nhân, tổ chức có tiền nhàn rỗi tạm thời thì muốn bảo quản số tiền một cách an toàn
nhất và có hiệu quả nhất. Trong khi đó những cá nhân, tổ chức có nhu cầu về vốn
thì muốn vay đợc những khoản vốn nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
mình. Chính vì vậy Ngân hàng thơng mại là một trung gian tài chính tốt nhất để
thực hiện chức năng là cầu nối giữa cung và cầu về vốn. Ngân hàng là một điạ chỉ
tốt nhất mà những ngời d thừa về vốn có thể gửi tiền một cách an toàn và hiệu quả
nhất và ngợc lại cũng là một nơi sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu về vốn của các
cá nhân và doanh nghiệp.
Thứ hai : Hoạt động của các Ngân hàng thơng mại góp phần tăng cờng hiệu
quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế. Ngân hàng thơng mại với địa vị là một trung gian tài chính
thực hiện chức năng là chiếc cầu nối giữa cung và cầu về vốn trên thị trờng tiền tệ
đã góp phần đẩy nhanh hoạt động của nền kinh tế, đem lại thuận lợi cho hoạt động
của các cá nhân và tổ chức. Những cá nhân và tổ chức đã giảm đợc các khoản chi
phí trong việc tìm kiếm các nguồn vốn đầu t cho sản xuất kinh doanh, và ngoài ra
có thể vân dụng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng để đẩy nhanh
hoạt động của mình. Việc vay vốn từ ngân hàng của các doanh nghiệp đã thúc đẩy
các doanh nghiệp phải có phơng án sản xuất tối u và có hiệu quả kinh tế thì mới có
thể trả lãi và trả vốn cho ngân hàng. Việc lập phơng án sản xuất tối u do doanh
nghiệp lập ra phải qua sự kiểm tra, thẩm định kỹ lỡng của ngân hàng nhằm hạn chế
tới mức thấp nhất những rủi ro có thể sảy ra.
Ngợc lại những cá nhân và tổ chức d thừa về vốn có thể yên tâm đem gửi tiền
của mình vào ngân hàng vì ngân hàng là một địa chỉ có thể bảo quản tiền vốn một
cách an toàn và hiệu quả tốt nhất. Khách hàng có thể yên tâm về sự an toàn và khả
năng sinh lời của đồng vốn và cũng có thể rút tiền của mình bất cức lúc nào muốn.
Có thể lãi suất mà ngân hàng trả cho khách thấp hơn so với việc đầu t tiền vốn vào
những lĩnh vực nh : mua cổ phiếu, đầu t vào kinh doanh nhng việc gửi tiền vào
ngân hàng là có hệ số an toàn cao nhất. Thêm vào đó những dịch vụ mà ngân hàng
cung cấp cho khách hàng nh : chuyển tiền, thanh toán hộ, các dịch vụ t vấn sẽ
tạo thêm thuận tiện cho khách hàng trong hoạt động kinh doanh của mình.
Tất cả những hoạt động của ngân hàng là cơ sở giúp cho việc tăng cờng hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung.
5
Thứ ba : Ngân hàng thơng mại thông qua những hoạt động của mình góp
phần vào việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia nh : ổn định
giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm cao, ổn định lãi xuất, ổn định thị
trờng tài chính, thị trờng ngoại hối, ổn định và tăng trởng kinh tế. Với các công cụ
mà Ngân hàng trung ơng dùng để thực thi chính sách tiền tệ nh : Chính sách chiết
khấu; tỷ lệ dự trù bắt buộc của Ngân hàng trung ơng đối với Ngân hàng thơng mại:
lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ thị trờng tự do. Thì các ngân hàng đóng
một vai trò quan trọng trong việc thi hành chính sách tiền tệ quốc gia. Các Ngân
hàng thơng mại có thể thay đổi lợng tiền trong lu thông bằng việc thay đổi lãi suất
tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ trên thị trờng mở qua đó góp phần chống lạm
phát và ổn định sức mua của đồng nội tệ.
Thứ t : Ngân hàng thơng mại bằng hoạt động của mình đã thức hiện việc
phân bổ vốn giữa các vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế đồng
đều giữa các vùng khác nhau trong một quốc gia. Các vùng kinh tế khác nhau thì
có sự phát triển khác nhau. Hiện tợng thừa vốn hoặc thiếu vốn một cách tạm thời
giữa các vùng diễn ra thờng xuyên . Do đó vấn đề đặt ra là làm sao thực hiện tốt
nhất hiệu quả huy động của vốn và chính hoạt động điều chuyển vốn trong nội bộ
ngân hàng đã thực hiện tốt vấn đề này.
Thứ năm : Ngân hàng thơng mại là cầu nối giữa nền kinh tế các nớc và thế
giới, tạo điều kiện cho việc hoà nhập của nền kinh tế trong nớc với nền kinh tế
trong khu vực và nền kinh tế thế giới. Với xu hớng toàn cầu hóa nền kinh tế trong
khu vực và nền kinh tế thế giới cùng với chính sách mở rộng quan hệ hợp tác quốc
tế về kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới thì hoạt động của các Ngân hàng
thơng mại đợc mở rộng và thúc đẩy cho việc mở rộng hoạt động kinh tế của các
doanh nghiệp trong nớc. Với hoạt động rộng khắp của mình, các ngân hàng có khả
năng đợc nguồn vốn từ các cá nhân và các tổ chức nớc ngoài góp phần bảo đảm đ-
ợc nguồn vốn cho nền kinh tế trong nớc, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong
nớc có thể mở rộng hoạt động của họ ra nớc ngoài một cách rễ dàng hơn, hiệu quả
hơn nhờ hoạt động thanh toán quốc tế, bảo lãnh.
Chính từ sự mở rộng các quan hệ quốc tế mà nền kinh tế trong nớc có sự thâm
nhập vào thị trờng quốc tế và tăng cờng khả năng cạnh tranh với các nớc khác trên
thế giới.
d / các loại hình:
6
Dựa trên nhiều hình thức khác nhau mà ngời ta phân chia ra thành các loại
Ngân hàng Thơng mại khác nhau :
- Dựa trên tiêu thức sở hữu , ngời ta phân biệt Ngân hàng Thơng mại công và
Ngân hàng Thơng mại t .
Ngân hàng Thơng mại công là loại ngân hàng thơng mại do nhà nớc cấp toàn
bộ vốn điều lệ và bộ máy lãnh đạo do nhà nớc bổ nhiệm . Còn Ngân hàng Thơng
mại t là loại hình ngân hàng thơng mại do t nhân hùn vốn dới hình thức góp cổ
phần .
- Căn cứ vào tiêu thức quốc tịch , ngời ta phân biệt Ngân hàng Thơng mại bản
xứ và Ngân hàng Thơng mại nớc ngoài .
Ngân hàng Thơng mai bản xứ là ngân hàng thơng mại do nhà nớc hoặc công
dân nớc sở tại sở hữu . Ngân hàng Thơng mại nớc ngoài là do nhà nớc hoặc các tổ
chức công dân nớc ngoài sở hữu .
- Dựa trên tiêu thức cơ quan cấp giấy phép hoạt động, ngời ta phân biệt ngân
hàng thơng mại toàn quốc ( hay còn gọi là ngân hàng thơng mại liên bang ở những
nớc theo thể chế liên bang) là loại hình ngân hàng thơng mại do chính phủ hoặc do
một cơ quan quản lý trung ơng ( thờng là ngân hàng trung ơng) cấp giấy phép hoạt
động.
Ngân hàng thơng mại địa phơng ( hay còn gọi là Ngân hàng bang ở những n-
ớc theo thể chế liên bang) là loại hình ngân hàng thơng mại do chính quyền địa ph-
ơng cấp giấy phép hoạt động.
- Căn cứ vào tiêu thức số lợng chi nhánh ngời ta phân biệt Ngân hàng thơng
mại duy nhất và Ngân hàng thơng mại mạng lới.
Ngân hàng thơng mại duy nhất là loại hình ngân hàng thơng mại chỉ có một
hội sở hoạt động duy nhất trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia. Trong khi đó ngân
hàng thơng mại mạng lới là loại hình ngân hàng có hội sở trung ơng và phân chi
nhánh hoạt động trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ và nhiều khi có cả ở nớc ngoài.
Tóm lại : Ngoài những cánh phân biệt thờng dùng trên đây để xem xét loại
hình của một ngân hàng thơng mại, một số nớc trên thế giới còn có các cách phân
biệt khác nh : căn cứ vào tiêu thức doanh số hoạt động, căn cứ vào tiêu thức chuyên
7
môn hoá hoạt động tín dụng để đánh giá xem xét loại hình của ngân hàng thơng
mại đó.
II. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thơng mại :
1. Hoạt động huy động vốn :
a/ Huy động vốn nhàn rỗi của xã hội :
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất của Ngân hàng Thơng mại. Nó đợc huy
động từ các hình thức sau :
a.1/ Các khoản tiền gửi của khách hàng :
* Tiền gửi tiết kiệm của dân c :
Đây là một trong những khoản tiền gửi lớn của ngân hàng. Thông thờng ngời
gửi tiết kiệm nhận đợc một cuốn sổ nhỏ trong đó nhân viên ngân hàng xác định
toàn bộ số tiền rút ra ,gửi thêm , số tiền lãi . Khách hàng ở đây là tất cả các dân c
có khoản tiền nhàn rỗi tạm thời cha có nhu cầu sử dụng , có thể gửi vào ngân hàng
nhằm tìm kiếm một khoản tiền lãi .
Việc phân chia các khoản tiền gửi tiết kiệm của dân c có thể theo nhiều tiêu
thức khác nhau. Nhng thờng ngời ta phân chia các khoản tiền gửi tiết kiệm của dân
c theo tiêu thức thời gian, tức là gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi
tiết kiệm có kỳ hạn.
* Tiền ký gửi :
Đây là những khoản tiền mà khách hàng đem ký gửi vào ngân hàng .Việc sử
dụng những khoản tiền ký gửi đợc thực hiện theo những thoả thuận giữa khách
hàng và ngân hàng . Lịch sử phát triển của ngân hàng cho thấy rằng hình thức ban
đầu của hoạt động ngân hànglà việc khách hàng nhờ bảo quản những đồng tiền
vàng. Ngời chủ phải bảo đảm trả lại chính những đồng tiền mà họ đợc chuyển giao
và bảo quản . Trong những trờng hợp này ngời chủ không thể tiến hành các nghiệp
vụ cho vay đối với những đồng tiền nhận bảo quản đó và không thể thu lợi nhuận
để trả lợi tức cho ngời gửi tiền. Cùng với sự phát triển của xã hội đã tạo điều kiện
cho ngời bảo quản có thể sử dụng những đồng tiền đó bởi vì ngời gửi tiền không
yêu cầu phải trả lại chính những đồng tiền họ gửi mà chỉ yêu cầu trả lại tổng số
tiền mà họ đã gửi. Chỉ khi đó mới xuất hiện khả năng sử dụng số tiền vay mợn đó
8
để cấp tín dụng thu lợi tức và trả lãi cho ngời gửi tiền. Tuy nhiên việc cho vay bằng
tiền ký gửi phải căn cứ vào các điều kiện có liên quan đến các khoản ký gửi khác
nhau. Khi sử dụng các khoản tiền ký gửi ngân hàng phải có sự phân loại các khoản
tiền này nhằm có đợc một cách sử dụng chúng hiệu quả nhất.
a.2 Vốn vay của các tổ chức tài chính tín dụng :
Các Ngân hàng thơng mại có thể thu hút vốn bằng cách vay ở các tổ chức tài
chính tín dụng. Đối với những ngân hàng ở các nớc phát triển có quan hệ rộng
khắp thì nguồn vốn này là một nguồn vốn vay thờng xuyên và khá quan trọng.
Nguồn vốn vay mợn này đã trở thành một nguồn vốn quan trọng hơn đối với các
ngân hàng trong những năm qua. Trong hoạt động quan hệ quốc tế, việc vay mợn
từ các tổ chức tín dụng quốc tế cũng cung cấp cho ngân hàng những nguồn vốn
quan trọng. Tuy nhiên đối với các quốc gia đang phát triển, các ngân hàng thơng
mại thờng có quan hệ quốc tế hạn hẹp, do đó việc thu hút những nguồn vốn này
còn nhiều hạn chế và thờng đợc huy động theo các chơng trình dự án quốc tế.
b. Nguồn vốn vay từ ngân hàng trung ơng:
Ngân hàng trung ơng cấp tín dụng cho các ngân hàng thơng mại sới nhiều
hình thức nh cho vay, mua ván, chiết khấu, tái chiết khấu đối với các giấy tờ có giá
cuả ngân hàng thơng mại. Vốn hình thành từ nguồn này đảm bảo cho khả năng
thanh toán của ngân hàng thơng mại.
c/ Nguồn vốn điều hoà trong hệ thống :
Các ngân hàng thơng mại có nhiều chi nhánh nằm trên các địa bàn khác nhau
nên luôn luôn xuất hiện tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn đối với các chi nhánh
trong cùng một hệ thống. Sở dĩ xuất hiện tình trạng này là do trên mỗi địa bàn thì
có những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau do đó có tác động mạnh mẽ đến
nguồn vốn và khả năng sử dụng vốn của từng chi nhánh. để giải quyết tình trạng
này các ngân hàng thơng mại hoặc các sở tài chính sẽ thực hiện việc điều hoà
nguồn vốn trong hệ thống. Chính vì vậy nguồn vốn điều hoà trong hệ thống cũng là
một nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp cho ngân hàng có thể mở rộng đợc hoạt
động trên thị trờng và làm tăng lợi nhuận của ngân hàng.
2. Sử dụng và khai thác nguồn vốn :
9
a/ Hoạt động cho vay : Hớng cơ bản trong sử dụng và khai thác các nguồn
vốn của Ngân hàng thơng mại là cho vay. Hoạt động cho vay có thể đợc phân loại
bằng nhiều cách nh : Mục đích, thời hạn, hình thức đảm bảo, phơng pháp hoàn trả
và nguồn gốc khách hàng
* Căn cứ theo hình thức bảo đảm thì khoản mục tín dụng đợc chia thành :
+ Cho vay có bảo đảm : là hoạt động quan trọng của ngân hàng. Cho vay có
bảo đảm biểu hiện việc cho vay có cầm giữ các vật thế chấp cụ thể nào đó. Vật thế
chấp có thể bao gồm nhiều loại khác nhau nh : Bất động sản, biên nhận ký gửi
hàng hoá, máy móc thiết bị, cổ phiếu Yêu cầu cơ bản của những vật thế chấp là
có thể bán đợc. Lý do thực tế đòi hỏi một khoản cho vay phải đợc đảm bảo là nhằm
tạo điều kiện để ngân hàng giảm bớt rủi ro, mất mát trong trờng hợp ngời vay
không muốn hoặc không thể trả nợ khi đến hẹn.
Sự bảo đảm là yêu cầu phải có đối với các khoản vay vì một trong những lý do
chính là sự yếu kém về mặt tài chính của ngời vay. sự yếu kém này có thể đợc biểu
hiện thông qua một vài yếu tố bao gồm nợ nần chồng chất, quản lý yếu kém và lợi
nhuận thấp. Ngời vay trong điều kiện tài chính nh vậy có thể tạo uy tín bằng việc
thế chấp các tài sản. Cho vay có bảo đảm cũng tạo tâm lý yên tâm cho ngân hàng.
Khi ngời vay đem cầm cố các tài sản mang quyền sở hữu của mình thì ngời vay sẽ
có ý thức hoàn trả nợ. Kỳ hạn của mỗi khoản vay cũng ảnh hởng đến việc khoản
vay đó có cần đợc bảo đảm hay không. Khi kỳ hạn cho vay dài, rủi ro trong việc
không hoàn trả tăng lên thì các khoản cho vay càng cần có sự bảo đảm.
Khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc không có ngời bảo đảm trả thay
thì khi đến hạn tài sản cầm cố, thế chấp có thể là động sản và cũng có thể là bất
động sản.
+ Cho vay không bảo đảm : Khác với cho vay bảo đảm, cho vay không bảo
đảm đợc dựa trên tính liêm khiết và tình hình tài chính của ngời vay lợi tức có thể
đợc trong tơng lai và tình hình trả nợ trớc đây. Trong hoạt động ngân hàng một số
khoản vay lớn nhất đợc thực hiện dựa trên một cơ sở không bảo đảm. Một số công
ty đợc các ngân hàng xem là ngời vay chủ yếu, trong nhiều trờng hợp họ đợc hởng
lãi suất u đãi và không cần bảo đảm. Những công ty ấy có danh tiếng trên thị trờng,
có cách quản lý hiệu quả, có các sản phẩm và các dịch vụ đợc thị trờng chấp nhận,
có lợi nhuận ổn định và với một tình hình tài chính vững mạnh. Họ sẵn sàng cung
10
cấp cho ngân hàng các báo cáo tài chính của mình để ngân hàng nắm rõ tình hình
tài chính và sự tiến bộ của họ để ngân hàng cung cấp các khoản cho vay không
đảm bảo.
Các doanh nghiệp không phải là những đơn vị duy nhất đợc vay không cần
bảo đảm, nhiều tác nhân cũng đợc hởng đặc quyền ấy. Những ngời có nhà riêng, có
công ăn việc làm ổn định, hoạt động trong các công sở
* Căn cứ theo các phơng pháp hoàn trả thì khoản mục tín dụng đợc phân chia
thành :
+ Các khoản cho vay hoàn trả một lần :
Những khoản cho vay hoàn trả một lần thờng là những khoản cho vay thẳng,
nghĩa là hợp đồng yêu cầu trả vốn một lần vào thời gian đáo hạn cuối cùng. Những
khoản lãi có thể đợc trả vào những thời điểm khác nhau hoặc trả khi đáo hạn. Đối
với khoản cho vay hoàn trả một lần, việc hoàn trả khi đáo hạn trở thành một gánh
nặng đối với khách hàng. Những khoản cho vay hoàn trả một lần thờng là những
khoản cho vay ngắn hạn.
+Các khoản cho vay hoàn trả nhiều lần:
Cho vay hoàn trả nhiều lần đòi hỏi việc hoàn trả theo những thời điểm nhất
định .
Cho vay hoàn trả nhiều lần thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt kỳ
hạn thực hiện hợp đồng . Nhờ vậy việc hoàn trả không trở thành một gánh nặng lớn
đối với ngời vay nh trong trờng hợp toàn bộ khoản vay đợc trả một lần. Đối với
nhiều ngời có khoản cho vay hoàn trả nhiều lần ví dụ nh các khoản trả góp đóng
một vai trò nh một phơng tiện tích luỹ . Nó làm tăng hiệu quả sử dụng vốn.
* Căn cứ theo kỳ hạn thì khoản mục tín dụng đợc phân chia thành :
+ Cho vay ngắn hạn :
Các khoản cho vay ngắn hạn có kỳ hạn 1 năm hoặc ít hơn , cho vay ngắn hạn
đợc thực hiện trong một thời gian nhất định dới 1 năm hoặc trên cơ sở theo yêu
cầu. Cho vay theo yêu cầu là khoản vay không có kỳ hạn nhất định và phải đợc trả
khi khách hàng có yêu cầu vào bất cứ lúc nào. Cho vay theo yêu cầu của ngời vay ở
vào một vị thế rất linh hoạt và có thể trả nợ trong một thời gian rất ngắn.
11
Những khoản cho vay ngắn hạn thờng đợc sử dụng rộng rãi trong việc tài trợ
mang tính thời vụ về vốn luôn chuyển và tài trợ tạm thời cho các hoạt động sản
xuất kinh doanh.
+Cho vay trung và dài hạn :
Việc quy định về thời gian cho các khoản vay trung và dài hạn theo những
quy định riêng của từng quốc gia . Theo quy định của nớc ta , những khoản vốn
cho vay từ 1 năm đến 3 năm đợc coi là trung hạn, những khoản vốn cho vay từ 3
năm trở lên đợc coi là dài hạn . Những khoản cho vay này thờng có giá trị lớn và
ngời vay thòng dùng để đầu t, mở rộng sản xuất,nâng cấp tài sản cố định .
Khách hàng thờng a chuộng những khoản tín dụng trung và dài hạn vì một số
lý do :
Thứ nhất : Đối với các khoản vay trung và dài hạn khách hàng có thể yên
tâm về thời gian sử dụngđồng vốn trong sản xuất kinh doan.
Thứ hai : Các khoản vay trung và dài hạn thờng thuận tiện hơn các khoản
vay ngắn hạn .
Thứ ba : Các khoản vay trung và dài hạn dễ ràng thực hiện hơn so với các
hình thức tài trợ khác nh : phát hành trái phiếu, cổ phiếu mới
Vốn trung hạn và dài hạn là một nhu cầu cấp thiết đối với việc đẩy mạnh sự
tăng trởng của nền kinh tế tại những quốc gia đang phát triển.
b/ Hoạt động đầu t :
Hoạt động đầu t hay còn gọi là hoạt động chứng khoán giúp Ngân hàng Th-
ơng mại sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động. Đồng thời, nó
cũng mang lại nguồn thu nhập quan trọng cho Ngân hàng Thơng mại . Ngân hàng
Thơng mại có thể đầu t vốn mua chứng khoán ngắn hạn của chính phủ. Những
chứng khoán này vừa mang lại thu nhập cho Ngân hàng Thơng mại , vừa góp phần
vào việc cân bẳng thu chi ngân sách thờng xuyên ; đồng thời góp phần điều hoà lu
thông tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân.
Ngân hàng Thơng mại còn đợc phép đầu t vốn để mua cổ phiếu và trái phiếu
của các doanh nghiệp , qua đây những Ngân hàng thơng mại lớn tham gia vào việc
thành lập quản lý các doanh nghiệp . Tuy nhiên, Ngân hàng Thơng mại chỉ đợc đầu
12
t chứng khoán ở một giới hạn nhất định , không đợc để hoạt động này lấn át hoạt
động cho vay.
e/ Hoạt động ngân quỹ :
Là hoạt động phục vụ cho việc chi trả đối với khách hàng. Nó bao gồm
nghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các ngân hàng khác và ở Ngân hàng Thơng mại ,
tiền trong quá trình thu nhận , và cũng có thể bao gồm cả nghiệp vụ về chứng
khoán ngắn hạn.
+ Quỹ tiền mặt bao gồm tiền giấy và tiền đúc đợc sử dụng để chi trả cho
khách hàng. Quỹ tiền mặt lớn hay nhỏ phụ thuộc chủ yếu vào quy mô ngân hàng,
mối quan hệ giữa thanh toán tiền mặt và thanh toán chuyển khoản, tính thời vụ của
các khoản chi tiền mặt.
+ Tiền gửi của Ngân hàng Thơng mại ở Ngân hàng Trung ơng bao gồm tiền
gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán ( d thừa)
+ Tiền gửi ở các ngân hàng khác phục vụ cho việc chi trả theo yêu cầu của
khách hàng, của Ngân hàng Thơng mại này qua một Ngân hàng Thơng mại khác.
3. Mối quan hệ giữa huy động và sử dụng vốn của Ngân hàng Thơng
mại :
Ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc đi vay để cho vay do đó giữa hoạt động
huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Để
có vốn vay, ngân hàng phải thực hiện công tác huy động. Nếu số lợng vốn huy
động nhiều thì ngân hàng có thể tăng cờng hoạt động sử dụng vốn, khi đó ngân
hàng có thể mở rộng các khoản cho vay, các khoản đầu t. Trong trờng hợp ngân
hàng đã áp dụng đầy đủ các biện pháp nh thay đổi lãi xuất, mở rộng các dịch vụ
nhng cũng không thể tăng đợc khối lợng vốn huy động dẫn đến việc phải thực hiện
chính sách tín dụng có lựa chọn, không đáp ứng đợc đầy đủ nhu cầu của khách
hàng.
Tuy nhiên số lợng vốn huy động cơ cấu, loại hình, thời gian huy động lại phụ
thuộc vào phơng hớng kinh doanh tức là vào chiến lợc tín dụng của ngân hàng. Khi
ngân hàng muốn mở rộng doanh số cho vay nhằm chiếm lĩnh những thị trờng lớn
hơn, lúc này ngân hàng cần phải tăng cờng hoạt động huy động vốn nhằm huy
động số vốn cần thiết. Trong trờng hợp doanh số cho vay của ngân hàng không
13
tăng nhng để tăng lợi nhuận , giảm bớt loại vốn huy động có lãi suất cao , tăng c-
ờng vốn huy động có lãi suất thấp,giảm bớt chi phí của việc huy động . Còn khi
ngân hàng muốn thu hẹp hoạt động tín dụng thì bắt buộc phải có sự thay đổi tơng
ứng trong hoạt động huy động nhằm giảm bớt một cách tơng ứng lợng tiền không
cần thiết . Nhờ đó tránh đựơc những chi phí mà ngân hàng phải gánh chịu nếu
không có sự đồng bộ giữa huy động và sử dụng.
Tóm lại, giữa công tác huy động vốn và sử dụng vốn có mối quan hệ biện
chứng tác động qua lại lẫn nhau. Để thực hiện đợc tốt công tác này phải thực hiện
tốt công tác kia và ngợc lại. Trong công tác quản lý hoạt động ngân hàng phải kết
hợp đựơc một cách tối u hoạt động của công tác huy động vốn và công tác sử dụng
nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất.
4/ Quản lý hoạt động của Ngân hàng thơng mại :
* Đảm bảo khả năng thanh toán thờng xuyên đối với khách hàng là một yêu
cầu cao nhất, chỉ đạo việc quản lý hoạt động của bất kỳ Ngân hàng thơng mại nào.
Nó xuất phát từ đặc trng cơ bản của nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng thơng
mại là dựa chủ yếu vào vốn bằng tiền nhàn rỗi của xã hội. Hơn nữa , nó cũng là
dấu hiệu nói lên khả năng tài chính mạnh hay yếu của một ngân hàng thơng mại .
Để duy trì khả năng thanh toán , Ngân hàng Thơng mại phải bảo đảm ở mọi
thời điểm , toàn bộ tài sản có phải lớn hơn các khoản nợ phải thanh toán. Đồng thời
phải bảo đảm trong tổng số tài sản ấy phải có những tài sản có tính thanh khoản
cao, đủ đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt , trang trải hết số thiếu trong thanh toán bù trừ
, hoặc những nhu cầu vay mợn chính đáng của khách hàng, trong khi vẫn quy định
đựơc tỷ lệ dự trữ theo quy định .
* Bảo đảm mức sinh lời cao :
Mục tiêu cuối cùng của Ngân hàng Thơng mại là lợi nhuận . Trong môi trờng
cạnh tranh, Ngân hàng Thơng mại phải phấn đấu để có mức lợi nhuận cao mới
mong tồn tại và phát triển . Nó đòi hỏi bất kỳ Ngân hàng Thơng mại nào cũng phải
đẩy mạnh hoạt động cho vay và đầu t, tức là cho vay đợc nhiều với thu nhập tiền lãi
cao.
* Xử lý hài hoà mối quan hệ giữa yêu cầu bảo đảm khả năng thanh toán thờng
xuyên và đảm bảo mức sinh lời cao.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét