Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Bản chất, đặc trưng và giải pháp xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay


+ Cung : đợc hiểu là toàn bộ hàng hoá có trên thị trờng và có thể đa
ngay đến thị trờng ở một mức giá nhất định.
+ Cầu : đợc hiểu là nhu cầu của xã hội về hàng hoá đợc biểu hiện trên
thị trờng ở một mức giá nhất định, nó bị giới hạn bơỉ khả năng thanh toán của
dân c.
+ Giữa cung và cầu tồn tại một mối quan hệ biện chứng,sự tác động
qua lại giữa chúng hình thành nên giá cả thị trờng.
- Phạm trù giá cả thị trờng : là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị tr-
ờng của hàng hoá. Giá cả thị trờng gồm các chức năng:
+ Chức năng thông tin : giá cả thị trờng sẽ cho ngời sản xuất biết đợc
tơng quan cung - cầu và sự khan hiếm đối với các loại hàng hoá.
+ Chức năng thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật : để cạnh tranh về giá, nhà sản
xuất sẽ phải áp dụng công nghệ tiên tiến, dẫn đến thúc đẩy sự phát triển của kỹ
thuật và công nghệ.
+ Chức năng phân bố các nguồn lực kinh tế : sự biến động giá cả sẽ
dẫn đến sự biến đổi về cung cầu, về sự phân bố các nguồn lực kinh tế.
+ Chức năng phân phối lại
- Phạm trù cơ chế thị trờng : là cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế thị tr-
ờng do sự tác động của các quy luật vốn có của nó. Nói một cách cụ thể hơn, cơ
chế thị trờng là một hệ thống hữu cơ của sự thích ứng lẫn nhau, tự điều tiết lẫn
nhau của các yếu tố nh : giá cả, cung cầu, cạnh tranh Trực tiếp phát huy tác
dụng trên thị trờng để điều tiết nền kinh tế thị trờng.
- Phạm trù lợi nhuận : là tiền lời mà nhà t bnả thu đợc sau khi bán hàng
hoá do có sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí t bản. Thực chất của lợi
nhuận chính là giá trị thặng d do ngời lao động sản xuất ra. Vì vậy, giá trị
thặng d là nội dung bên trong đợc tạo ra trong quá trình sản xuất và kết tinh
trong hàng hoá, còn lọi nhuận chẳng qua chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị
thặng d ở ngoài xã hội thông qua lu thông.
2.2. Các quy luật của kinh tế thị trờng
5

- Quy luật giá trị: là quy luật kinh tế cơ bảncủa sản xuất và trao đổi
hàng hóa. ở đâu có sản xuất và trao đổi sản xuất thì ở đó có quy luật giá trị hoạt
động. Quy luật giá trị xác định sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở
hoa phí lao động xã hội cần thiết, nghĩa là hao phí lao động cá biệt phải phù hợp
với hao phí lao động xã hội. Trong nền sản xuất hàng hoá nói chung quy luật
giá trị có ba tác động cơ bản :
+ Điều tiết một cách tự phát quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá.
+ Kích thích cải tiến kĩ thuật tăng năng suất lao động thúc đẩy lực l-
ợng sản xuất phát triển nhanh chóng.
+ Phân hoá ngời sản xuất thành ngời giàu, ngời nghèo trong xã hội.
- Quy luật lu thông tiền tệ: là quy luật xác định lợng tiền cần thiết cho
lu thông với nội dung sau : M = P.Q / V
M - Lợng tiền cần thiết cho lu thông
P- mức giá cả hàng hoá và dịch vụ trong năm
Q- khối lợng hàng hoá và dịch vụ trong năm
P.Q- tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ trong năm
V- tốc độ chu chuyển tiền tệ
Nh vậy lợng tiền cần thiết cho lu thông tỉ lệ thuận với tốc độ chu
chuyển của tiền tệ.
- Quy luật cung cầu:
+ Cung có mối quan hệ chặt chẽ với sản xuất nhng không đồng nhất
với sản xuất
+ Cầu phụ thuộc vào khả năng thanh toán của dân c .
Mối quan hệ cung- cầu đợc phản ánh qua tơng quan cung- cầu.Tơng
quan cung-cầu điều chỉnh giá cả thị trờng, tức là điều chỉnh độ chênh lệch giữa
giá cả thị trờng với giá thị trờng. Khi đạt tới trạng thái cân bằng, cung và cầu
tao nên khả năng phục hồi những cân đối bị phá hoại trong nền kinh tế. Cung và
cầu còn đảm bảo mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất, tức
6

là mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, đồng thời nó cũng biểu hiện quan hệ
lợi ích giữa ngời sản xuất với ngời tiêu dùng, ngời mua và ngời bán.
- Quy luật cạnh tranh: đợc hiểu là sự đấu tranh giữa các chủ thể hành vi
kinh tế nhằm giành lợi ích tối đa cho mình. Cạnh tranh là yếu tố cơ bản của cơ
chế thị trờng. Nó là cơ chế điều chỉnh linh hoạt sản xuất xã hội và do đó làm
cho sự phân bố các nguồn lực kinh tế xã hội một cách tối u. Cạnh tranh kích
thích tiến bộ khoa học kĩ thuật phát triển , ngoài ra nó còn góp phần tạo cơ sở
cho sự phân phối thu nhập lần đầu. Thông qua cạnh tranh, các chủ thể hành vi
kinh tế thích ứng với thị trờng sẽ tồn tại và phát triển, ngợc lại chủ thể hành vi
kinh tế nào không thích ứng với thị trờng sẽ bị đào thải.
3. Sự cần thiết khách quan tồn tại kinh tế thị trờng ở Việt Nam
Trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa t bản lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế
hàng hoá, kinh tế thị trờng còn tồn tại là tất yếu. Về mặt kinh tế, có thể coi đây
là thời kỳ của nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế thị
trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trờng còn nhiều xu hớng tự
phát nhng có sự điều tiết của Nhà nớc do Đảng cộng sản lãnh đạo theo hớng
củng cố và phát triển chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, kết hợp đúng đắn giữa
kế hoạch và thị trờng, kết hợp kế hoạch phát triển kinh tế với kế hoạch xã hội
theo định hớng xã hội chủ nghĩa, giảm hẳn phần kế hoạch pháp lệnh và kế
hoạch trực tiếp thay bằng kế hoạch định hớng, trong đó không chỉ chú ý đến
những cân đối tổng hợp mà còn cả cân đối giá trị, nhằm giữ vững cân đối tổng
thể, tạo môi trờng thuận lợi cho hoạt động của tất cả các thành phần kinh tế, và
do kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo.
Kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa có những yếu tố
khách quan yêu cầu và bảo đảm cho sự thành công của nó. Đó là khu vực kinh
tế xã hội chủ nghĩa làm nền tảng đã hình thành, Nhà nớc nắm giữ những ngành,
những lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế, chính quyền là của nhân dân, do dân
và vì dân, dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
7

Kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa đã có tiền lệ lịch sử
chứ không phải là công việc hoàn toàn mới hay cha hề có nh một số
tác giả đã quan niệm. Tiền lệ đó là chính sách kinh tế mới ( NEP ) do Lênin đề
xớng đã đợc vận dụng vào thực tiễn ở Liên xô trong những năm hai mơi. Nội
dung cơ bản của chính sách đó là chuyển từ nền kinh tế mệnh lệnh, chỉ huy
sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa, biện pháp chủ yếu
để bảo đảm thắng lợi của định hớng t bản chủ nghĩa và ngăn chặn định hớng t
bản chủ nghĩa là sử dụng đúng đắn chủ nghĩa t bản Nhà nớc dới nền chuyên
chính vô sản.
Qua 10 năm đổi mới, vận dụng sáng tạo t tởng của Lênin vào đặc điểm
và điều kiện thực tiễn của Việt Nam, Đảng ta đã đề ra đờng lối cách mạng đúng
đắn, đa đất nớc đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện
chúng ta không tránh khỏi một số khuyết điểm, lệch lạc; song về cơ bản chúng
ta đã vợt qua một giai đoạn thử thách gay go và không những đã đứng vững mà
còn vơn lên, đạt những thành tựu to lớn trên nhiều mặt.
Với những điều trình bày ở trên chúng ta có thể khẳng định rằng,
chuyển sang cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng xã hội
chủ nghĩa, là sự chuyển đổi hợp quy luật. Không thể coi đó là sự từ bỏ lý t-
ởng và ngả sang chủ nghĩa t bản .
II. Mô hình kinh tế thị trờng định hớng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
Kinh tế thị trờng khác hẳn với nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
trớc kia sự cạnh tranh nghiên cứu dới góc độ quan điểm toàn diện chúng ta nhận
thấy rằng một mặt nền kinh tế thị trờng làm cho cạnh tranh thúc đẩy khoa học
phát triển, tiếp thu đợc các công nghệ và bí quyết mới. Nhng mặt khác cạnh
tranh cũng làm cho hàng loạt xí nghiệp doanh nghiệp bị phá sản. Đó là do kinh
tế thị trờng bao hàm cả hai mặt tích cực và tiêu cực.
8

- Về mặt tích cực : kinh tế thị trờng tạo ra đợc những con ngời năng
động, quyết đoán có đợc nhiều kinh nghiệm sau những lần cạnh tranh thắng lợi
hay thất bại từ đó thúc đẩy lực lợng sản xuất, nâng cao năng suất lao động đẩy
mạnh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, quá trình xã hội hoá lực lợng sản
xuất.
- Về mặt tiêu cực và hạn chế : phân hoá giầu nghèo quá xa, dẫn đến
mọi cân bằng xã hội, xuất hiện mâu thuẫn xã hội. Sự phát triển mù quáng của
các doanh nghiệp mang lẻ tất yếu dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Xuất hiện
nhiều tệ nạn xã hội, quá coi trọng đồng tiền xem thờng đạo đức truyền thống.
Vậy để phát triển kinh tế thị trờng cần phải có sự tác động của Nhà nớc
để tiếp tục phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực. Điều đó đã đợc thể hiện
rõ trong đờng lối kinh tế ở nớc ta là Nhà nớc quản lý kinh tế theo định hớng xã
hội chủ nghĩa gọi tắt là nền kinh tế định hớng xã hội chủ nghĩa.
1. Bản chất và nguyên tắc xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.1. Bản chất của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam
Nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, một mặt
vừa có những tính chất chung của nền kinh tế thị trờng : một là, các chủ thể
kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh; hai là, giá
cả do thị trờng quyết định, hệ thống thị trờng đợc phát triển đầy đủ và nó có tác
dụng làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong các ngành,
các lĩnh vực của nền kinh tế; ba là, nền kinh tế vận động theo những quy luật
vốn có của kinh tế thị trờng nh quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh
tranh sự tác động của quy luật đó hình thành cơ chế tự điều tiết của nền kinh
tế; bốn là, nếu là nền kinh tế thị trờng hiện đại thì cìn có sự điều tiết vĩ mô của
Nhà nớc thông qua pháp luật kinh tế, kế hoách hoá, các chính sách kinh tế. Mặt
khác, kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên cơ sở và
đợc dẫn dắt, chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội.
9

1.2. Nguyên tắc xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổ chức
nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trờng, vừa
dựa trên những nguyên tắc bản chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó kinh tế thị tr-
ờng định hớng xã hội chủ nghĩa có 2 nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau,
kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là nhóm nhân tố của kinh tế thị trờng
đóng vai trò nh là động lực thúc đẩy sản xuất xã hội đúng định hớng xã
hội chủ nghĩa, đóng vai trò hớng dẫn, chỉ đạo sự vận động của nền kinh tế theo
những mục tiêu đã đợc xác định.
Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế mở. Để
mở cửa nền kinh tế tuỳ thuộc vào : thứ nhất là bối cảnh quốc tế, khu vực và
năng lực nội sinh của nền kinh tế trong quá trình vơn ra tiếp cận với nền kinh tế
thế giới; và thứ hai là năng lực tổ chức, quản lý, điều hành của Nhà nớc xã hội
chủ nghĩa và khả năng nội sinh hoá có hiệu quả các yếu tố ngoại sinh
( vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, trí thức kinh doanh ) du nhập vào
nớc ta.
Nh vậy, sự hiện diện của Nhà nớc xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa vừa với t cách là bộ phận cấu thành trọng yếu
( kinh tế Nhà nớc ) , vừa với t cách là chủ thể tổ chức, xây dựng quan hệ quản lý
vĩ mô nền kinh tế thị trờng.
Quản lý Nhà nớc đối với nền kinh tế thị trờng là thực hiện chức năng
quản lý Nhà nớc về kinh tế một đặc trng của kinh tế hiện đại. Đối với kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, chức năng đó đợc thực hiện bởi Nhà nớc của
dân, do dân và vì dân dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
2. Các đặc trng của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam
2.1. Mục tiêu phát triển kinh tế thị trờng
10

Trong nhiều đặc tính có thể dùng làm tiêu thức để phân biệt nền kinh tế
thị trờng ở nớc ta so với nền kinh tế thị trờng khác, phải nói đến mục đích chính
trị, mục đích kinh tế - xã hội mà Nhà nớc và nhân dân ta đã lựa chọn làm định
hớng chi phối sự vận động nền kinh tế.
Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế thị trờng ở nớc ta là giải phóng
sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong nớc và ngoài nớc để thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện từng bớc đời sống nhân dân.
Có những nớc lại muốn dựa vào viện trợ và vay nợ nớc ngoài để cải thiện đời
sống nhân dân rồi sau đó mới thúc đẩy tăng trởng kinh tế. ở nớc ta, thực hiện t
tởng Hồ Chí Minh và đờng lối đổi mới của Đảng, lấy sản xuất gắn liền với cải
thiện đời sống nhân dân, tăng trởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã
hội, khuyến khích làm giầu hợp pháp, gắn liền với xoá đói giảm nghèo.
2.2. Nền kinh tế thị trờng gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế
nhà nớc giữ vai trò chủ đạo
Trong nền kinh tế nớc ta tồn tại ba loại hình thức sở hữu cơ bản là sở
hữu là sở hữu toàn dân ,sở hữu tập thể sở hữu t nhân ,sở hữu t nhân ( gồm sở
hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ ,sở hữu cá nhân t bản ) . Từ ba loại hình sở hữu cơ
bản đó hình thành nhiều thành phần kinh tế, nhiều tổ chức chức sản xuất kinh
doanh. Các thành phần kinh tế đó là kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể, kinh tế cá
thể, tiểu chủ, kinh tế t bản t nhân, kinh tế t bản nhà nớc và kinh tế có vốn đầu t
nớc ngoài, trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế
nói trên tồn tại một cách khách quan và là nhng bộ phận của nền kinh tế trong
thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, phát triển nền kinh tế thị trờng
nhiều thành phần là một tất yếu đối với nớc ta.
Trong nền kinh tế thị trờng nhiều thành phần ở nớc ta, kinh tế giữ vai
trò chủ đạo; tính định hớng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trờng ở nơc ta
đã quyết định kinh tế nhà nớc phải giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu nhiều thành
phần. Bởi lẽ mỗi chế độ xã hội đều có một cơ sở tơng ứng vói nó, kinh tế nhà n-
11

ớc cùng với kinh tế tập thể tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới - xã hội chủ
nghĩa ở nớc ta.
2.3. Trong nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nhiều
hình thức phân phối thu nhập, trong đó phân phối theo lao động là chủ
yếu
Trong nền kinh tế thị trờng ở nớc ta, tồn tại các hình thức phân phối lại
thu nhập sau đây : phân phối theo lao động, phân phối theo vốn hay tài sản đóng
góp, phân phối theo giá trị sức lao động ( nó đợc thực hiện trong các doanh
nghiệp t nhân và các doanh nghiệp mà vốn đầu t là của nớc ngoài ) , phân phối
thông qua các quỹ phúc lợi tập thể và xã hội.
Sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
với kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa là ở chỗ công hữu và thực hiện phân phối
theo lao động. Phân phối theo lao động là dặc trng bản chất của kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa, nó là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ
công hữu. Vì thế, phân phối theo lao động đợc xác định là hình thức phân phối
chủ yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
2.4. Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trờng có sự quản lý
của Nhà nớc xã hội chủ nghĩa
Cơ chế vận hành nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là cơ
chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam. Cơ chế đó đảm bảo tình huớng dẫn, điều khiển nền kinh tế nhiều thành
phần hớng tới đích xã hội chủ nghĩa theo phơng châm : Nhà nớc điều tiết vĩ mô,
thị trờng hớng dẫn doanh nghiệp. Cơ chế đó thể hiện ở các mặt cơ bản: một là,
Nhà nớc xã hội chủ nghĩa là nhân tố đóng vai trò nhân tố trung tâm và
điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Hai là, cơ chế thị trờng là nhân tố đóng vai trò
trung gian giữa Nhà nớc và doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trờng vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý
của Nhà nớc, sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc phải thích hợp với yêu cầu của các
12

quy luật kinh tế thị trờng. Nhà nớc phải sử dụng chủ yếu các công cụ, biện pháp
kinh tế, luật pháp, quy hoạch, kế hoạch định hớng, chính sách kinh tế - xã hội
và khả năng, sức mạnh kinh tế của Nhà nớc để tác động tới thị trờng, điều tiết
hoạt động của các doanh nghiệp cho phù hợp. Vì cơ chế thị trờng có cả mặt tích
cực và mặt tiêu cực, do đó đặt ra cho nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN
phải kết hợp hài hoà 3 vấn đề sau đây : một là, kết hợp vấn đề lợi nhuận với vấn
đề xã hội, đảm bảo cho các chủ thể kinh tế thị trờng có đợc lợi nhuận cao, vừa
tạo đợc điều kiện chính trị - xã hội bình thờng cho sự phát triển kinh tế. Hai là,
kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc của kinh tế thị trờng, nh: phân phối theo lao
động, theo vốn, theo tài năng, phân phối qua quỹ phúc lợi xã hội Trong đó,
nguyên tắc phân phối theo lao động là chính. Thứ ba, điều tiết phân phối thu
nhập, một mặt, đòi hỏi Nhà nớc phải có chính sách sao cho giảm bớt khoảng
cách chênh lệch giữa lớp ngời giàu và lớp ngời nghèo ; mặt khác, phải có
chính sách, biện pháp nâng cao thu nhập chính đáng của ngời giàu, ngời nghèo
và của toàn xã hội.
Sự điều tiết của Nhà nớc thể hiện ở các mặt sau đây :
Một là, Nhà nớc tạo môi trờg pháp lý thuận lợi cho các cá nhân, các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoạt động. ở nớc ta hiện nay các cá
nhân, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đợc quyền tự chủ sản xuất
kinh doanh; các cá nhân, các doanh nghiệp khi lựa chọn phơng án sản xuất kinh
doanh đều lấy lợi nhuận làm thớc đo hiệu quả đồng thời làm mục tiêu định h-
ớng các hoạt động kinh tế của mình, tất nhiên, tự chủ kinh doanh theo pháp luật
và mọi hành vi đều phải tuân theo pháp luật. Do đó, Nhà nớc phải xây dựng và
ban hành một hệ thống pháp luật đầy đủ và đồng bộ nh: luật về các quyền ( sở
hữu, chiếm hữu, sử dụng, thừa kế, chuyển nhợng ) ; luật hợp đồng, luật về
sự bảo đảm của Nhà nớc đối với các điều kiện khung của nền kinh tế (bảo hộ
lao động, bảo vệ môi trờng, chống hạn chế cạnh tranh, chăm sóc môi trờng,
chống hạn chế cạnh tranh, chăm sóc những ngời không có khả năng lao động,
bảo hiểm xã hội ) , luật thơng mại
13

Hai là, Nhà nớc tạo môi trờng kinh tế - xã hội ổn định bằng cách xây
dựng kết cấu hạ tầng sản xuất ( trong đó quan trọng nhất là phát triển hệ thống
giao thông vận tải, thông tin liên lạc ) và kết cấu hạ tầng xã hội ( trong đó quan
trọng nhất là phát triển hệ thống giáo dục - đào tạo, y tế ), cùng với các dịch vụ
công cộng khác nh : đảm bảo an ninh, dịch vụ tiêu dùng
Ba là, Nhà nớc soạn thảo kế hoạch, quy hoạch, các chơng trình phát
triển kinh tế - xã hội và ban hành các chính sách để hớng các chủ thể thị trờng
thực hiện các kế hoạch, quy hoạch và chơng trình ấy thông qua các chính sách
tài chính, tiền tệ, sử dụng các đòn bẩy kinh tế nh: u đãi về thuế, về lãi suất cho
vay cho những ai đầu t vào lĩnh vực mà Nhà nớc khuyến khích.
Một vấn đề quan trọng là : Nhà nớc ta quản lý nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc kết hợp thị trờng với kế hoạch
hoá, phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị
trờng, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân .
Có một số ngời cho rằng, khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng thì Nhà
nớc đừng có can thiệp vào kinh tế và kế hoạch hoá vĩ mô của Nhà nớc cũng
không còn cần thiết nữa. Quan niệm đó là giản đơn, hoàn toàn sai lầm và không
có căn cứ lý luận và thực tiễn. Mọi ngời đều thấy rằng, trong tất cả các mô hình
kinh tế đợc đúc kết đến nay trên thế giới đều có cả hai dạng điều tiết kinh tế,
một là, điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch hoá và các biện pháp hành chính; hai
là, điều tiết gián tiếp thông qua thị trờng, vận dụng cơ chế thị trờng để tác động
đến các hoạt động của các doanh nghiệp, dùng các đòn bẩy kinh tế để khuyến
khích hoặc gây áp lực buộc các doanh nghiệp phát triển trong khuôn khổ theo
hớng kế hoạch do Nhà nớc đề ra. Hai dạng điều tiết kinh tế này chỉ khác nhau ở
mức độ, liều lợng và hình thức trong cơ chế chung. Sở dĩ nh vậy là vì, với t cách
là công cụ điều tiết vĩ mô, là biện pháp, thủ đoạn kinh tế, cả kế hoạch hoá và thị
trờng đều có những u thế và khuyết tật của nó.
Thực chất của vấn đề kế hoạch hoá và thị trờng - xét từ góc độ Nhà nớc
- là sự kết hợp giữa điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch và điều khiển gián tiếp
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét