Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Giải pháp tín dụng đối với phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Thái Nguyên

Theo ngành kinh tế kỹ thuật: doanh nghiệp nghành công nghiệp,
doanh nghiệp ngành thơng mại và dịch vụ, doanh nghiệp ngành nông- lâm
nghiệp, doanh nghiệp ngành tài chính, doanh nghiệp ngành phi tài chính.
DNVVN là một trong số các doanh nghiệp đợc phân loại theo tiêu
thức trên, nó đang tồn tại và phát triển rộng trong nền kinh tế thị trờng.
DNVVN cũng mang những đặc điểm chung giống nh các loại hình doanh
nghiệp khác nhng lại có những đặc điểm riêng mà chỉ có ở những doanh
nghiệp có qui mô vừa và nhỏ. Vậy doanh nghiệp thế nào là đợc coi là
DNVVN, tuỳ vào điều kiện của từng nớc khác nhau thì đa ra các khá niệm
khác nhau. Nhng để căn cứ chính xác thờng phải dựa vào vốn tự có, số ngời
lao động làm việc trong doanh nghiệp, giá trị tài sản cố định của doanh
nghiệp Nh theo quan điểm của Mỹ mức lợi nhuận hàng năm dới 150.000
USD đợc coi là DNVVN, theo quan điểm của Thái Lan doanh nghiệp vừa là
doanh nghiệp có từ 50 đến 200 lao động, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp
có dới 50 lao động. Còn ở Việt Nam theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP của
Chính Phủ ban hành ngày 23/11/2001 thì DNVVN đợc hiểu: DNVVN là cơ
sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo luật hiện hành
có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng, hoặc số lao động trung bình hàng
năm không quá 300 ngời . Theo nghị định này thì DNVVN sẽ bao gồm các
doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp Nhà nớc, các doanh nghiệp
hoạt động theo luật doanh nghiệp, các hợp tác xã hoạt động theo luật Hợp tác
xã, các hộ kinh doanh cá thể.
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNVVN cũng là một tổ chức kinh tế, ngoài những đặc trng vốn có
của một doanh nghiệp thì nó cũng mang những đặc trng riêng xuất phát từ
chính khái niệm của nó.
5
Một là: Vốn tự có thấp không quá 10 tỷ đồng, chu kỳ kinh doanh ngắn
nên các doanh nghiệp này có thời gian hoàn vốn ngắn hơn nhiều so với các tổ
chức kinh tế có qui mô lớn
Hai là: Những DNVVN sản xuất thờng không có tính ổn định trên thị
trờng, nên cơ cấu mặt hàng sản phẩm dịch vụ thờng xuyên thay đổi và không
lớn về số lợng.
Ba là: Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh gọn nhẹ, các mối quan hệ
nội bộ dễ điều chỉnh, vì thế có tính linh hoạt cao, dễ thích ứng với biến động
của nền kinh tế. Công tác điều hành mang tính trực tiếp và quan hệ giữa ngời
quản lý và ngời lao động thờng rất chặt chẽ.
Bốn là: Ngành nghề hoạt động của DNVVN rất đa dạng và phong phú
nhờ vậy mà việc mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp này sẽ giúp ngân
hàng phân tán rủi ro hoặc gây rủi ro nhng biến động không nhiều đối với hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
Năm là: Tỷ suất vốn đầu t trên lao động thấp hơn doanh nghiệp lớn
nên hiệu suất làm việc cao hơn.
Sáu là: Khả năng cạnh tranh của những doanh nghiệp này còn thấp do
hạn chế vốn, trình độ công nghệ, phơng thức quản lý, khả năng tiếp cận thị
trờng kém. Đây chính là yếu tố tiềm ẩn gây rủi ro cho ngân hàng khi cho các
DNVVN vay vốn.
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị
trờng
Trong nền kinh tế thị trờng luôn đòi hỏi các doanh nghiệp phải linh
hoạt, nhạy bén thích ứng nhanh với sự biến động trên thị trờng và thờng các
DNVVN rất dễ đáp ứng đợc các yêu cầu đó . Vì thế loại hình doanh nghiệp
này ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhất là ở nớc
6
ta khi nhu cầu của ngời tiêu dùng tăng lực lợng lao động dồi dào môi trờng
kinh doanh lại đang đợc Đảng và Nhà nớc luôn tạo điều kiện thuận lợi
Một là: DNVVN góp phần thu hút tối đa mọi nguồn lực trong dân,
giải quyết nạn thất nghiệp tạo ra sự phát triển cân đối trong nền kinh tế:
Với qui mô tổ chức gọn nhẹ đa rạng nhiều nghành nghề đã thu hút đ-
ợc nhiều lao động, giải quyết đợc tình trạng thất nghiệp và tận dụng tốt sự bỏ
ngỏ một số nghành kinh tế mà các doanh nghiệp lớn cha kinh doanh hoặc
không đủ sức đảm trách vì đó không phải là nghành có tầm quan trọng sống
còn đối với nền kinh tế . Theo thống kê DNVVN thu hút khoảng 64,8% lực
lợng lao động mỗi năm (Thông tin NHCTVN-số 1/2004). Nh vậy các
DNVVN đã điều tiết phân giải lực lợng lao động trên các khu vực còn nhiều
khoảng trống , góp phần giãn cách điều hoà nhu cầu lao động tạo ra sự phát
triển cân đối cho nền kinh tế. Trình độ của lực lợng lao động ở nớc ta còn
thấp ,tiềm năng phát triển của nền kinh tế lại lớn .Vì vậy chỉ có các DNVVN
mới có thể thực hiện tốt điều đó.
Hai là: DNVVN tạo thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc, tăng thu
nhập cho ngời lao động và cải thiện đời sống dân c:
Do có lợi thế là chỉ cần một số vốn nhỏ cũng có thể thành lập đợc
doanh nghiệp chính điều đó thể hiện tính năng động tính linh hoạt cao, có
khả năng thích ứng với nhu cầu thay đổi thờng xuyên của ngời tiêu dùng nên
DNVVN trong những năm qua phát triển khá nhanh. Sau 4 năm thi hành
Luật doanh nghiệp ở Việt Nam đã có gần 73.000 doanh nghiệp mới đăng ký
với số vốn hơn 145.000 tỷ đồng. Đến nay cả nớc đã có hơn 120.000 doanh
nghiệp, 15.000 hợp tác xã, 13.000 trang trại và gần 3.000.000 hộ kinh doanh
cá thể, trên 10.000.000 hộ nông dân sản xuất hàng hoá. Đây là lực lợng đóng
góp to lớn vào sự phát triển tăng trởng cuả nền kinh tế tạo ra 25% GDP của
cả nớc mỗi năm (thông tin NHCTVN-1/2004). Đời sống của ngời lao động
đợc cải thiện, kỹ thuật sản xuất của DNVVN chủ yếu là trong các lĩnh vực
7
thơng mại, dịch vụ, chế biến nông lâm sản nên có khả năng thu hút nhiều
lao động tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội và tăng thu nhập đảm bảo đời
sống cho ngời lao động. Trong khi các doanh nghiệp lớn kỹ thuật sản xuất
hiện đại, công nghệ tiên tiến, nhất là đối với các doanh nghiệp tự động hoá
làm cho số ngời thât nghiệp ngày càng tăng phát sinh nhiều tiêu cực xã hội
Nh vậy DNVVN cũng là một nguồn thu thêm cho ngân sách Nhà nớc
bởi số lợng doanh nghiệp ngày càng đông , giá trị kinh tế tạo ra ngày càng
nhiều, giải quyết tốt công ăn việc làm cho ngời lao động. Tuy nhiên trong
điều kiện hiện nay của nớc ta do hạn chế về vốn kỹ thuật vì vậy Nhà nớc cần
phải có các chính sách thích hợp tạo điều kiện cho các DNVVN phát triển
góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Ba là: DNVVN đáp ứng tích cực nhu cầu hàng hoá tiêu dùng của xã
hội ngày càng phong phú và đa dạng, và tham gia vào quá trình lu thông .
DNVVN đáp ứng ngày càng tích cực nhu cầu hàng hoá tiêu dùng cho
xã hội. Bởi có những mặt hàng mà ngời tiêu dùng có nhu cầu ít, cá biệt song
chất lợng, chủng loại, mẫu mã, kiểu cách không ngừng thay đổi. Trong trờng
hợp này doanh nghiệp lớn không thể đáp ứng đợc nhng DNVVN do có qui
mô sản xuất nhỏ nên có khả năng điều chỉnh sản phẩm để đáp ứng nhu cầu
của khách hàng một cách nhanh chóng thuận tiện. Nên hàng năm giá trị sản
xuất của DNVVN luôn chiếm tỉ trọng khoảng hơn 50% tổng giá trị sản xuất
của tổng các doanh nghiệp cả nớc.
Trong quá trình tái sản xuất hàng hoá từ khâu sản xuất đến khâu tiêu
dùng phải trải qua khâu trung gian, đó là khâu lu thông do các cửa hàng bán
buôn, bán lẻ đảm nhận. Với lợi thế sẵn có DNVVN đã thực hiện vai trò này
rất tốt vì hệ thống cửa hàng kinh doanh thơng mại dịch vụ vừa và nhỏ đặt ở
khắp các đờng phố, các khu công nghiệp, các tụ điểm dân c có thể đáp ứng
nhu cầu của ngời tiêu dùng một cách nhanh chóng.
8
Có thể nói rằng DNVVN ngày càng tham gia tích cực vào các mối
quan hệ kinh tế của xã hội, chiếm tỉ trọng về số lợng, giá trị sản xuất tạo ra
ngày càng nhiều. Từ đó cho thấy sự quan tâm tạo điều kiện từ phía Nhà Nớc,
ngân hàng về vốn, hệ thống luật, môi trờng kinh doanh là rất cần thiết cho
các DNVVN.
Bốn là: DNVVN có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phơng và
khai thác thế mạnh tiềm năng của từng vùng:
Xuất phát từ lợi thế qui mô vừa và nhỏ dễ thuận lợi cho việc thành lập
ở mọi nơi nên tuỳ vào từng đặc điểm của từng loại lãnh thổ, thì có các
DNVVN kinh doanh sản xuất các mặt hàng khác nhau để phục vụ ngời tiêu
dùng và kiếm lợi nhuận cho mình từ các tiềm năng thế mạnh của vùng . Việt
Nam có điều kiện tự nhiên rất đa dạng nên các DNVVN ở từng địa phơng sản
xuất và kinh doanh những mặt hàng cũng khác nhau. Chính nhờ đặc điểm
này mà DNVVN đã tham gia tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nhất là khu vục nông nghiệp, tạo ra sự phát triển cân đối trên toàn quốc
theo hớng công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Sáu là: DNVVN tạo ra môi trờng cạnh tranh trong nền kinh tế, thúc
đẩy thị trờng vốn, thị trờng tín dụng phát triển.
DNVVN hoạt động đa rạng trên nhiều lĩnh vực, đã tạo ra sự cạnh tranh
trong nền kinh tế. Phát triển DNVVN tạo ra ngày càng nhiều hàng hoá dịch
vụ với chất lọng cao là cơ hội thuận tiện cho ngời tiêu dùng lựa chọn so
sánh.Nh vậy chính điều này đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất là
luôn phải nâng cao chất lợng sản phẩm để thoả mãn nhu cầu của khách hàng
làm cho nền kinh tế thị trờng trở nên sôi động
Sự xuất hiện của các DNVVN tạo ra một nhóm khách hàng thờng
xuyên cho các Ngân hàng, để sản xuất kinh doanh các DNVVN cần phải có
vốn trong khi đó vốn tự có của họ nhỏ bé không đủ đáp ứng vì vậy các DN
9
này cần phải đi vay mợn trên thị trờng thơng mại. Nhng không phải lúc nào
các DN bạn hàng cũng thừa vốn để cho mợn nên các DNVVN sẽ đi vay ngân
hàng. Hiện nay các DNVVN không chỉ vay vốn qua ngân hàng mà còn thanh
toán qua ngân hàng, điều đó có nghĩa ngân hàng vừa là ngời cho vay vừa là
trung gian thanh toán phục vụ cho các nhà kinh doanh. Với tốc độ phát triển
nhanh chóng cả về qui mô, về chất lợng các DNVVN đã tạo ra một nhu cầu
lớn với Ngân hàng đó là nhu cầu về vốn, nhu cầu về thanh toán dịch vụ qua
Ngân hàng. Có thể nói loại hình doanh nghiệp này là thị trờng đầy triển vọng
của ngân hàng .
DNVVN ngày càng đóng vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Dù không
phải là chủ đạo nhng tiện ích của DNVVN thì lại rất lớn, không chỉ làm tăng
thu nhập cho nền kinh tế quốc dân, giải quyết việc làm cho ngời lao động mà
còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nớc phát triển. Hiện nay, các DNVVN
ở Việt Nam cha thực sự phát triển theo đúng tiềm năng vốn có. Bởi nền kinh
tế nớc ta còn đang ở trong gia đoạn thấp, nhất là gia đoạn chuyển đổi kinh tế
hàng hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà Nớc. Các
DNVVN còn bộc lộ nhiều yếu kém trong quá trình hoạt động, do đó rất cần
đợc quan tâm hỗ trợ từ các phía.
1.1.4 Điều kiện để phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
nền kinh tế thị trờng.
Phát triển có nghĩa là sự vật thay đổi theo chiều hớng tốt lên. Doanh
nhgiệp phát triển có nghĩa là doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, sản xuất ra
nhiều sản phẩm có chất lợng tốt hơn phục vụ có ích cho xã hội. Từ đó tăng
thu nhập cho ngời lao động, tăng tích luỹ để mở rộng sản xuất, muốn cho nền
kinh tế đất nớc ngày càng phát triển thì quốc gia đó phải quan tâm tới mọi
loại hình doanh nghiệp. Đặc biệt là loại hình DNVVN vì số lợng của nó ngày
càng chiếm đại đa số trong nền kinh tế, để các DNVVN phát triển cần phải
tạo các điều kiện nhất định nh
10
* Điều kiện về vốn tài chính
Vốn là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp khi sản xuất kinh
doanh. Điều kiện về vốn là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển các doanh
nghiệp nói chung và nhất là DNVVN. Hiện nay các DNVVN rất hạn hẹp về
vốn, nguyên nhân là do qui mô hoạt động của doanh nghiệp nhỏ không đủ
sức tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Và khả năng
tiếp cận nguồn vốn của Ngân hàng lại hạn chế vì không đủ tài sản thế chấp,
mức lãi suất cho vay quá cao so với mức lợi nhuận thu đợc, thời gian cho vay
ngắn Đây là khó khăn rất lớn với cả doanh nghiệp và Ngân hàng, nếu vấn
đề này đợc giải quyết thì đây chính là tiền đề để doanh nghiệp phát triển.
* Điều kiện thị trờng
Thị trờng là nơi doanh nghiệp tồn tại và thực hiện các hoạt động sản
xuất kinh doanh, cũng qua thị trờng doanh nghiệp biết sản xuất cái gì, sản
xuất nh thế nào và sản xuất cho ai. Thị trờng đợc hiểu bao gồm cả thị trờng
yếu tố đầu vào và thị trờng đầu ra của sản phẩm. Với đặc điểm và u thế của
mình, các DNVVN nên tập trung vào những thị trờng nhỏ đầu t vào những
sản phẩm hàng hoá có giá bán thấp phù hợp với yêu cầu của từng địa phơng.
Tuy nhiên để có thể cạnh tranh và phát triển không ngừng, các DNVVN cũng
cần phải quan tâm đến thị trờng các địa phơng khác và vơn ra thị trờng quốc
tế, hớng vào những sản phẩm có chất lợng và có giá trị kinh tế cao. Hiện
nay, các doanh nghiệp vẫn cha thực sự khai thác một cách tối đa thị trờng
trong tầm tay để từ đó phát triển ra thị trờng rộng hơn, chính điều này cũng
ảnh hởng không ít tới sự phát triển của doanh nghiệp.
* Điều kiện về cơ sở vật chất.
Trớc sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ trên thế giới,
buộc các doanh nghiệp nhất là các DNVVN ngừng cải tiến thiết bị công nghệ
cho phù hợp với thời đại để nâng cao sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị tr-
11
ờng. Điều kiện thiết bị sẽ quyết định tới năng suất, chất lợng sản phẩm cũng
nh hiệu quả của công tác quản lý.
Các yếu tố về cơ sở hạ tầng là những điều kiện quan trọng giúp các
doanh nghiệp có thêm thuận lợi trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Chính vì vậy để có thể giúp các DNVVN thì rất cần phải quan tâm đến vấn
đề này.
* Điều kiện về khả năng lãnh đạo kinh doanh của chủ doanh nghiệp.
Lãnh đạo doanh nghiệp là ngời điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, một trong những cản trở lớn đối với sự phát triển
của các DNVVN là trình độ cuả ngời lãnh đạo bị hạn chế. Lãnh đạo doanh
nghiệp phải biết thu thập thông tin, tổng hợp, phân tích và đánh giá các loại
thông tin kinh tế - kỹ thuật, từ đó đề ra chiến lợc đúng đắn cho doanh nghiệp.
Để thực hiện đợc các yêu cầu đó đòi hỏi các chủ doanh nghiệp phải có trình
độ kiến thức cao, năng lực quản lý giỏi.
* Điều kiện về tri thức tay nghề của ngời lao động.
DNVVN sử dụng rất nhiều nhân công, song hầu hết đều có trình độ
tay nghề thấp nhng lại rất quan trọng vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển
của loại hình doanh nghiệp này. Nếu nh trình độ của ngời quản lý tốt luôn tạo
những cơ hội cho ngời lao động phát triển, khi ngời lao động có tri thức có
tay nghề cao sẽ làm ra nhiều sản phẩm đẹp với chất lợng và năng suất cao.
Điều kiện này rất cần thiết cho sự tồn tại của doanh nghiệp.
* Điều kiện về hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà Nớc.
Hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà Nớc tác động tới mọi mặt
của đời sống xã hội trong đó có cả sự tồn tại và phát triển của DNVVN. Hệ
thống này sẽ tạo điều kiện hoặc gây khó khăn cản trở cho các doanh nghiệp,
nếu pháp luật hoàn thiện tạo môi trờng kinh doanh thuận lợi thì ở quốc gia đó
12
các DNVVN sẽ phát triển rất mạnh và đóng góp vào sự phát triển chung của
Nhà Nớc.
* Điều kiện về hệ thống các biện pháp hỗ trợ phát triển:
Hệ thống các biện pháp hỗ trợ của Nhà Nớc cũng nh của các tổ chức
kinh tế là những điều kiện quan trọng để hỗ trợ các DNVVN phát triển. Các
DNVVN có bất lợi là thờng hoạt động đơn độc, không có sự liên kết hỗ trợ
lẫn nhau. Vì thế cần có các tổ chức giúp đỡ để bảo vệ quyền lợi cũng nh đại
diện cho các doanh nghiệp đa ra yêu cầu cho các cấp có thẩm quyền, nhằm
tạo cho hoạt động của doanh nghiệp đợc phát triển một cách thuận lợi nhất.
Tóm lại: Sự phát triển của các DNVVN chiụ sự tác động của rất nhiều
yếu tố. Nếu nh tất cả các điều kiện trên đợc thuận lợi có thể giúp DNVVN
phát huy tối đa vai trò tích cực của mình đối với nền kinh tế. Ngoài ra, bản
thân mỗi doanh nghiệp và các cấp có thẩm quyền cần phải quan tâm nhiều
hơn và toàn diện hơn tới tất cả các yếu tố.
1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát
triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thơng mại trong nền kinh
tế
Hệ thống ngân hàng là trung gian tài chính, luân chuyển vốn từ nơi
thừa vốn sang nơi có nhu cầu sử dụng vốn, là trung tâm thần kinh của nền
kinh tế tập trung thu phát hoạt động kinh doanh nói chung của nền kinh tế.
Theo pháp lệnh số 38 về NHTM, Hợp tác xã và các tổ chức tín dụng định
nghĩa: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động thờng xuyên
và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng, với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phơng tiện
13
thanh toán Vậy hoạt động kinh doanh của ngân hàng là xoay quanh đồng
tiền. Ngoài vốn tự có không đủ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, ngân hàng
phải đi huy động để cấp tín dụng cho nền kinh tế và hoạt động tín dụng là
hoạt động chủ yếu của NHTM .
Ta có thể hiểu tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là
ngân hàng với một bên là các tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ gia đình trong xã
hội. Trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là ngời đi vay, vừa là ngời cho vay.
Tín dụng ngân hàng ra đời với nhiệm vụ huy động các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội để tạo thành một quỹ cho vay khổng lồ, đáp ứng các
nhu cầu về vốn cho các thành phần kinh tế.
1.2.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng cấp cho doanh nghiệp
vừa và nhỏ
Ngân hàng luôn đợc coi là ngời bạn đồng hành thân thiết với các nhà
doanh nghiệp vì tín dụng ngân hàng luôn có khả năng đáp ứng các nhu cầu
vốn của doanh nghiệp. Đối với DNVVN ngân hàng thờng có các hình thức
cấp tín dụng chủ yếu sau:
Một là: Tín dụng chiết khấu
Chiết khấu thơng phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó
khách hàng chuyển nhợng thơng phiếu cha đáo hạn cho ngân hàng để đổi lấy
một số tiền bằng mệnh giá của thơng phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng
phí (nếu có). Khi khách hàng có nhu cầu chiết khấu những giấy tờ còn thời
hạn thanh toán, thì làm giấy đề nghị chiết khấu và làm các thủ tục giống nh
vay vốn. Ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá, kiểm tra hạn mức chiết khấu của
mình còn thì sẽ cho khách hàng vay khi họ thoả mãn các điều kiện. Ngân
hàng chỉ nhận chiết khấu những giấy tờ có giá còn thời hạn không quá 90
ngày, khi cần thiết ngân hàng có thể đem chiết khấu lại taị Ngân hàng trung -
ơng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét