đối và nhập khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng là nhiều bất lợi
nhất. Trong quá trình trao đổi hàng hoá cho phép mỗi quốc gia sử dụng hợp lý và
có hiệu quả các nguồn lực của mình, đồng thời mang lại lợi ích cho cả hai bên
cũng như làm cho của cải của thế giới tăng lên.
Tư tưởng chủ yếu của lý thuyết này là: Lợi thế so sánh là lợi thế có thể đạt
được cho nên kinh tế quốc dân của một nước thông qua sự phân công quốc tế.
Nếu một quốc gia biết tập trung và sản xuất trao đổi những sản phẩm mà ở đó thể
hiện mối tương quan thuận lợi giữa các mức chi phí cá biệt của quốc gia so với
mức trung bình của thế giới, đồng thời biết khéo léo lựa chọn và kết hợp ưu thế
của quốc gia mình với ưu thế của quốc gia khác thì sẽ đạt hiệu quả tối đa trên cơ
sở nguồn lực hạn chế mà nếu không tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế
thì dù thế nào đi nữa họ cũng không thể nào có được. Một quốc gia mà việc sản
xuất ra các loại hàng hoá và dịch vụ không có hiệu quả bằng các quốc gia khác
nhưng trong nhiều trường hợp vẫn thu được lợi ích, thậm chí lợi ích cao hơn cả
các quốc gia khác, nếu họ biết chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những sản
phẩm sử dụng những nguồn lực tương đối rẻ sẵn có trong nước và nhập khẩu
những mặt hàng mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu tố tương đối đắt và
khan hiếm trong quốc gia mình
Tác dụng cơ bản và chủ yếu của lý thuyết về lợi thế so sánh là việc vận dụng
nó để xác định lợi thế của mọi quốc gia khi tham gia vào hoạt động thương mại
quốc tế sao cho thu được hiệu quả cao nhất.
Lợi thế so sánh của một quốc gia chịu tác động của nhiều nhân tố như lợi thế
về nguồn lực chính sách kinh tế như chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách thuế
quan và các hàng rào phi thuế quan Lợi thế so sánh phải xem xét trong các đIều
kiện về thời gian và không gian nhất định. Một quốc gia có thể có lợi thế tương
đối trong việc sản xuất các loại hàng hoá sử dụng nhiều lao động sau một thời
gian, khi tiền công tăng lên thì quốc gia đó sẽ mất đI lợi thế này. Sự thay đổi đột
ngột tỷ giá hối đoái đôi khi cũng làm cho một nước mất đI lợi thế trong thương
mạI quốc tế.
Ví dụ về mô hình của D.Ricardo được minh hoạ ở bảng sau
Biểu 2: Ví dụ giả định về lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) giữa việt Nam và Đài
Loan
5
VN ĐL
Thép (kg/giờ công) 1 6
Vải (m/giờ công) 2 4
Biểu 2 cho ta thấy: Đài Loan có lợi thế tuyệt đối so với Việt Nam về cả hai
loại hàng hoá. Nhưng khi tăng năng suất lao động ở ngành thép của Đài Loan gấp
6 lần của việt Nam thì năng suất trong ngành vải lại chỉ gấp 2 lần. Do đó giữa 2
hàng hoá là thép và vải Việt Nam có lợi thế tương đối trong sản xuất vải.
Theo quy luật lợi thế so sánh cả hai quốc gia cùng có lợi nếu Việt Nam
chuyên môn hoá sản xuất vải, còn Đài Loan chuyên môn hoá sản xuất thép sau
đó cả hai quốc gia đem trao đổi một phần cho nhau.
* Những lợi ích thương mại đem lại:
Biểu 2 cho thấy nếu tỷ lệ trao đổi quốc tế bằng với tỷ lệ trao đổi địa của một
quốc gia thì 1 trong 2 quốc gia sẽ từ chối trao đổi. Do đó tỷ lệ trao đổi phải ở
khoảng giữa tức là:
6/4>tỷ lệ trao đổi quốc tế(thép/vải)>1/2
Giả sử tỷ lệ trao đổi là 6kg thép lấy 6m vải Đài Loan sẽ lợi được 2m vải, tức
là tiết kiệm được 1/2 giờ công. Trong khi đó, Việt Nam có lợi 6m vải hay tiết
kiệm được 1/2 giờ công. Nếu tỷ lệ trao đổi gần với tỷ lệ trao đổi của Đài Loan thì
Việt Nam càng có lợi và ngược lại. Tóm lại, nếu tiến hành trao đổi theo tỷ lệ ở
khoảng giữa thì cả hai quốc gia cùng có lợi. Khoảng giao động của tỷ lệ trao đổi
quốc tế là: 4m vảI<6kg thép <12m vải.
Như vậy khi tỷ lệ trao đổi quốc tế thay đổi sẽ dẫn tới sự phân phối lại nguồn
lợi từ thương mại giữa các nước tham gia.
2.2. Lợi thế tương đối xét dưới góc độ chi phí cơ hội:
6
Có thể giải thích lợi thế so sánh theo quan điểm về chi phí cơ hội. Theo cách
tiếp cận này, chi phí cơ hội của một hàng hoá là số lượng các hàng hoá khác phải
cắt giảm để nhường lại đủ nguồn tài nguyên sản xuất thêm một đơn vị hàng hoá
thứ nhất. Như vậy quốc gia nào có chi phí cơ hội thấp hơn trong sản xuất một
loại hàng hoá thì có lợi thế tương đối trong việc sản xuất hàng hoá đó và không
có lợi thế tương đối trong việc sản xuất hàng hoá thứ hai.
Trong trường hợp không có ngoại thương, mỗi quốc gia chỉ tiêu dùng tối đa
hàng hoá mà họ sản xuất, lúc đó đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ trùng với
đường giới hạn khả năng tiêu dùng. Sau khi có thương mại mà khả năng tiêu
dùng được mở rộng thì lợi ích tăng lên, và quốc gia có khả năng tiêu dùng nhiều
hơn khả năng sản xuất khi nền kinh tế đóng cửa.
7
Tuy nhiên, lợi thế so sánh của Ricardo chỉ đề cập đến mô hình đơn giản của
hai nước, hai hàng hoá và một nguồn lực đầu vào là lao động. Vì thế, mô hình
của Ricardo chưa giải thích một cách rõ ràng nguồn lực của thương mại quốc tế
trong nền kinh tế hiện đại. Hai nhà kinh tế học người Thuỵ Điển là Hecksher và
Ohlin đã bổ sung bằng một mô hình mới rõ cách lựa chọn đó như thế nào, trong
đó hai ông đã đề cập đến hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động.
2.3. Lý thuyết của Hecksher - Ohlin về lợi thế tương đối:
Mô hình Hecksher - Ohlin phát biểu: một nước sẽ xuất khẩu loại hàng hoá mà
việc sản xuất ra nó sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có ở nước đó và
nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuấtư ra nó cần nhiều yếu tố đắt và khan
hiếm ở nước đó. Một cách vắn tắt, một nước tương đối giàu lao động thì sẽ sản
xuất những hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu hàng hoá sử dụng
nhiều vốn.
Về bản chất, học thuyết Hecksher - Ohlin căn cứ vào sự khác biệt về tính
phong phú và giá tương đối của nhiều yếu tố sản xuất, là nguyên nhân dẫn tới sự
khác biệt về giá cả tương đối của hàng hoá giữa các quốc gia trước khi có thương
mại để giải thích về nguồn gốc của thương mại quốc tế. Sự khác biệt về giá cả
tương đối của các yếu tố sản xuất và giá cả của hàng hoá sau đó sẽ chuyển thành
sự khác biệt và giá cả tuyệt đối của hàng hoá. Sự khác biệt về giá cả của các hàng
hoá giữa hai nước là nguyên nhân của thương mạI quốc tế.
II. ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU RAU QUẢ Ở VIỆT NAM LÀ MỘT TẤT
YẾU KHÁCH QUAN.
1. Xuất khẩu rau quả Việt Nam là hướng đi phù hợp với lợi thế so sánh
của Việt Nam trong thương mạI quốc tế:
Trong đIều kiện hội nhập quốc tế ngày nay, muốn phát triển mỗi quốc gia
không thể đóng kín cửa mà phảI tích cực mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
thương mạI, tham gia vào phân công hợp tác quốc tế.
Nhưng để hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam cũng gặp phải
những thách thức. Đó là sản phẩm và dịch vụ của Việt Nam phải chịu sức ép
cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế và thị trường trong nước về mọi mặt do
Việt Nam tham gia vào thị trường thế giới trong bối cảnh phân công lao động đã
được xác lập khá ổn định, thị trường thế giới đã được phân chia tương đối. Mặt
8
khác các doanh nghiệp Việt Nam còn non trẻ phải tập trung với các tập đoàn lớn
có kinh nghiệm.
Xuất khẩu là một khâu quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân của một nước
Góp phần vào tổng sản phẩn trong nước nhờ bán ra nước ngoài những sản phẩm
có lợi thế, có chất lượng cao. Nguồn thu từ xuất khuẩu được sử dụng vào việc
trang trải nhu cầu nhập khẩu của nền kinh tế, góp phần cân đối, duy trì và mơ
rộng tái sản xuất trong nước, tranh thủ những tiến bộ của khoa học và công nghệ
mới, hoà nhập với sự tiến bộ củanền kinh tế thế giới
Đối với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nước trong khu vực thực
tiễn phát triển những năm gần đây đã chứng minh nhờ thuực thi chính sách
hướng về xuất khẩu mà các nước đã nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo
nàn, lạc hậu, trở thành các quốc gia, vùng lãnh thổ công nghiệp mới, có nền kinh
tế giàu mạnh, hiện đại, có khả năng tiến kịp các nước kinh tế phát triển trong thập
kỉ tới .Do vậy, đối vối nhiều nước xuất khẩu trở thành mũi nhọn của nền kinh tế,
là đòn bẩy của nền kinh tế xã hội.
9
Đối với nước ta, thực tiến những năm qua cho thấy nhờ thực hiện chủ trương
đường lối đổi mới của Đảng và Nhà Nước, đặc biệt là chủ trương hướng mạnh
vào xuất khẩu, nền ngoại thương có bước phát triển khá mạnh, kim ngạch xuất
khẩu tăng nhanh. Kim ngạch xuất khẩu các năm 1996, 1997, 1998 lần lượt là: 7,3
tỷ; 9,1 tỷ và 9,3 tỷ USD. Cơ cấu mặt hàng, thị trường có sự chuyển dịch quan
trọng góp phần thúc đẩy sản xuất, tăng trưởng kinhtế, cải thiện đời sống đưa đất
nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài nhiều năm.
Một trong những nguyên nhân thành công của hoạt động xuất khẩu là do
chúng ta biết phân tích, chọn ra các nguồn lực, lợi thế so sánh trong điều kiện cụ
thể của nước ta đối với từng ngành hàng, từng nhóm hàng, mặt hàng và kết hợp
với các lợi thế so sánh này trong hoạt động xuất khẩu.
Qua nghiên cứu phân tích, các nhà kinh tế đã khẳng định Việt Nam có những
lợi thế sau trong hoạt động kinh tế đối ngoại.
- Vị trí địa lý: Việt nam nằm ở vòng cung Châu á - Thái Bình Dương là nơi
đang diễn ra dòng giao lưu kinh tế sôI động nhất và hứa hẹn những bước phát
triển trong tương lai, nằm trên tuyến giao thông quốc tế quan trọng với hệ thống
cảng biển và cửa ngõ không chỉ cho nền kinh tế Việt Nam mà còn cho các quốc
gia khác. Đây là lợi thế so với các nước nằm sâu trong lục địa hoặc nằm ở những
nơI ít diễn ra các hoạt động thương mại quốc tế trên biển. Lợi thế về địa lý đã và
đang được nước ta khai thác để phát triển thương mạI quốc tế
- Lao động: Với 37 triệu người đang trong độ tuổi lao động trên tổng số 78
triệu người dân, hàng năm nước ta có 1,2 triệu người bước vào độ tuổi lao động.
Đây được xem như một nguồn lực quý. Tuy nhiên đó mới chỉ là lợi thế về mặt số
lượng. Xét về chất lượng, người Việt Nam có tư chất thông minh, có khả năng
tiếp thu nhanh khoa học công nghệ. Giá nhân công rẻ cũng là một lợi thế của Việt
Nam trong phân công lao động quốc tế. Đây là yếu tố thu hút đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam trong những năm qua. Tuy nhiên lao động Việt Nam vẫn còn hạn
chế về năng suất lao động, ý thức tổ chức kỷ luật đòi hỏi phải có giải pháp khắc
phục mới đáp ứng được nhu cầu phân công lao động quốc tế.
10
- Tài nguyên thiên nhiên gồm đất đai, khí hậu, đường biển, khoáng sản, tiềm
năng du lịch, được đánh giá là một trong những lợi thế của Việt Nam trong phát
triển thương mại quốc tế. Tuy nhiên để tận dụng được lợi thế so sánh này chúng
ta cần có biện pháp khai thác, sử dụng hợp lý, kết hợp tốt giữa khai thác và cải
tạo để đạt được hiệu quả kinh tế cao.
- chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước: Từ khi Đảng và Nhà nước thực
thi chính sách đến nay , nền kinh tế Việt Nam đạt được những thành tựu nổi bật,
khẳng định được sự đúng dắn trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
là sự phát triển trong sự quan hệ hợp tác với các nước, tham gia vào các tổ chức
kinh tế quốc tế. Như vậy chính sách đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước
được xem như một trong những lợi thế có vai trò quyết định đối với thành công
của hoạt động kinh tế đối ngoại, trong đó có hoạt động xuất nhập khẩu. Lợi thế
so sánh này tuy không tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng có tác
động gián tiếp thông qua các chủ trương chính sách đIều tiết, quản lý kỉnh tế,
đIều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong hoạt động kinh tế đối ngoại,
các chính sách ban hành đã tạo ra những thuận lợi cho phép phát huy các lợi thế
so sánh của đất nước. Kết quả hoạt động kinh tế đối ngoạI nói chung, hoạt động
xuất nhập khẩu nói riêng những năm qua đã chứng minh đIều đó.
Bên cạnh những thuận lợi trong quá trình tham giá thương mại quốc tế Việt
Nam còn gặp phải rất nhiều khó khăn.
- Thách thức gay gắt nhất là nguy cơ “tụt hậu” xa hơn về kinh tế so với nhiều
nước trong khu vực do xuất phát điểm của ta quá thấp, lại phải đối phó với những
cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế, không hội nhập được, nhưng hội nhập
với nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta không tránh khỏi phải chịu ảnh
hưởng của xu thế “tự do hoá thương mại” của biến động giá cả quốc tế và lãi suất
ngân hàng, tình hình cung cầu hàng hoá và vốn đầu tư, của thị trường nước ngoài
trong khi bố trí cơ cấu kinh tế Tình hình đó đặt ra cho ta nhiều khó khăn trong
hoạch định chiến lược cũng như trong đIều hành quản lý, đòi hỏi nền kinh tế
nước ta phải phát triển vượt bậc, mau chóng trưởng thành để đủ sức chống đỡ các
ảnh hưởng nói trên.
Nền kinh tế còn nhiều yếu kém, đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại vừa
thiếu lại vừa yếu, tổ chức bộ máy kinh tế đối ngoại kém hiệu quả đã tác động
không thuận lợi đến sự phát triển kinh tế đối ngoại
11
Việt Nam cần phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại của mình theo hướng
không ngừng mở rộng quy mô đi đôi với ra sức nâng cao chất lượng của “đa
phương hoá và đa dạng hoá” kinh tế đối ngoại. Đa phương hoá và đa dạng hoá
nhằm khai thác hết mọi tiềm năng, tạo ra đối trọng nhiều chiều, sự cạnh tranh
nhiều mặt giữa các đối tác nước ngoàI trong quan hệ làm ăn với Việt Nam. Để
đạt được hiệu quả cao trong thực hiện phương châm này, cần chú ý đến các vấn
đề sau:
+ Đaphương hoá và đa dạng hoá ngày càng rộng nhưng cần có sản phẩm mũi
nhọn, mặt hàng chủ lực, thị trường trọng đIểm, cần nhằm vào những đối tác thực
sự có nhiều vốn, kỹ thuật công nghệ, thị trường, có chủ trương hoạt động trên thị
trường Việt Nam, có tác dụng làm đối trọng trên một mưc độ nhất định.
+ Luôn luôn nắm vững hiệu quả, lấy hiệu quả làm chuẩn mực trong việc lựa
chọn mặt hàng cũng như đối tác. Với tư cách chủ nhà khi xem xét hiệu quả, cần
xét đồng bộ trên cả ba mặt: Kinh tế - kỹ thuật, xã hội và tài chính. Ở Việt Nam
những ngành có lợi thế so sánh là ngành sử dụng nhiều lao động, tài nguyên thiên
nhiên, ngoài ra Việt Nam còn có một vị trí địa lý thuận lợi và một hệ thống chính
sách thương mại phù họp quốc tế.
2. Sản xuất và xuất khẩu rau quả Việt Nam phù hợp với định hướng
phân công lao động quốc tế:
Hiện nay trên thế giới đã nghiên cứu và trồng hàng ngàn loại rau quả khác
nhau. Cùng với quá trình phát triển khoa học kỹ thuật, con người ngày càng sử
dụng đa dạng và triệt để hơn các sản phẩm rau quả. Theo đánh giá của FAO về
hình cung cầu các sản phẩm rau quả tươi và rau quả chế biến thì ngày nay các sản
phẩm rau quả mới chỉ đáp ứng được 45% nhu cầu tiêu thụ trên thế giới. Cũng
theo số liệu thống kê của FAO hiện tại bình quân sản xuất quả theo đầu người
khoảng 75kg. Dự báo nhu cầu tăng bình quân hàng năm giai đoạn 1990 - 2005 là
3,6%, tốc độ sản phẩm mới là 2,8%
Những nước mùa đông lạnh giá không sản xuất được rau quả SNG, Đông Âu,
Bắc Âu, hoặc những nước và khu vực tuy khí hậu cho phép sản xuất rau quả
nhưng thiếu đất, thiếu lao động do bị các ngành công nghiệp và dịch vụ thu hút
như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore là những thị trường cần nhập rau
quả với số lượng lớn. Để đáp ứng nhu ccầu tiêu thụ rau quả, chính phủ nước họ
phảI nhập khẩu. Có nước hàng năm nhập hàng triệu tấn rau quả như: Đức, Pháp,
12
Mỹ, Tây Ban Nha. Đây là thị trường xuất khẩutiềm năng cho những nước có lợi
thế về trồng rau quả như nước ta.
Bên cạnh tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu đối với mặt hàng rau quả
hiện nay thì xu hưoứng tiêu dùng trong tương lai của nhiều quốc gia trên thế giới
có sự thay đổi lớn, tức là tăng dinh dưỡng bằng thực vật và các loại sinh tố khác
có trong rau quả, sử dụng đồ uống pha trộn nhiều nước hoa quả nguyên chất đã
góp phần làm cho cầu về rau quả tăng lên nhanh chóng. Một số nước trước đây
sản xuất nhiều rau quả nhưng gần đây có xu hướng giảm dần cả về diện tích, sản
lượng và chủng loại rau quả. Điều đó cũng làm cho cung cầu về rau quả trên thị
trường giảm xuống cầu về rau quả ngày càng tăng.
Tình hình nêu trên đã và đang là vấn đề bức xúc đối với thị trường rau quả thế
giới, đồng thời tạo ra những lợi thế lớn cho việc phát triển ngành sản xuất, xuất
khẩu rau quả nước ta trở thành một mũi nhọn trong tương lai.
3. Sản xuất rau quả phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng
nông nghiệp nước ta, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân.
Theo kinh nghiệm của những nhà sản xuất kinh doanh xuất khẩu và theo tính
toán của các chuyên gia ngành rau quả cho thấy, sản xuất và xuất khẩu rau quả
cho hiệu quả kinh tế cao hơn các nông sản khác.
Theo tổng kết của huyện Lục Ngạn, trồng vải thiều đến năm thứ 5 đã thu hồi
vốn, từ năm thứ sáu trở đi có lãi, trong khi trồng các loại cây công nghiệp thì
thường từ năm thứ 8 trở đi mới bắt đầu sinh lời.
Theo tính toán của các chuyên gia bình quân thu nhập trồng vải thiều trên một
ha đạt gần 20 triệu đồng. Trong khi đó nếu trồng cây lương thực (sắn, khoai
lang, ) chỉ cho thu nhập 3 triệu đồng/ha. Hiệu quả thu hoạch một cây vỉa thiều 8
tuổi tương đương thu nhập 3 sào lúa.
Tại huyện Nam Thanh tỉnh Hải Dương qua khảo sát thực tế một sào trồng vải
khi thu hoạch ổn định cho giá trị gấp 8 - 10 lần trồng lúa. Năm1997, một số chủ
trang trại thu nhập từ vải thiều được trên 100 triệu đồng.
Những thông tin và ý kiến của những chuyên gia, các nhà sản xuất xuất khẩu
cho thấy hiệu quả kinh tế của sản xuấtư và xuất khẩu rau quả được xem như là
một trong những lợi thế trong hoạt động này.
13
Mặt khác phát triển sản xuất chế biến xuất khẩu rau quả góp phần giải quyết
việc làm tăng thu nhập cho người lao động trong xã hội. Đó chính là hiệu quả
kinh tế xã hôị của hoạt động sản xuất - chế biến - xuất khẩu rau quả.
4. Xu hướng phát triển của thị trường rau quả:
Xu hướng chuyển từ chuyên môn hoá sang đa dạng hoá sản xuất và xuất
khẩu rau quả:
Xu hướng phát triển sản xuất và xuất khẩu chuyển từ chuyên môn hoá sang
đa dạnh hoá ở đây không có nghĩa là từ bỏ sản phẩm chuyên môn hoá mà là đa
dạng hoá nhưng vẫn có sản phẩm chuyên môn hoá. Đa dạng hoá để hỗ trợ cho sự
phát triển sản phẩm chuyên môn hoá, sản phẩm chủ lực.
Theo kinh nghiệm của một số nước Châu á có giá trị xuất khẩu rau quả cao
(ấn Độ, Trung Quốc ) thì sự chuyển hướng từ chuyên môn hoá sang đa dạng
hoá không phải là quá trình thay đổi sản phẩm chuyên môn hoá có lợi thế so
sánh. Những sản phẩm truyền thống chủ lực không có sự giảm bớt sản lượng
xuất khẩu thậm chí còn có xu hướng tăng. Lịch sử phát triển của những nước có
nền kinh tế phát triển cho thấy họ đã đi từ nông nghiệp đa canh tự cấp sang ngành
nông nghiệp chuyên canh sản xuất hàng hoá cao, từ đó mới chuyển sang đa dạng
hoá sản phẩm nhưng vẫn có sản phẩm chuyên môn hoá, sản phẩm chủ lực.
III. ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ VÀ
KINH NGHIỆM SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN - XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA
MỘT SỐ NƯỚC.
1. Đặc điểm của hoạt động sản xuất rau quả:
1.1. Đặc đIểm của mặt hàng rau quả:
+ Sản phẩm rau quả dễ thiu thối hư hỏng. Do đó công tác bảo quản và chế
biến rau quả rất quan trọng.
+ Giá rau quả biến động mạnh, thị trường không ổn định, có nhiều đối thủ
cạnh tranh.
+ Quy định để nhập khẩu rau quả vào các thị trường tiềm năng như Châu Âu,
Bắc Mỹ, Nhật Bản rất ngặt nghèo, nhất là vệ sinh an toàn thực phẩm.
+Sản phẩm rau quả phụ thuộc vào thời tiết.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét