Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Lý luận về hình thái Kế toán 2

chủ nghĩa ở nước ta - cả trong điều kiện hiện nay - vẫn là tất yếu và hoàn
toàn có khả năng thực hiện được.
Như vậy, việc nghiên cứu đề tài : "Vận dụng Lý luận về Hình thái
kinh tế - xã hội giải thích quá trình phát triển của Việt Nam ngày nay”
là rất thực tiễn và cấp bách cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.
III.
Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài.
1.
Mục đích
Nghiên cứu đề tài "Vận dụng Lý luận về Hình thái kinh tế - xã hội
giải thích quá trình phát triển của Việt Nam ngày nay” giúp chúng ta
thêm phần hiểu rõ về hình thái Kinh tế - Xã hội của Mác và áp dụng lý luận
này vào thực tiễn ở nước ta hiện nay.
2.
ý nghĩa
Việc nắm vững bản chất khoa học của lý luận về hình thái Kinh tế Xã
hội sẽ thể hiện được chính xác những vấn đề còn yếu nhất của đời sống
Kinh tế Xã hội. Mà muốn thực hiện tốt một điều gì thì phải hiểu được bản
chất của nó, do vậy đối với cách mạng Chủ nghĩa Xã hội mà ở đây ta nói
đến là nước ta quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội bỏ qua chế độ Tư bản thì việc
nghiên cứu kĩ về Hình thái Kinh tế Xã hội để áp dụng nó thật linh động vào
thực tiễn ở nước ta là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết.
PHẦN B
NỘI DUNG
I.
Học thuyết về Hình thái Kinh tế - Xã hội. Nền tảng lý luận của chủ
nghĩa duy vật lịch sử.
1.
Những cơ sở xuất phát để phân tích đời sống xã hội
5
hi xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử Mác và F.Ăngen đã
xuất phát từ những tiêu đề sau đây :
" Tiên đè đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự
tồn tại của những cá nhân, con người sống ”. Xã hội dưới bất kì một
hình thức nào cũng là sự liên hệ và tác động qua lại giữa người với người.
Ngay từ khi mới ra đời, con người đã có nhu cầu tìm hiểu về chính mình và
về Thế giới xung quanh. Các nhà tư tưởng đã từng tiếp cận vấn đề con
người dưới nhiều hình thức, nhiều góc độ khác nhau và có nhiều đóng góp
quý báu : Phát hiện ra nhiều thuộc tính, phẩm chất, năng lực phong phú, kì
diệu của con người về mọi mặt sinh học, xã hội cũng như tâm lý, ý thức.
Trên cơ sở đó, họ có đề xuất những con đường, biện pháp hướng con người
đến cuộc sống tốt đẹp. Nhưng do những hạn chế lịch sử, nên những nhà tư
tưởng trước đây chưa có cái nhìn đầy đủ về tồn tại của con người cũng như
về lịch sử xã hội loài người, do vậy, họ đã mắc một sai lầm lớn. Để khắc
phục điều này triết học Mác đã có những phát hiện mới, những đóng góp
mới. Lần đầu tiên Mác vạch ra phương thức tồn tại của con người, xuất
phát từ cuộc sống của con người hiện thực. Mác đưa ra một trong những
luận điểm được coi là quan trọng nhất trong quan điểm duy vật về lịch sử
của ông : ”Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng
hoà các mối quan hệ xã hội ”. Theo C.Mác con người tồn tại trong xã hội
với tư cách là sản phẩm của xã hội, hơn nữa con người không phải là sản
phẩm của xã hội nói chung mà bao giờ cũng là sản phẩm của một hình thái
xã hội nhất định.
Mặt khác, Mác nhận thấy phương thức tồn tại của con người chính là
hoạt động của họ. Các quy định hành vi lịch sử đầu tiên và cũng là động
lực thúc đẩy con người hoạt động trong suốt lịch sử của mình là nhu cầu và
lợi ích. F.Ăngen đã viết: ” đã phát hiện ra quy luật phát triển của lịch
sử loài người nghĩa là tìm ra sự thực đơn giản là trước hết con người
cần phải ăn mặc, ở uống trước khi có thể lo đến chuyện làm chính trị,
khoa học, nghệ thuật, tôn giáo ”. Như vậy, nhu cầu tồn tại của con
người hình thành một cách khách quan và có nhiều thang bậc mà trước đó
6
là nhu cầu sống (ăn, uống, mặc, ở ) sau đó mới đến nhu cầu khác như giao
tiếp và tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng, nhu cầu phát triển tâm hồn
và trí tuệ, Vì vậy mà hoạt động lịch sử đầu tiên của con người là sản xuất
ra những tư liệu cần thiết để thoả mãn những nhu cầu của mình. Với quan
niệm đó C.Mác đã đi dến kết luận rằng : Phương thức sản xuất là cái quyết
định toàn bộ đời sống xã hội và nhưng mặt cơ bản của hoạt động xã hội
thể hiện ra với tư cách là những hình thức khác của sản xuất vật chất.Sản
xuất vật chất chính là yếu tố nền tảng vì nó tạo ra những điều kiện vật chất
cho xã hội tồn tại, là động lực phát triển của xã hội, chi phối những yếu tố
khác trong cấu trúc xã hội, là cơ sở của lịch sử loài người, tạo ra những tư
liệu sinh hoạt, mà những tư liệu sinh hoạt này đáp ứng nhu cầu sống của
con người, tạo ra những tư liệu sản xuất mà những tư liệu sản xuất này tạo
ra những thời đại lịch sử của loài người. Cũng như trong quá trình sản xuất
vật chất thì con người tự tạo ra và hoàn thiện chính bản thân mình.
Như vậy, sản xuất vật chất là điều kiện không thể thiếu trong bất kì
một xã hội nào. Tuy nhiên sản xuất chỉ là yếu tố nền tảng của hoạt động
sản xuất. Trên cơ sở vật chất và sản xuất vật chất hay trên cơ sở tồn tại xã
hội thì con người đã sản sinh ra ý thức mà đặc trưng là hệ tư tưởng đạo
đức, tôn giáo. Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử đã đặt ra và
giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức
xã hội này. C.Mác xác lập nguyên lý có tính chất phương pháp luận để giải
quyết vấn đề này là : ” không phải ý thức con người quyết định tồn tại
của họ, trái lại, chính sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ
”.
Xã hội là bộ phận đặc thù của thế giới vật chất,vận động và phát triển
theo quy luật khách quan. Quy luật xã hội là những mối liên hệ bản chất,
tất yếu, lắp đi lắp lại của các quá trình,hiện tượng của đời sống xã hội, đặc
trưng cho khuynh hướng cơ bản phát triển của xã hội từ thấp đến cao.
2.
Hình thái Kinh tế - Xã hội
7
a) Hình thái Kinh tế - Xã hội là một phạm trù của Chủ nghĩa duy vật lịch
sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định với một kiểu quan
hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định
của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng
trên những quan hệ ấy.
Hình thái Kinh tế - Xã hội đặt nguyên tắc phương pháp luận khoa học
để nghiên cứu tất cả các mặt của xã hội. Chẳng những nó đã đưa ra bản
chất của một xã hội cụ thể, phân biệt chế đọ xã hội này với chế độ xã hội
khác, mà còn thấy được tính lặp lại, tính liên tục của mối quan hệ giữa
người với người trong quá trình sản xuất và sinh hoạt ở những xã hội khác
nhau. Nói cách khác, phạm trù Hình thái Kinh tế - Xã hội cho phép nghiên
cứu xã hội cả về mặt loại hình và về mặt lịch sử. Xem xét đời sống xã hội ở
một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, coi như một cấu trúc thống nhất
tương đối ổn định đang vận động trong khuôn khổ của chính hình thái ấy.
b)
Kết cấu và chức năng của các yếu tố cấu thành Hình thái Kinh tế - Xã
hội.
Xã hội không phải là tổng số những hiện tượng, sự kiện rời rạc, những
cái nhìn riêng lẻ, xã hội là một chỉnh thể toàn diện có cơ cấu phức tạp.
Trong đó có những mặt cơ bản nhất là Lực lượng sản xuất, Quan hệ sản
xuất và Kiến trúc thượng tầng. Mỗi mặt đó có vai trò nhất định và tác động
lên những mặt khác tạo nên sự vận động của cơ thể xã hội. Chính tính toàn
vẹn đó được phản ánh bằng khái niệm Hình thái Kinh tế - Xã hội.

Lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất, kỹ thuật mà mỗi Hình thái
Kinh tế - Xã hội. Sự hình thành và phát triển của mỗi Hình thái Kinh tế -
Xã hội xét đến cùng là do Lực lượng sản xuất quyết định. Lực lượng sản
xuất phát triển qua các Hình thái Kinh tế - Xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến
8
cao thể hiện tính liên tục trong sự phát triển của xã hội loài người. Lực
lượng sản xuất bao gồm :

Người lao động với những kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao
động, biết sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất.

Tư liệu sản xuất do xã hội tạo ra bao gồm Tư liệu lao động và Đối
tượng lao động. Đối tượng lao động là bộ phận của giới tự nhiên
được đưa vào trong sản xuất như là đất canh tác, nước ngoài ra,
còn có đối tượng không có sẵn trong tự nhiên mà con người sáng tạo
ra. Tư liệu lao động là những vật thể mà con người dùng để tác động
vào đối tượng lao động nhằm tạo ra những tư liệu sinh hoạt nhằm
phục vụ cho nhu cầu của con người. Tư liệu lao động chỉ trở thành
lực lượng tích cực cải biến đối tượng lao động khi chúng kết hợp vơí
lao động sống. Chính con người với trí tuệ và kinh nghiệm của
mình đã chế tạo ra tư liệu lao động và sử dụng nó để thực hiện sản
xuất. Tư liệu lao động dù có ý nghĩa lớn lao đến đâu nhưng nếu tách
khỏi người lao động thì cũng không phát huy được tác dụng, không
thể trở thành lực lượng sản xuất của xã hội. LêNin viết : ” Lực
lượng sản xuất hấp dẫn của toàn thể nhân loại là công nhân, là
người lao động”. Giữa các yếu tố của Lực lượng sản xuất có sự tác
động biện chứng. Sự tác động của tư liêu lao động phụ thuộc vào trí
thông minh, sự hiểu biết, kinh nghiệm của con người. Đồng thời bản
thân những phẩm chất của con người, những kinh nghiệm và thói
quen của họ đều phụ thuộc vào Tư liệu sản xuất hiện có, phụ thuộc
vào chỗ họ sử dụng những tư liệu lao động nào.

Quan hệ sản xuất .
Quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất là những quan hệ
cơ bản ban đầu và quyết định mọi quan hệ xã hội khác, không có những
mối quan hệ đó thì không thành xã hội và không có quy luật xã hội. Mỗi
hình thái Kinh tế - Xã hội lại có một kiểu quan hệ sản xuất của nó tương
ứng với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất đó
9
là tiêu chuẩn khách quan để nhận biết xã hội cụ thể này với xã hội cụ thể
khác đồng thời tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử.
Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt sau đây :

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.

Quan hệ tổ chức quản lý.

Quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
Ba mặt nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó Quan hệ sở hữu
về tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với tất cả những quan hệ khác.
Bản chất của bất kỳ mối quan hệ sản xuất nào cũng phụ thuộc vào vấn đề
những Tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội được giải quyết như thế nào.
Có hai hình thức sở hữu cơ bản về Tư liệu sản xuất : Sở hữu tư nhân và
Sở hữu xã hội. Những hình thức sở hữu đó là những quan hệ kinh tế thực
hiện giữa người với người trong xã hội.

Kiến trúc thượng tầng.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những tư tưởng xã hội, những thiết
chế tương ứng và những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên
một cơ sở hạ tầng nhất định.
Mỗi yếu tố của Kiến trúc thượng tầng có đặc thù riêng, có quy luật
riêng nhưng không tồn tại tách rời nhau mà liên hệ tác động qua lại lẫn
nhau và đều nảy sinh trên cơ sở hạ tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng. Song
không phải tất cả các yếu tố của Kiến trúc thượng tầng đều liên hệ như
nhau trên cơ sở hạ tầng của nó. Trái lại, mỗi bộ phận như một tổ chức
chính trị, pháp luật có liên hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng con các yếu tố
khác như Triết học, nghệ thuật, tôn giáo thì ở xa cơ sở hạ tầng và chỉ liên
hệ gián tiếp với nó.
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh
tế của Hình thái Kinh tế - Xã hội nhất định. Cơ sở hạ tầng của một xã hội
cụ thể bao gồm những Quan hệ sản xuất thống trị, Quan hệ sản xuất tàn dư
của xã hội trước là mầm mống của xã hội sau. Trong xã hội có giai cấp đối
kháng, tính chất giai cấp của Cơ sở hạ tầng là do kiểu Quan hệ sản xuất
10
thống trị quy định. Tính chất đối kháng giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt
nguồn ngay từ trong cơ sở hạ tầng.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, cơ sở hạ tầng tồn tại những quan
hệ đối kháng thì Kiến trúc thượng tầng cũng mang tính đối kháng phản ánh
tính đối kháng của Cơ sở hạ tầng, biểu hiện ở sự xung đột, quan hệ tư
tưởng và ở đấu tranh tư tưởng của các giai cấp đối kháng. Bộ phận có
quyền lực mạnh nhất của Kiến trúc thượng tầng xã hội có quyền lực mạnh
nhất là Nhà nước, công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu cho chế độ xã
hội về mặt chính trị pháp lý. Chính nhờ có nhà nước mà tư tưởng của giai
cấp thống trị mới thống trị được toàn bộ đời sống của xã hội. Giai cấp
thống trị nào thống trị về mặt kinh tế và nắm giữ chính quyền nhà nước thì
hệ tư tưởng cung những thể chế của giai cấp ấy cũng giữ địa vị thống trị.
Nó quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng của toàn bộ đời sống tinh
thần của xã hội và quyết định cả tính chất đặc trưng cơ bản của toàn bộ
Kiến trúc thượng tầng xã hội.

Phạm trù Hình thái Kinh tế - Xã hội là mô hình lý luận về xã hội và
như mọi mô hình, nó không bao quát tất cả tính đa dạng của các hiện tượng
đời sống xã hội. Vì vậy, hiện thực xã hội và sơ đồ lý thuyết vầ xã hội
không đồng nhất với nhau. Trong thực tế các sự kiện lịch sử mang tính
chất không lặp lại, hết sức phong phú, các yếu tố tinh thần và vật chất, kinh
tế và chính trị thường xuyên tác động qua lại, xâm phạm,chuyển hoá lẫn
nhau. Hình thái Kinh tế - Xã hội chỉ phản ánh mặt bản chất những mối liên
hệ bên trong, tất yếu, lặp lại của các hiện tượng ấy; Từ tính đa dạng cụ thể,
lịch sử bỏ qua nhũng chi tiết cá biệt, dựng lại cấu trúc ổn định và lôgic phát
triển của qúa trình lịch sử. Bất kì trong giới tự nhiên hay trong xã hội đều
không có và không thể có hiện tượng ” thuần tuý ”.Đó chính là điều mà
phép biện chứng của C.Mác đã nêu lên.
Hình thái Kinh tế - Xã hôị đem lại những nguyên tắc phương pháp luận
xuất phát để nghiên cứu xã hôị, loại bỏ đi cái bề ngoài, cái ngẫu nhiên,
không đi vào cái chi tiết, vượt qua khỏi tri thức kinh nghiệm hoặc xã hội
11
học mô tả, đi sâu vạch ra cái bản chất ổn định từ cái phong phú của hiện
tượng, vạch ra cai lôgic bên trong của tính nhiều vẻ của lịch sử.
3.
Sự phát triển của các Hình thái Kinh tế - Xã hội.
Lịch sử phát triển của xã hội đã trải qua nhiều quá trình nối tiếp nhau từ
thấp đến cao. Tương ứng với mỗi giai đoạn là một hình thái Kinh tế - Xã
hội. Sự vận động thay thế nối tiếp nhau của các Hình thái Kinh tế - Xã hội
trong lịch sử đều do tác động của các quy luật khách quan. Đó là quá trình
lịch sử tự nhiên của xã hội. C.Mác viết : ” Tôi coi sự phát triển của
những Hình thái Kinh tế - Xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên ”.
Quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của xã hội có nguồn gốc sâu xa ở sự
phát triển của Lực lượng sản xuất. Chính tính chất và trình độ của Lực
lượng sản xuất đã quy định một cách khách quan của Quan hệ sản xuất, và
như vậy quyết định qúa trình vận động và phát triển của Hình thái Kinh tế -
Xã hội như một quá trình tư nhiên. Trong các quy luật khách quan chi phối
sự vận động, phát triển của các Hình thái kinh tế - xã hội thì quy luật về sự
phù hợp về Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của Lực lượng sản
xuất đóng vai trò quyết định. Một mặt của những Phương thức sản xuất,
Lực lượng sản xuất là yếu tố đảm bảo tính kế thừa trong sự phát triển, tiến
lên của xã hội, quy định khuynh hướng phát triển từ thấp đến cao.
Mặt khác của Phương thức sản xuất biểu hiện tính gián đoạn trong sản
xuất phát triển của lich sử. Những Quan hệ sản xuất lỗi thời đã được xoá bỏ
và thay thế bằng những kiểu Quan hệ sản xuất mới cao hơn và dẫn đến
Hình thái Kinh tế - Xã hội mới cao hơn giai đoạn đầu. Như vậy, sự xuất
hiện và phát triển của Hình thái Kinh tế được giải thích trước hết bằng sự
tác động của các quy luật. Trong quá trình tiến triển của các Hình thái Kinh
tế - Xã hội, hình thái mới không xoá bỏ mọi yếu tố của hình thái cũ mà
trong khi phá vỡ cấu trúc của hệ thống cũ lại bảo tồn và kế thừa và đổi mới
những yếu tố của nó vừa đảm bảo tính liên tục, vừa tạo ra bước phát triển.
Do đó tạo ra tình trạng chồng chất đan xen những yếu tố của Hình thái
Kinh tế - Xã hội khác, của nhiều thời kỳ lịch sử khác. LêNin đã chỉ rõ :
12
”Trên thế giới không có và cũng không thể có thứ Chủ nghĩa Tư bản
nào là thuần tuý cả vì Chủ nghĩa Tư bản luôn luôn có lẫn những yếu tố
phong kiến, tiểu thị dân và cả những cái khác nữa ”.
Tuy nhiên, vạch ra con đương tổng quát của sự phát triển lịch sử điều
đó không có nghĩa là đã giải thích đựơc rõ ràng sự phát triển xã hội trong
mọi thời điểm lịch sử ở mỗi nước của quá trình lịch sử cụ thể vô cùng
phong phú có hàng loạt những yếu tố làm cho tiến trình chung trong sự
phát triển trong sự phát triển của xã hội loài người có những biểu hiện đa
dạng phong phú ở những nước, dân tộc khác nhau. Không thể xem xét quá
trình lịch sử như một con đường thẳng, nhân tố quyết định trong quá trình
lịch sử xét đến cùng là nền sản xuất đời sống hiện thực. Những nhân tố
kinh tế không phải là nhân tố duy nhất quyết định mà những nhân tố khác
của Kiến trúc thượng tâng đếu có ảnh hưởng đến quá trình lịch sử. Vì vậy
để hiểu được lịch sử thì cần thiết phải tính đến các nhân tố cơ bản có tham
gia trong sự tác động lẫn nhau của chúng.
Tiến trình lịch sử của một dân tộc của một quốc gia cụ thể thường
xuyên bị yếu tố bên trong và bên ngoài khác chi phối như hoàn cảnh địa lý,
truyền thống văn hoá, tâm lý dân tộc, quan hệ giao lưu với các dân tộc
khác. Tất cả các yếu tố đó đều có thể góp phần kìm hãm hoặc thúc đẩy sự
phát triển của một dân tộc nhất định. Tính trọng chiến tranh hay hoà bình
của một dân tộc cũng có thể làm gián đoạn,phá vỡ tiến trình phát triển tự
nhiên hoặc tạo tiền đề phát triển của lịch sử một dân tộc.
II. Quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội - Con đường phát triển tất yếu của
cách mạng Xã hội Chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
1. Hình thái Kinh tế - Xã hội của Mác trong cuộc cách mạng Xã hội
Chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

13
Nước ta quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội không qua giai đoạn phát triển
Tư bản Chủ nghĩa không có nghĩa là gạt bỏ tất cả những quan hệ sở hữu cá
thể, tư nhân, chỉ còn lại chế độ công hữu và tập thể, trái lại, tất cả những gì
thuộc về sở hữu tư nhân góp phần vào sản xuất kinh doanh thì chấp nhận
nó như một bộ phận tự nhiên của quá trình kinh tế xây dựng Chủ nghĩa Xã
hội, khuyến khích mọi hình thức kinh tế để phát triển sản xuất và nâng cao
cuộc sống của nhân dân. Trong sự tác động lẫn nhau của các yếu tố cấu
thành Quan hệ sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối có
vai trò quan trọng. Những quan hệ này có thể góp phần củng cố Quan hệ
sản xuất , cũng có thể làm biến dạng Quan hệ sở hữu. Trong cải tạo Xã hội
Chủ nghĩa những năm qua do không hạn chế đầy đủ vấn đề này chúng ta đã
mắc phải khuyết điểm là tuyệt đối hoá quan hệ sở hữu, coi nhẹ các quan hệ
khác dẫn đến việc cải tạo Quan hệ sản xuất không đồng bộ nên quan hệ sản
xuất ”mới” chỉ là hình thức.
Đảng ta khẳng định lấy Chủ nghĩa Mac - LêNin là kim chỉ nam cho
hành động và nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Nội dung cốt lõi của Chủ
nghĩa Mac- LêNin là ở tư tưởng giải phóng con người khỏi chế độ làm
thuê, khỏi chế độ tư hữu dựa trên cơ sở người bóc lột người. Vì vậy, trong
sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Xã hội của nhân dân ta đương nhiên lấy
Chủ nghĩa Mac - LêNin là kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng Hồ Chí
Minh là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mac - LêNin vào hoàn cảnh nước
ta mà cốt lõi là sự kết hợp Chủ nghĩa Mac - LêNin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta. Tư tưởng đó đã trở thành
một di sản tinh thần quý báu của Đảng, của nhân dân ta.
Xây dựng hệ thống chính trị Xã hội Chủ nghĩa, bản chất giai cấp công
nhân do đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo đảm bảo cho
nhân dân là người chủ thực sự của xã hội.toàn bộ quyền lực xã hội thuộc về
nhân dân, thực hiện nền dân chủ Xã hội Chủ nghĩa,đmả bảo phát huy mọi
khả năng sáng tạo tích cực, chủ động của mọi các nhân,mọi tầng lớp xã hội
trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hoá, phục vụ ngày càng tốt hơn
cuộc sống của nhân dân.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét