tổ chức 10 kỳ
thi tuyển Kiểm toán viên cho người Việt Nam , 4 kỳ thi sát hạch cho người nước ngoài. Đã
cấp 786 chứng chỉ Kiểm toán viên cho 734 người Việt Nam và 52 người nước ngoài. Hiện
nay cả nước có 2850 nhân viên làm việc trong 52 công ty kiểm toán với 2 195 nhân viên
chuyên nghiệp. Trong 676 Kiểm toán viên có 624 người Việt Nam với 60 người được cấp
chứng chỉ Kiểm toán viên Quốc tế và 52 người nước ngoài Hiệp hội Kế toán công chứng
Anh quốc đã đào tạo theo tiêu chuẩn Quốc tế ở Việt Nam và cấp chứng chỉ cho 61 người
trong đó có 54 người Việt Nam. Kết quả chung:
Đơn vị tính : tỷ đồng
Chỉ tiêu 1997 1999 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng DT ngành kiểm
toán
144 232 340 412
Đóng góp Nhà nước 22,4 61,1 47 53
VACO
1991 1995 2000 2001 2002 2003 2004
Doanh thu (1 000 đ) 630 4 056 24 000 30 000
Số nhân viên 10 150
1/7/1994 Chính Phủ ban hành NĐ 70/CP về việc thành lập cơ quan kiểm toán Nhà nước
để giúp Chính Phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài
liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp.
1.3 Phân loại kiểm toán
1.3.1 Phân loại kiểm toán theo chức năng kiểm toán
a> Kiểm toán hiệu quả (hoạt động)
Kiểm toán hoạt động: Là việc kiểm tra và đánh giá tính hữu hiệu và tính hiệu quả
trong hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị.
Tính hữu hiệu là mức độ hoàn thành các nhiệm vụ hay mục tiêu đã đề ra.
Tính hiệu quả là việc đạt được kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất.
6
Đối tượng của kiểm toán hoạt động rất đa dạng, từ việc đánh giá một phương án
kinh doanh, một dự án, một quy trình công nghệ, một công trình XDCB, một loại tài sản,
thiết bị mới đưa vào hoạt động hay việc luân chuyển chứng từ trong một đơn vị… Vì thế,
khó có thể đưa ra các chuẩn mực cho loại kiểm toán này. Đồng thời, tính hữu hiệu và hiệu
quả của quá trình hoạt động rất khó được đánh giá một cách khách quan so với tính tuân
thủ và tính trung thực, hợp lý của BCTC. Thay vào đó, việc xây dựng các chuẩn mực làm
cơ sở đánh giá thông tin có tính định tính trong một cuộc kiểm toán hoạt động là một việc
mang nặng tính chủ quan.
Trong kiểm toán hoạt động, việc kiểm tra thường vượt khỏi phạm vi công tác kế
toán, tài chính mà liên quan đến nhiều lĩnh vực. Kiểm toán hoạt động sử dụng nhiều biện
pháp, kỹ năng nghiệp vụ và phân tích, đánh giá khác nhau. Báo cáo kết quả kiểm toán
thường là bản giải trình, nhận xét, đánh giá, kết luận và ý kiến đề xuất cải tiến hoạt động.
b) Kiểm toán tuân thủ: Là việc kiểm tra và đánh giá xem đơn vị được kiểm toán có
tuân thủ pháp luật và các quy định (do các cơ quan có thẩm quyền và đơn vị đã quy định)
hay không để kết luận về sự chấp hành pháp luật và các quy định của đơn vị. Ví dụ:
- Kiểm toán việc tuân thủ các luật thuế ở đơn vị;
- Kiểm toán của cơ quan nhà nước đối với DNNN, đơn vị có sử dụng kinh phí
NSNN về việc chấp hành các chính sách, chế độ về tài chính, kế toán;
- Kiểm toán việc chấp hành các điều khoản của hợp đồng tín dụng đối với đơn vị sử
dụng vốn vay của ngân hàng.
c) Kiểm toán BCTC: Là việc kiểm tra và xác nhận về tính trung thực và hợp lý của
các tài liệu, số liệu kế toán và BCTC của đơn vị kế toán phục vụ đối tượng có nhu cầu sử
dụng thông tin trên BCTC của đơn vị.
Công việc kiểm toán BCTC thường do các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) thực
hiện để phục vụ cho các nhà quản lý, Chính phủ, các ngân hàng và nhà đầu tư, cho người
bán, người mua. Do đó, kiểm toán BCTC là hình thức chủ yếu, phổ cập và quan trọng
nhất, thường chiếm 70 - 80% công việc của các DNKT.
Phân biệt kiểm toán báo cáo TC và kiểm toán hiệu quả:
Tiêu thức Kiểm toán báo cáo TC Kiểm toán hiệu quả
Mục đích Chú trọng xem thông tin xảy ra có
được ghi sổ không. Hướng về quá khứ
Chú trọng tính hiệu quả, hiệu lực. Quan
tâm đến sự thực hiện trong tương lai.
Phạm vi Bị giới hạn bởi những vấn đề có liên
quan đến các chỉ tiêu trên báo cáo TC .
Liên quan đến mọi khía cạnh về tính
hiệu quả, hiệu lực trong một tổ chức.
Báo cáo kết quả Gửi cho người sử dụng BCTC Chủ yếu cho chủ doanh nghiệp
1.3.2.Phân loại kiểm toán theo chủ thể kiểm toán
a) Kiểm toán độc lập:
Là công việc kiểm toán được thực hiện bởi các KTV chuyên nghiệp, độc lập làm
việc trong các DNKT. Kiểm toán độc lập là loại hình dịch vụ nên chỉ được thực hiện khi
khách hàng có yêu cầu và đồng ý trả phí thông qua việc ký kết hợp đồng kinh tế.
Hoạt động kiểm toán độc lập là nhu cầu cần thiết, trước hết vì lợi ích của bản thân
doanh nghiệp, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, lợi ích của chủ sở hữu vốn, các chủ
nợ, lợi ích và yêu cầu của Nhà nước. Người sử dụng kết quả kiểm toán phải được đảm bảo
7
rằng những thông tin họ được cung cấp là trung thực, khách quan, có độ tin cậy cao để làm
căn cứ cho các quyết định kinh tế hoặc thực thi trách nhiệm quản lý, giám sát của mình.
Điều 2 Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 của Chính phủ quy định
"Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của KTV và DNKT về tính trung thực và
hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và BCTC của các doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung
là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này".
'' Kiểm toán độc lập là quan toà của quá khứ, là người dẫn dắt hiện tại và quyết
định tương lai''
'' Kiểm toán độc lập là chất xúc tác của kinh doanh, là bạn đồng hành của các nhà
kinh doanh.Kiểm toán độc lập là đặc trưng của nền kinh tế thị trường”
b) Kiểm toán nhà nước:
Là công việc kiểm toán được thực hiện bởi các KTV làm việc trong cơ quan Kiểm
toán Nhà nước, là tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp thuộc bộ máy hành chính nhà nước; là
kiểm toán theo luật định và kiểm toán tính tuân thủ, chủ yếu phục vụ việc kiểm tra và giám
sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng Ngân sách, tiền và tài sản của Nhà nước.
Điều 13, 14 Luật Kiểm toán Nhà nước, quy định “Kiểm toán nhà nước là cơ quan
chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật”. “Kiểm toán Nhà nước có chức năng kiểm toán BCTC,
kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân
sách, tiền và tài sản Nhà nước”.
Trên thế giới, kiểm toán Nhà nước có các mô hình:
- Thuộc CP (cơ quan hành pháp): Đài Loan
- Thuộc Quốc Hội (lập pháp): Anh, Mỹ, Việt nam. Ở Anh Tổng kiểm toán trưởng do
Nữ hoàng Anh bổ nhiêm và không thuộc đảng cầm quyền.
- Thuộc Toà án (tư pháp): Pháp.
c) Kiểm toán nội bộ:
Là công việc kiểm toán do các KTV của đơn vị tiến hành. Kiểm toán nội bộ chủ yếu
để đánh giá về việc thực hiện pháp luật và quy chế nội bộ; kiểm tra tính hữu hiệu của hệ
thống kiểm soát nội bộ và việc thực thi công tác kế toán, tài chính của đơn vị.
Phạm vi và mục đích của kiểm toán nội bộ rất linh hoạt tuỳ thuộc yêu cầu quản lý
điều hành của ban lãnh đạo đơn vị. Báo cáo kiểm toán nội bộ chủ yếu phục vụ cho chủ
doanh nghiệp, không có giá trị pháp lý và chủ yếu xoay quanh việc kiểm tra và đánh giá
tính hiệu lực và tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như
chất lượng thực thi trong những trách nhiệm được giao.
Kiểm toán nội bộ trực thuộc cấp cao nhất của đơn vị và độc lập với các bộ phận
khác. Có thể thuộc HĐQT, Tổng giám đốc. ở nhiều nước các Bộ, Ngành có '' Uỷ ban kiểm
toán nội bộ''.
1.3.3 Phân loại kiểm toán theo các tiêu thức khác
a. Theo người yêu cầu kiểm toán
- Kiểm toán theo luật định: do các cơ quan Nhà Nước yêu cầu để phục vụ cho một mục
đích nào đó như DN có hiện tượng gian lận, trốn thuế, tham nhũng,
- Kiểm toán theo yêu cầu chủ doanh nghiệp: do doanh nghiệp tiến hành dưới các hình
thức kiểm toán nội bộ hoặc mời Kiểm toán viên của các công ty kiểm toán tiến hành.
8
b. Theo mục đích của báo cáo kiểm toán
- Kiểm toán định kỳ: kiểm toán các báo cáo TC hàng năm. Thường do chủ doanh nghiệp
mời kiểm toán độc lập tiến hành.
Kiểm toán bất thường: là việc kiểm toán không thường xuyên nhằm phục vụ cho
một mục đích riêng biệt nào đó như chuẩn bị phá sản, thanh lý Hợp đồng kinh tế,
Phân biệt giữa kiểm toán độc lập, kiểm toán nhà nước và kiểm toán nội bộ
Tiêu
thức
Kiểm toán nội bộ Kiểm toán Nhà nƣớc Kiểm toán độc lập
Thời
gian
ra đời
Đầu tiên ở Mỹ năm 1941,
Pháp 1960, Việt Nam 1997
Văn phòng Tổng Kiểm
toán trưởng của Mỹ thành
lập năm 1921
Từ khi có nền kinh tế thị trường: Ở đâu
có nền kinh tế thị trường ở đó có kiểm
toán độc lập.
Khái
niệm
Là loại kiểm toán do các Kiểm
toán viên nội bộ của đơn vị
tiến hành.
Thực chất: kiểm tra, đánh giá
tính hiệu lực, hiệu quả của hệ
thống kế toán , HTKSNB, chất
lượng công việc.
Là công việc kiểm toán do
các cơ quan quản lý của
Nhà Nước và cơ quan
kiểm toán Nhà nước tiến
hành theo chức năng quản
lý Nhà nước.
Là công việc kiểm toán do các Kiểm
toán viên độc lập của các Hãng, các
công ty kiểm toán chuyên nghiệp thực
hiện. Là loại dịch vụ tư vấn được pháp
luật thừa nhận, bảo hộ, được quản lý
chặt chẽ bởi hiệp hội chuyên ngành
kiểm toán.
Chức
năng
Chủ yếu là kiểm toán hoạt
động.Ngoài ra còn kiểm toán
tuân thủ, kiểm toán BC TC
Chủ yếu: kiểm toán tuân
thủ. Ngoài ra: kiểm toán
BCTC , kiểm toán HĐ.
Chủ yếu: kiểm toán BCTC. Ngoài ra:
kiểm toán tuân thủ, hoạt động, dịch vụ
tư vấn về thuế, kế toán, tài chính.
Phạm
vi
Trong nội bộ từng đơn vị
(chính, phụ thuộc)
Thực hiện ở các đơn vị sử
dụng vốn, kinh phí ngân
sách Nhà nước.
Thực hiện ở mọi đơn vị, mọi lĩnh vực,
mọi thành phần kinh tế.
Kiểm
toán
viên
KTV nội bộ là người làm công
ăn lương, không nhất thiết
phải có chứng chỉ hành nghề
kiểm toán.
Là công chức Nhà nước,
không nhất thiết phải có
chứng chỉ hành nghề kiểm
toán.
Là KTV độc lập, hành nghề kiểm toán
chuyên nghiệp. Phải qua thi quốc gia
có chứng chỉ hành nghề kiểm toán.
Tổ
chức
Thuộc cấp cao nhất của đơn
vị và độc lập với các bộ phận
được kiểm toán.
- Là cơ quan chuyên
môn trong cơ cấu quản
lý của Nhà nước.
Hình thành và hoạt động như một
doanh nghiệp với mục đích kinh
doanh, có thu phí kiểm toán.
Đặc
trƣng
cơ
bản
- Thực hiện trên cơ sở yêu
cầu quản lý của chủ doanh
nghiệp. Có tính chất bắt
buộc đối với các hoạt
động, đơn vị trong nội bộ.
- Kết quả kiểm toán gắn với
các giải pháp cải tiến hoạt
động và ý kiến đề xuất xử
lý sai phạm.
- Về tính pháp lý: ít có giá
trị pháp lý với bên ngoài vì
Kiểm toán viên nội bộ chỉ
- Mang tính chất cưỡng
chế theo luật định, theo
yêu cầu quản lý Nhà
Nước nên không thu
phí kiểm toán, không
kinh doanh.
- Kết quả kiểm toán gắn
với các giải pháp cải
tiến hoạt động và ý
kiến đề xuất xử lý sai
phạm ở đơn vị.
- Có tính pháp lý cao.
- Thực hiện trên cơ sở tự nguyện theo
yêu cầu của khách hàng.
Nhiều nước qui định: công ty niêm yết,
DN đạt mức doanh thu theo qui định
của mỗi nước (Anh - các DN có DT
hàng tháng 90 000 f = 50% số DN),
DN tham gia thị trường tương lai, DN
khi cổ phần hoá, liên doanh, sát
nhập phải kiểm toán
- Bảo đảm nguyên tắc: độc lập,
khách quan, trung thực, bí mật
- Việc kiểm tra không gắn với xử lý
9
chịu trách nhiệm trước chủ
doanh nghiệp.
Thường được thể hiện
trong Hiến pháp.
gian lận
- Tính pháp lý cao.
- Hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
10
CHƢƠNG 2: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN SỬ DỤNG TRONG KIỂM TOÁN
2.1 Cơ sở dẫn liệu
2.1.1. Các khái niệm cơ sở
2.1.1.1. Nghiệp vụ kinh tế:
Là những sự kiện phát sinh thực tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. chia làm 2 loại:
a.Nghiệp vụ kinh tế ngoại sinh: Là các nghiệp vụ phát sinh trong mối quan hệ giữa doanh
nghiệp với các tổ chức và cá nhân bên ngoài doanh nghiệp.
Ví dụ: Mua hàng nhập kho; Bán hàng thu bằng tiền mặt; Chi phí chi bằng tiền; Trả lương
nhân viên; mua TSCĐ; ….
Đặc điểm:
+ Các nghiệp vụ kinh tế ngoại sinh mang tính khách quan và pháp lý cao vì nó
thường kèm theo những chứng từ bắt buộc (như phiếu xuất kho, hoá đơn giao hàng ).
Nghiệp vụ này rất khó gian lận.
+ Các nghiệp vụ kinh tế ngoại sinh luôn tác động đến phương trình kế toán cơ bản
(Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu). Các nghiệp vụ kinh tế ngoại sinh đều được
phản ánh vào báo cáo tài chính.
b. Nghiệp vụ kinh tế nội sinh: Là các nghiệp vụ phát sinh trong phạm vi nội bộ doanh
nghiệp.
Ví dụ: Bảng tính và trích khấu hao TSCĐ; Bảng tính và trích lập dự phòng giảm giá hàng
tồn kho; Bảng tính và trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi; Bảng tính và trích lập dự
phòng giảm giá đầu tư tài chính; Xuất hàng từ kho ra quầy; xuất thiết bị cần lắp vào
ĐTXDCB; …
Đặc điểm
+ Các nghiệp vụ kinh tế nội sinh có tính pháp lý thấp, mang nặng tính chất chủ quan
bởi nó được phản ánh trong chứng từ hướng dẫn, chứng từ nội bộ.
+ Không phải tất cả nghiệp vụ kinh tế nội sinh đều được phản ánh trên BCTC.
c. Đánh giá, nhận xét:
- Kế toán ra đời và tồn tại là tất yếu khách quan (Tất cả các đơn vị nắm trong tay
tiềm lực và tiến hành hoạt động là phải có kế toán) ; nhưng kế toán lại do con người làm vì
vậy bản chất của kế toán lại mang nặng tính chủ quan.
- Không phải tất cả nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh đều được phản ánh vào báo
cáo tài chính.
Khách
hàng
Người
cung
cấp
Doanh
nghiệp
Nhà
Nước
Ngân
hàng
11
- Một nghiệp tế kinh tế bất kỳ muốn được phản ánh vào báo cáo tài chính phải
được thông qua một quá trình kế toán số liệu bởi 1 hệ thống nhất định khởi đầu bằng hệ
thống chứng từ qua quá trình ghi sổ xử lý, sau đó mới được lên báo cáo tài chính.
Chứng từ là sự công nhận một nghiệp vụ kinh tế nào đó.
2.1.1.2. Giao dịch và hệ thống
a. Khái niệm:
VD : hệ thống bán hàng
Giao dịch là một sự kiện kinh tế, nghiệp vụ kinh tế đã được công nhận có thể được
xử lý hoặc được chấp nhận để xử lý bởi một hay nhiều hệ thống kế toán của đơn vị.
Hệ thống: là hàng loạt các công việc mà nhờ chúng các giao dịch được công nhận,
cho phép, tính toán, phân loại, ghi chép, cộng dồn và báo cáo .
Mối tiếp giáp là một đầu mối mà tại đó 1giao dịch xuất khỏi hệ thống này và nhập
vào hệ thống khác, hay là phân chia danh giới giữa các hệ thống kế toán khác nhau.
Ví dụ: Thông tin giao hàng chuyển từ hệ thống lập phiếu sang hệ thống dự trữ để ghi vào
tài khoản tồn kho.
Thông tin về số giờ làm công chuyển từ hệ thống quản lý lao động sang hệ thống
thanh toán lượng.
Cơ sở số liệu là 1 tập hợp thông tin được sử dụng trong quá trình tập hợp báo cáo
có được từ việc xử lý các giao dịch.
Có 2 nhóm cơ sở số liệu:
+ Số liệu thống kê (hồ sơ tham khảo): Là các hồ sơ, các danh mục được xử lý trong
quá trình lập báo cáo.
Chứng từ Sổ kế toán Báo cáo TC
Xử lý Tổng hợp
Đơn
đặt
hàng
Kiểm
soát tín
dụng
Lệnh
bán
hàng
HĐ
BH
Sổ chi
tiết
doanh
thu
Sổ
cái
TK
511
Báo
cáo tài
chính
Sổ chi tiết thanh
toán với khhách
hàng
Sổ cái TK 131
12
Đặc điểm: số liệu thống kê của doanh nghiệp rất ít thay đổi, nếu có sự thay đổi mà
không có sự kiểm soát chặt chẽ thì dễ gây ra các hậu quả nghiêm trọng.
+ Số liệu động thái (hồ sơ số dư): Là các thông tin thu được ghi chép, được tích luỹ
cộng dồn trong quá trình xử lý các giao dịch và trở thành số dư của các tài khoản.
2.1.2. Cơ sở dẫn liệu và mục tiêu của kiểm toán
2.1.2.1 Khái niệm:
Theo chuẩn mực kiểm toán 500:
Cơ sở dẫn liệu của BCTC: Là căn cứ của các khoản mục và thông tin trình bày
trong BCTC do Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị chịu trách nhiệm lập trên cơ sở
các chuẩn mực và chế độ kế toán qui định phải được thể hiện rõ ràng hoặc có cơ sở đối
với từng chỉ tiêu trong BCTC.
Khi thu thập bằng chứng kiểm toán từ các thử nghiệm cơ bản, KTV phải xem xét sự
đầy đủ và tính thích hợp của các bằng chứng từ các thử nghiệm cơ bản kết hợp với các
bằng chứng thu được từ thử nghiệm kiểm soát nhằm khẳng định cơ sở dẫn liệu của BCTC.
Các cơ sở số liệu (hồ sơ số dư) được thể hiện trong báo cáo tài chính thành các loại
khoản mục khác nhau. Việc trình bày các số liệu này trong các báo cáo tài chính là trách
nhiệm của các chủ doanh nghiệp. Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm tra và xác nhận các
số liệu này. Muốn vậy kiểm toán viên cần phải thu thập các bằng chứng có liên quan đến
từng bộ phận cấu thành của báo cáo tài chính.
Mục tiêu kiểm toán từng bộ phận cấu thành của báo cáo tài chính là nhằm thu
thập đầy đủ các bằng chứng xác đáng về mọi khía cạnh có liên quan đến nguyên tắc kế
toán đối với từng bộ phận cấu thành đó làm cơ sở xác nhận cho từng bộ phận được
kiểm toán.
Ví dụ: Khi kiểm toán khoản mục hàng tồn kho; Hàng tồn kho được báo cáo trên Bảng cân
đối kế toán là 100.000.000đ.
Kiểm toán viên phải tìm kiếm và giải trình được 3 yếu tố:
+ Hàng tồn kho có thật hay không, có thực sự tồn tại trong doanh nghiệp hay
không?
+ Hàng tồn kho có thực sự thuộc sở hữu của doanh nghiệp hay không; doanh nghiệp
có quyền kiểm soát hay không?
+ Hàng tồn kho đã được tính toán, đánh giá, ghi chép cộng dồn và báo cáo theo
đúng nguyên tắc và phương pháp của kế toán không?
Ghi nhận hàng tồn kho có đúng nguyên tắc giá phí hay không?
Tính giá hàng tồn kho đã tuân thủ nguyên tắc nhất quán chưa?
Đã ghi chép, cộng dồn và xác định số lượng kiểm kê kho khớp đúng với số liệu trên
sổ kế toán không?
Hàng tồn kho giảm giá so với giá thị trường đã được đánh giá theo giá trị thực hiện
thuần túy chưa? Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã phù hợp với nguyên tắc thận
trọng của kế toán và quy định của cơ chế tài chính hiện hành chưa?
Những cơ sở dẫn liệu này xuất phát từ các nguyên tắc kế toán đối với việc ghi chép,
trình bày và báo cáo số liệu trên các báo cáo tài chính.
13
Sơ đồ:
2.1.2.2 Các nhóm cơ sở dẫn liệu
Có nhiều cơ sở dẫn liệu khác nhau, song có thể phân loại thành 3 nhóm chính sau:
a. Hiện hữu; Quyền và nghĩa vụ; Phát sinh
+ Hiện hữu: Một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên BCTC thực tế phải tồn tại
(có thực) vào thời điểm lập báo cáo;
+ Quyền và nghĩa vụ: Một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên BCTC đơn vị
phải có quyền sở hữu hoặc có trách nhiệm hoàn trả tại thời điểm lập báo cáo;
+ Phát sinh: Một nghiệp vụ hay một sự kiện đã ghi chép thì phải đã xảy ra và có
liên quan đến đơn vị trong thời kỳ xem xét;
b. Đã tính đánh giá; đầy đủ; chính xác
+ Đầy đủ: Toàn bộ tài sản, các khoản nợ, nghiệp vụ hay giao dịch đã xảy ra có liên
quan đến BCTC phải được ghi chép hết các sự kiện liên quan;
+ Đánh giá: Một tài sản hay một khoản nợ được ghi chép theo giá trị thích hợp
trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được thừa nhận);
Chính xác: Một nghiệp vụ hay một sự kiện được ghi chép theo đúng giá trị của nó,
doanh thu hay chi phí được ghi nhận đúng kỳ, đúng khoản mục và đúng về toán học.
c. Trình bày và công bố: Các khoản mục được phân loại, diễn đạt và công bố phù
hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận).
Bằng chứng kiểm toán phải được thu thập cho từng cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài
chính. Bằng chứng liên quan đến một cơ sở dẫn liệu (như sự hiện hữu của hàng tồn kho)
Lập báo cáo tài chính
Mục đích kiểm toán toàn diện báo cáo tài chính
Mục đích kiểm toán từng bộ phận của báo cáo tài chính
Trình bày và
cung cấp
thông tin
Hiện
hữu;
Quyền
và nghĩa
vụ; Phát
sinh
Đánh
giá;
Đầy đủ;
Chính
xác
Trình bày
và công bố
14
không thể bù đắp cho việc thiếu bằng chứng liên quan đến cơ sở dẫn liệu khác (như giá trị
của hàng tồn kho đó). Nội dung, lịch trình và phạm vi của các thử nghiệm cơ bản được
thay đổi tuỳ thuộc vào từng cơ sở dẫn liệu. Các thử nghiệm có thể cung cấp bằng chứng
kiểm toán cho nhiều cơ sở dẫn liệu cùng một lúc (như việc thu hồi các khoản phải thu có
thể cung cấp bằng chứng cho sự hiện hữu và giá trị của các khoản phải thu đó).
Các bộ phận cấu thành khác nhau trên báo cáo tài chính có cơ sở dẫn liệu không
giống nhau nhưng mục tiêu kiểm toán giống nhau:
Bộ phận kiểm
toán
Hiện hữu; Quyền
và nghĩa vụ; Phát
sinh
Đã đánh giá;
đầy đủ; chính
xác
Trình bày và công
bố
Hàng tồn kho Đang có
Thuộc quyền sở hữu
Đúng số lượng
Đã đánh giá
Được phân loại
Được công bố phù
hợp với chuẩn mực
và chế độ kế toán
hiện hành
Các khoản phải
thu khách hàng
Các khoản nợ là có
thật, có thể đòi được
Được ghi
chép đầy đủ,
chính xác
,,
,,
Phải trả người bán Nghiã vụ đang tồn
tại
,,
,,
,,
,,
Doanh thu Việc bán hàng đã
xảy ra
Đã được phép
Đúng số lượng ,,
,,
Đúng kỳ
Chi phí bán hàng Việc chi phí cho bán
hàng đã xẩy ra
Đúng số lượng ,,
,,
Đúng kỳ
Tiền Đang có Đúng số lượng
Đã đánh giá
,,
,,
Khấu haoTSCĐ Có thật Đúng số lượng ,,
,,
Đúng kỳ
Tác dụng của CSDL đối với quá trình kiểm toán:
+ Lập kế hoạch: đánh gía khả năng rủi ro, xác định các biện pháp kiểm soát then
chốt của DN để lựa chọn trình tự kiểm toán.
VD: Nếu DN thực hiện chính sách thoải mái về tín dụng thì kiểm toán cần quan tâm đến
các khoản nợ có thể đòi được làm cho CSDL cụ thể có tính chất riêng.
2.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ
2.2.1. Khái niệm và mục đích của hệ thống kiẻm soát nộibộ:
Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng giữ vai trò quan trọng trong qui
trình kiểm toán do việc thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán trong qui trình kiểm
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét