sản xuất, tiến bộ khoa học kỹ thuật là điều kiên để phát triển tính tháo vát năng
động nhạy bén và sáng tạo của các doanh nghiệp.
2-/ Vai trò của cạnh tranh đối với quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Cạnh tranh là một tất yếu trong nền kinh tế thị trường và là cơ chế vận
động thị trường .Cơ chế thị trường là giải pháp tốt để giải quyết các vấn đề kinh
tế vì nó có khả năng để lập lại trật tự kinh tế, nhất là nó tạo cơ hội cho mọi
người sáng tạo, luôn luôn tìm cách để cải tiến lề lối làm việc, phát huy những
kinh nghiệm thành công khắc phục những thất bại để phát triển xã hội. Kỹ thuật
hệ thống thị trường có tính năng động uyển chuyển tự điều chỉnh được, tự sửa
chữa được những yếu kém. Cơ chế thị trường thể hiện những mặt ưu việt đó một
phần là do cạnh tranh giữ một vai trò quan trọng.
- Thứ nhất cạnh tranh làm cho giá cả hàng hoá dịch vụ giảm xuống. Khi
đối đầu với cạnh tranh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có ý thức hạ giá bán của
hàng hoá dịch vụ mà mình cung cấp thấp hơn hoặc bằng giá của đối thủ với mục
đích, lôi kéo khách hàng và mở rộng thị trường. Cùng với hạ giá là sự tăng lên của
chất lượng hàng hoá dịch vụ để ngày càng phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng.
- Thứ hai, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hoá các yếu tố
đầu vào của sản xuất kinh doanh. Để giảm giá bán và tối đa hoá lợi nhuận các
doanh nghiệp phải tối ưu hoá các yếu tố đầu vào để sao cho chi phí sản xuất là
thấp nhất. Trong điều kiện có cạnh tranh các nguồn lực được sử dụng một cách
tốt nhất, tiết kiệm nhất, hiệu quả nhất để thu được sản phẩm đầu ra là hàng hoá
dịch vụ có chất lượng cao nhất.
- Thứ ba, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng đưa tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Để theo kịp và vượt lên đối thủ cạnh tranh các
doanh nghiệp phải đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất bởi vì tiến bộ
khoa học đóng vai trò là một lực lượng sản xuất quan trọng. Tiến bộ khoa học
kỹ thuật tạo thêm lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
- Thứ tư, cạnh tranh là công cụ để tước quyền thống trị về kinh tế. Cạnh
tranh thủ tiêu sự độc quyền về kinh tế tạo môi trường để khai thác các nguồn lực
và huy động các tiềm năng.
Ngoài ra, cạnh tranh sẽ loại bỏ những doanh nghiệp có chi phí cao trong
sản xuất kinh doanh hàng hoá và khuyến khích các doanh nghiệp có chi phí
5
thấp. Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế những
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ sử dụng lãng phí nguồn lực của xã hội bằng những
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội,
thúc đẩy nền kinh tế của các nước phát triển. Đồng thời cạnh tranh là điều kiện giáo
dục tính tháo vát năng động và sáng kiến cho các nhà sản xuất kinh doanh từ đó tạo
ra các nhà sản xuất kinh doanh giỏi chân chính. Có thể nói cạnh tranh lành mạnh -
động lực phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như từng doanh nghiệp.
3-/ Các hình thái của cạnh tranh trên thị trường.
Căn cứ vào mức độ cạnh tranh, thị trường có thể được phân loại như sau:
a-/ Thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà ở đó có rất nhiều người
bán mà không người nào có ưu thế có thể cung ứng một số lượng sản phẩm lớn
ảnh hưởng đến giá cả. Các sản phẩm bán trên thị trường là đồng nhất, tức là nó
rất ít khác nhau về quy cách, mẫu mã, phẩm chất. Điều kiện tham gia và rút khỏi
thị trường một cách dễ dàng. Những người bán tham gia trên thị trường chỉ có
cách thích ứng với giá thị trường. Họ không có khả năng định giá. Do đó các
doanh nghiệp làm ăn trên thị trường này chủ yếu tìm biện pháp giảm chi phí tới
mức thấp nhất.
Tác dụng của thị trường này:
- Thúc đẩy các doanh nghiệp phải cải tiến công nghệ, thay đổi sản phẩm
phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
- Làm cho người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn cho mình những sản phẩm
vừa ý với mức giá thấp.
- Các tài nguyên và các nguồn lực được phân phối theo hướng có lợi nhất
làm cho doanh nghiệp chuyển sang kinh doanh mặt hàng phù hợp với yêu cầu
của xã hội.
Tuy nhiên hình thái cạnh tranh này rất khó tìm thấy trong điều kiện hiện nay.
b-/ Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo.
Có thể nói thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là một thị trường cạnh
tranh bình thường vì thực tế nó rất phổ biến trong điều kiện hiện nay.
Đây là thị trường mà sức mạnh thị trường thuộc về một số doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh lớn. Các doanh nghiệp trên thị trường này kinh doanh hàng
6
hoá và dịch vụ này là ở nhãn hiệu. Mặc dù sự khác biệt chỉ là khác biệt trong
tâm trí người tiêu dùng, những mối nhãn hiệu hàng hoá đều mang hình ảnh với
những uy tín khác nhau.
Có hai hình thái thị trường cạnh tranh không hoàn hảo:
Độc quyền tập đoàn.
Đây là một thị trường mà ở đó có một vài doanh nghiệp đáp ứng hầu hết
nhu cầu về một loại hàng hoá dịch vụ cụ thể nào đó. Những doanh nghiệp này
rất nhạy cảm với các hoạt động kinh doanh của nhau. Thế nhưng, điểm đáng chú
ý là các doanh nghiệp phụ thuộc lẫn nhau trong định giá và lượng hàng bán ra.
Bởi vì một doanh nghiệp trong nhóm độc quyền giảm giá hàng hoá bán ra thì họ
không bao giờ cảm thấy tin tưởng rằng có thể đạt được kết quả lâu dài vì sẽ có
một doanh nghiệp khác có thể sẽ giảm giá xuống mức thấp hơn và ngược lại khi
một doanh nghiệp tăng giá trong khi doanh nghiệp khác không tăng giá sẽ dẫn
đến doanh nghiệp tăng giá phải trở lại giá cũ nếu không sẽ có nguy cơ bị mất
khách hàng.
Cạnh tranh mang tính độc quyền.
Trên thị trường cạnh tranh mang tính độc quyền sản phẩm của các doanh
nghiệp là khác nhau. Người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm của doanh
nghiệp thông qua nhãn hiệu, quảng cáo bao bì và các dịch vụ khác. Trên thị
trường này, doanh nghiệp có quyền định giá hàng hoá bán ra nhưng không hoàn
toàn theo ý mình và điều kiện mua bán hàng hoá cũng khác nhau. Doanh nghiệp
có thể có uy tín độc đáo khác nhau đối với khách hàng. Trong nền kinh tế thị
trường hiện nay, trạng thái thị trường độc quyền hầu như khó đặt được và nếu nó
xuất hiện thì xem xét nó như trạng thái cạnh tranh độc quyền để giải quyết. Và
như vậy, mức độ khốc liệt của cạnh tranh giảm dần từ cạnh tranh hoàn hảo đến
cạnh tranh độc quyền.
c-/ Thị trường độc quyền.
Thị trường độc quyền là thị trường mà ở đó có một người bán độc quyền
nhất có thể kiểm soát trên thị trường. Điều kiện gia nhập hoặc rút lui khỏi thị
trường độc quyền có rất nhiều trở ngại do vốn đầu tư lớn hoặc do độc quyền kỹ
thuật công nghệ. Vì vậy mà thị trường này không có cạnh tranh về giá mà người
bán hoàn toàn quyết định giá.
7
Trên thị trường độc quyền, đường cầu của toàn xã hội về một loại hàng hoá
dịch vụ chính là đường cầu của hãng độc quyền. Doanh nghiệp độc quyền có thể
chi phối và quyết định giá cả và lượng hàng hoá bán ra trên thị trường bằng các
biện pháp ứng xử của mình.
Để bán hàng hoá với giá cao và thu được nhiều lợi nhuận doanh nghiệp độc
quyền có thể tạo ra sự khan hiếm hàng hoá giả tạo. Do vậy nhiều nước đã có luật
chống độc quyền. Bởi vì độc quyền không những gây ra sự thiếu hụt hàng hoá
ảnh hưởng xấu đến người tiêu dùng mà còn gắn với sự trì trệ. Tuy nhiên độc
quyền cũng có mặt tích cực của nó, đó là đem lại lợi ích cho xã hội nhờ đẩy
mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển. Doanh nghiệp độc quyền thường có
trình độ tập trung hoá sản xuất cao, mở rộng được quy mô sản xuất nên giảm
được chi phí sản xuất trên một đơn vị sản xuất.
II-/ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI TĂNG KHẢ NĂNG
CẠNH TRANH.
1-/ Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn có vị trí
vững chắc trên thị trường thì cần phải có tiềm lực đủ mạnh để cạnh tranh. Cạnh
tranh là môi trường của kinh tế thị trường đồng thời là mục tiêu của doanh
nghiệp. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực mà doanh nghiệp có
thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo
thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc thực hiện các
mục tiêu của doanh nghiệp.
Để duy trì và tăng khả năng cạnh tranh các doanh nghiệp phải luôn luôn
đưa ra các phương án, các giải pháp tối ưu để giảm chi phí sản xuất để từ đó
giảm giá thành, giá bán áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng
cao hiệu quả quản lý để nâng cao chất lượng sản phẩm, tổ chức tốt mạng lưới
bán hàng và biết chọn đúng thời điểm bán hàng nhằm thu hút được khách hàng,
mở rộng thị trường. Chỉ tiêu tổng hợp nhất để đánh giá sức cạnh tranh của một
doanh nghiệp là một thị phần mà doanh nghiệp chiếm được. Thị phần càng lớn
càng thể hiện rõ sức cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh. Để tồn tại và có
sức cạnh tranh, doanh nghiệp phải chiếm giữ được một phần thị trường bất kể
nhiều hay ít, chính điều này đã phản ánh được quy mô tiêu thụ của doanh
nghiệp. Qua đó ta cũng có thể đánh giá được sức cạnh tranh của mỗi một doanh
8
nghiệp ưu thế cũng như các điểm mạnh, điểm yếu tương đối của doanh nghiệp
so với đối thủ cạnh tranh trong ngành.
Tăng sức cạnh tranh là một điều tất yếu của mỗi một doanh nghiệp hoạt
động trong cơ chế thị trường. Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt, một doanh
nghiệp nếu không tìm cách để vượt lên đối thủ thì nghĩa là doanh nghiệp đó
đang thụt lùi. Bởi lẽ tất cả đều có ý thức phải vượt lên chính mình và vượt lên
đối thủ. Không nỗ lực liên tục, không tìm mọi cách để tăng sức cạnh tranh thì
đồng nghĩa với diệt vong.
2-/ Tại sao phải tăng khả năng cạnh tranh.
Thực chất của tăng sức cạnh tranh là tạo ra ngày một nhiều hơn các ưu thế về
mặt giá cả, giá trị sử dụng, chất lượng, uy tín của sản phẩm và doanh thu, nhằm
giành được những ưu thế tương đối trong cạnh tranh đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ.
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan. Các
doanh nghiệp tham gia thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh. Cạnh tranh
một mặt sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, mặt khác nó sẽ đào thải không thương
tiếc những doanh nghiệp yếu thế không đủ sức cạnh tranh. Do vậy để tồn tại và
phát triển, các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu tìm ra các giải pháp để
giảm chi phí sản xuất giá thành, giá bán sản phẩm, tổ chức hệ thống tiêu thụ một
cách tốt nhất, đúng lúc nhất mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm đặc biệt là
trong giai đoạn hiện nay.
Đi đôi với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật những đòi hỏi,
yêu cầu của người tiêu dùng ngày càng ở mức cao hơn. Để đáp ứng nhu cầu thị
trường, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp buộc phải tiến
hành các hoạt động Marketing, tìm hiểu thị trường và trong cuộc chiến này
người nào nhanh hơn người đó sẽ thắng.
Như vậy, cùng với cạnh tranh, tăng sức cạnh tranh là một tất yếu khách
quan. Để thắng thế trong các cuộc cạnh tranh, doanh nghiệp buộc phải không
ngừng nâng cao sức cạnh tranh thông qua các yếu tố trực tiếp như giá thành, giá
bán chất lượng sản phẩm, uy tín của doanh nghiệp hay gián tiếp như các hoạt
động quảng cáo, tham gia hội chợ
Ở nước ta, đang từ nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang kinh tế thị
trường, các doanh nghiệp Nhà nước chắc chắn có phần nào bỡ ngỡ. Từ chỗ chỉ
hoạt động sản xuất một cách thụ động theo chỉ tiêu pháp lệnh đến nay tất cả các
doanh nghiệp phải tự quyết định lấy những vấn đề quan trọng mang tính sống
9
còn của doanh nghiệp (sản xuất cho ai, sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, bao
nhiêu ). Các doanh nghiệp Nhà nước buộc phải làm quen với điều này cũng
như phải thích nghi với môi trường kinh doanh mới của cơ chế thị trường, chấp
nhận cạnh tranh. Đặc biệt là trong giai đoạn này, khi đất nước ta đang xây dựng
một nền kinh tế mở, kêu gọi đầu tư từ bên ngoài vào Việt Nam các hãng nổi
tiếng trên thế giới đầu tư vào nước ta ngày càng nhiều. Họ rõ ràng có nhiều ưu
thế hơn mình về tài chính cũng như trình độ kỹ thuật kinh nghiệm quản lý. Môi
trường cạnh tranh ngày càng rộng hơn và mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt
hơn. Muốn phát triển kinh tế, theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới
không còn cách nào các doanh nghiệp Việt Nam phải chấp nhận cạnh tranh và
tìm mọi cách để ngày càng nâng cao khả năng cạnh tranh.
3-/ Một số công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp.
a-/ Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm
Điều quan trọng nhất đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh là phải trả lời được câu hỏi cơ bản. Sản xuất cái gì ? cho ai? như thế nào?
và như vậy có nghĩa là doanh nghiệp đã xây dựng cho mình một chính sách sản
phẩm. Không một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường mà lại không có
sản phẩm kinh doanh cho dù là hữu hình hay vô hình. Vấn đề đặt ra cho doanh
nghiệp là phải làm cho sản phẩm của mình thích ứng được với thị trường, mở
rộng thị trường tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Để có thể cạnh tranh được với các đối thủ trên thị trường doanh nghiệp
phải thực hiện đa dạng hoá sản phẩm. Sản phẩm của doanh nghiệp phải luôn
được thoả mãn không ngừng để theo kịp nhu cầu của thị trường bằng cách cải
tiến các thông số chất lượng, mẫu mã, bao bì đồng thời tiếp tục duy trì các loại
sản phẩm hiện nay đang là thế mạnh của doanh nghiệp. Ngoài ra doanh nghiệp
cũng cần phải nghiên cứu các sản phẩm mới nhằm phát triển và mở rộng thị
trường tiêu thụ hàng hoá. Đa dạng hoá sản phẩm không chỉ để đáp ứng được nhu
cầu thị trường thu nhiều lợi nhuận khi mà cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt,
quyết liệt.
Đi đôi với việc thực hiện đa dạng hoá sản phẩm để đảm bảo đứng vững
trong điều kiện cạnh tranh, doanh nghiệp có thể thực hiện trong tâm hoá sản
phẩm vào một số loại sản phẩm nhằm cung cấp cho một nhóm người hoặc một
vùng thị trường nhất định của mình. Trong phạm vi này doanh nghiệp có thể
phục vụ khách hàng một cách tốt hơn có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh và
10
như vậy doanh nghiệp tạo dựng một bức rào chắn, bảo đảm giữ vững được phần
thị trường của mình.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phải thực hiện chiến lược khác biệt hoá
sản phẩm, tạo ra các nét độc đáo riêng cho mình để thu hút, tạo sự hấp dẫn cho
khách hàng và các sản phẩm của mình nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
Như vậy sản phẩm và xác định cơ cấu sản phẩm tối ưu là một trong những
yếu tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
b-/ Yếu tố giá cả.
Giá của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua quan hệ
cung cầu. Người bán và người mua thoả thuận mặc cả với nhau để đi tới mức
giá cuối cùng đảm bảo hai bên cùng có lợi. Giá cả đóng vai trò quan trọng trong
quyết định mua hay không mua của khách hàng. Trong nền kinh tế thị trường có
sự cạnh tranh của các doanh nghiệp. "khách hàng là thượng đế" họ có quyền lựa
chọn những gì mà họ cho là tốt nhất và cùng một loại sản phẩm với chất lượng
đương đương nhau chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá bán thấp hơn, khi đó sản
lượng tiêu thụ của doanh nghiệp sẽ tăng lên.
Giá cả được thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông qua định giá sản
phẩm. Định giá thấp, định giá ngang thị trường là chính sách định giá cao.
Với một giá ngang thị trường giúp doanh nghiệp giữ được khách hàng, nếu
doanh nghiệp tìm ra những biện pháp giảm giá thành thì lợi nhuận thu được sẽ
tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao. Ngược lại với mức giá thấp hơn giá thị
trường thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng và tăng lượng tiêu thụ, doanh
nghiệp sẽ có cơ hội xâm nhập thị trường, chiếm lĩnh thị trường mới. Mức giá
doanh nghiệp áp đặt cao hơn giá thị trường chỉ sử dụng được với các doanh
nghiệp có tính độc quyền, điều này giúp cho doanh nghiệp thu được rất nhiều lợi
nhuận (lợi nhuận siêu ngạch).
Để chiếm lĩnh được ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sự
lựa chọn các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn
trong chu kỳ sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường.
c-/ Chất lượng sản phẩm
Nếu như trước kia giá cả được coi là yếu tố quan trọng nhất trong cạnh
tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho chỉ tiêu chất lượng sản phẩm. Trên
thực tế cạnh tranh bằng giá cả là "biện pháp nghèo nàn" nhất vì nó làm giảm lợi
11
nhuận thu được mà ngược lại cùng một loại sản phẩm chất lượng sản phẩm nào
tốt đáp ứng được yêu cầu thì người tiêu dùng cũng sẵn sàng mua với một mức
giá cao hơn một chút cũng không sao nhất là trong thời đại ngày nay khi mà
khoa học kỹ thuật đang giai đoạn phát triển mạnh, đời sống của nhân dân dần
được nâng cao rất nhiều so với nước.
Chất lượng sản phẩm là hệ thống nội tại của sản phẩm được xác định bằng
các thông số có thể đo được hoặc có thể so sánh được, thoả mãn những điều
kiện kỹ thuật và những yêu cầu nhất định của người tiêu dùng và xã hội. Chất
lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản xuất và ngay cả
sau khi tiêu thụ hàng hoá và chịu tác động của nhiều yếu tố công nghệ dây
chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ tay nghề lao động, trình độ quản lý
Chất lượng sản phẩm là một vấn đề sống còn đối với một doanh nghiệp nhà
nước ở Việt Nam khi mà họ đang phải đương đầu với các đối thủ cạnh tranh từ
nước ngoài vào Việt Nam. Một khi chất lượng sản phẩm không được đảm bảo
thì có nghĩa là doanh nghiệp sẽ bị mất khách hàng, mất thị trường, nhanh chóng
đi tới chỗ suy yếu và bị phá sản.
Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, một quan điểm mới về chất
lượng đã xuất hiện. Chất lượng sản phẩm không chỉ là tốt, bền đẹp mà nó còn do
khách hàng quyết định. Quản lý chất lượng sản phẩm là yếu tố chủ quan còn sự
đánh giá của khách hàng mang tính khách quan, ở đây, nhân tố khách quan đã
tác động, chi phối yếu tố chủ quan. Đây là một quan điểm mới xuất phát từ thực
tế là mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên quyết liệt hơn.
Chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyết định sức cạnh tranh của doanh
nghiệp ở chỗ:
+ Nâng cao chất sản phẩm sẽ làm tăng tốc tiêu thụ sản phẩm tăng khối
lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm.
+ Sản phẩm chất lượng cao sẽ làm uy tín của doanh nghiệp kích thích
khách hàng mua hàng và mở rộng thị trường.
+ Chất lượng sản phẩm cao làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tình hình
tài chính của doanh nghiệp.
d-/ Tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm:
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh,
đây cũng là giai đoạn thực hiện bù đắp chi phí và thu lợi nhuận.
12
Việc đầu tư của quá trình tổ chức tiêu thụ sản phẩm là phải lựa chọn các
kênh phân phối sản phẩm một cách hợp lý có hiệu quả nhằm mục đích đáp ứng
một cách tốt nhất các yêu cầu của khách hàng nhanh chóng giải phóng nguồn
hàng để bù đắp chi phí sản xuất thu hồi vốn. Xây dựng một mạng lưới tiêu thụ
sản phẩm tốt cũng có nghĩa là xây dựng một nền vững chắc để phát triển thị
trường bảo vệ thị phần của doanh nghiệp có được.
Bên cạnh việc tổ chức mạng lưới bán hàng, doanh nghiệp cũng cần đẩy
mạnh các hoạt động hỗ trợ bán hàng như quảng cáo khuyến mại các dịch vụ sau
bán hàng. Đây cũng là hình thức cạnh tranh phi giá gây sự chú ý và thu hút
khách hàng.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm được tổ chức tốt sẽ tăng sản lượng bán hàng
từ đó sẽ tăng doanh thu, tăng lợi nhuận dẫn tới tốc độ thu hồi vốn nhanh kích
thích sản xuất phát triển.
Công tác tổ chức tiêu thụ tốt cũng là một trong những yếu tố làm tăng uy
tín của doanh nghiệp trên thị trường. Các hoạt động như quảng cáo tham gia hội
chợ, tổ chức hội nghị khách hàng, là hình thức tốt nhất để giới thiệu về sản
phẩm và doanh nghiệp của mình giúp cho các doanh nghiệp tìm ra được nhiều
bạn hàng mới, mở rộng thị trường nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
e-/ Tài sản vô hình:
Tài sản vô hình là tài sản quí giá nhất của công ty không thể định lượng
được. Người ta không thể bỏ tiền ra mua được mà phải qua một quá trình đòi hỏi
phải nhiều cố gắng mới tích luỹ được. Đó là lòng tin của khách hàng đối với
công ty cũng như đối với sản phẩm là hình ảnh quen thuộc và nổi tiếng của nhãn
hiệu là những hiểu biết về các luồng thông tin và khoa học kỹ thuật là việc kiểm
soát khâu phân phối là bầu không khí tổ chức nhân sự trong cơ quan xí nghiệp
và sau cùng là các kỹ năng quản trị.
Tài sản vô hình là nguồn lợi thế cạnh tranh, là chìa khoá trong việc kích
thích của xí nghiệp vì ba lý do: Nó khó tích luỹ, nó có khả năng đa dụng và nó là
đầu vào đầu ra trong các hoạt động kinh doanh.
1) Việc tích lũy tài sản này đòi hỏi những cố gắng liên tục và mất nhiều
thời gian không thể bỏ tiền mua được. Chính vì nó khó tích luỹ nên nó lợi thế để
cạnh tranh. Nếu việc tích lũy dễ dàng thì đối thủ cạnh tranh đã dễ dàng bắt chiếc
được rồi.
13
2) Tài sản vô hình thì đa năng sử dụng, chẳng hạn như danh tiếng của xí
nghiệp đối với khách hàng về một sản phẩm nó sẽ kéo theo sự chấp nhận một
sản phẩm khác của hãng.
3) Thông tin vừa biểu hiện ở đầu vào, vừa biểu hiện ở đầu ra trong hoạt
động của xí nghiệp. Chẳng hạn như sự hiểu biết kỹ thuật của một sản phẩm
được nâng cao hơn do tích luỹ thêm kiến thức khoa học ở đầu vào giúp cho hãng
sản xuất ra các mặt hàng khác.
Tài sản vô hình có thể tích luỹ bằng hai cách: trực tiếp và gián tiếp.
+ Trực tiếp: thông qua quảng cáo trên truyền hình, radio để tạo ra hình ảnh
quen thuộc về nhãn hiệu là các chương trình huấn luyện để cho nhân viên thấy
rằng khách hàng là mối quan tâm hàng đầu của công ty.
+ Gián tiếp: cách gián tiếp thông qua hoạt động hàng ngày nếu một sản
phẩm đã được thiết kế tốt và hãng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao, hãng
dễ dàng được danh tiếng nhờ ở lời truyền miệng. Việc tích luỹ tài sản vô hình
qua con đường gián tiếp có thể sẽ lâu hơn con đường trực tiếp nhưng nó thường
đáng tin cậy hơn và vững chắc hơn.
4-/ Phương pháp đối phó với đối thủ cạnh tranh:
Khi doanh nghiệp tìm các lợi thế cạnh tranh thì các nhà doanh nghiệp khác
cũng có chiến lược cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh, nhà doanh nghiệp phải
luôn luôn có giải pháp bảo vệ mình khỏi sự tấn công của các đối thủ cạnh tranh.
Để giữ vững cạnh tranh nhà doanh nghiệp thường sử dụng những giải pháp
sau làm giảm ý chí tấn công của các đối thủ cạnh tranh tạo lập hàng dào ngăn
chặn sự tấn công của đối phương. Đồng thời doanh nghiệp cần có những giải
pháp mới đối với hệ thống phân phối hàng hoá nhằm củng cố chặt chẽ mối quan
hệ với bạn hàng nhận thấy nếu không làm ăn chặt chẽ với doanh nghiệp mà lại
làm ăn với doanh nghiệp khác sẽ dẫn đến sự thiệt thòi.
Trong các thủ pháp nhằm xây dựng hàng rào chắn với các đối thủ và tránh
đối đầu với đối thủ cạnh tranh thì phương pháp hay được áp dụng nhất là chia
tuyến thị trường ngăn cản sự ra nhập hợp tác.
- Chia tuyến thị trường:
Đây là phương pháp làm cho các đối thủ cạnh tranh thấy rằng mình không
phải là đối thủ, kẻ thù của họ.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét