- Loại 1 : là chợ có trên 400 điểm kinh doanh
(*)
, được đầu tư xây dựng
kiên cố, hiện đại theo quy hoạch; được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế
thương mại quan trọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành
hàng, của khu vực kinh tế và được tổ chức thường xuyên; có mặt bằng phạm
vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức đầy đủ các dịch vụ
tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo
lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm và
các dịch vụ khác.
- Loại 2 : là chợ có trên 200 điểm kinh doanh(*), được đầu tư xây dựng
kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch; được đặt ở trung tâm giao lưu kinh
tế của khu vực và được tổ chức họp thường xuyên hay không thường
xuyên; có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ và tổ
chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ : trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo
quản hàng hóa, dịch vụ đo lường.
- Loại 3 : là các chợ dưới 200 điểm kinh doanh(*) hoặc các chợ chưa
được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố ; chủ yếu phục vụ nhu cầu
mua bán hàng hóa của nhân dân trong xã, phường và địa điểm phụ cận.
2- Phân loại chợ theo tính chất mua bán
(2)
:
Dựa theo tiêu thức này người ta có thể chia chợ ra làm hai loại là chợ
bán buôn và chợ bán lẻ.
Chợ bán buôn : Các chợ này có doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng cao
trên 60-70%, đồng thời vẫn có bán lẻ nhưng tỷ trọng nhỏ. Thường tập trung
bán buôn ở các chợ cấp vùng và cấp thành phố, thị xã, thị trấn, có phạm vi
hoạt động lớn tập trung khối lượng hàng hoá lớn, hoạt động mua bán chủ yếu
là thu gom hàng hoá và phân luồng hang hoá các nơi. Các chợ này thường là
(*)
Điểm kinh doanh ≥ 3m
2
2()
Quyêt định 144A/2003/QĐ – UB ngày 11/08/2003 của UBND TPHCM về việc quy hoạch phát triển
mạng lưới chợ - siêu thị và trung tâm thương mại trên địa bàn TPHCM phần nội dung tr 10,11,12.
5
nơi cung cấp hàng hoá cho các trung tâm bán lẻ, cho chợ bán lẻ và ngoài khu
vực, nhiều chợ là nơi thu gom hàng xuất khẩu.
Chợ bán lẻ : là những chợ thuộc cấp xã, phường (liên xã, liên phường),
cụm dân cư hàng hoá qua chợ chủ yếu là bán lẻ, bán chủ yếu cho người tiêu
dùng trực tiếp hàng ngày.
3 - Phân loại theo đặc điểm mặt hàng kinh doanh
(3)
:
Có chợ tổng hợp và chợ chuyên doanh.
Chợ tổng hợp: Là chợ kinh doanh nhiều loại hàng hoá thuộc nhiều
ngành khác nhau. Trong chợ, tồn tại nhiều loại mặt hàng như: hàng tiêu dùng
(quần áo, giày, dép, các mặt hàng lương thực thực phẩm, hàng gia dụng ),
công cụ lao động nông nghiệp (cuốc, xẻng, liềm, búa ), cây trồng, vật
nuôi chợ đáp ứng nhu cầu toàn bộ của khách hàng.Hình thức chợ tổng hợp
này thể hiện những đặc trưng của chợ truyền thống, ở nước ta hiện nay loại
hình này vẫn chiếm ưu thế về số lượng cũng như về thời gian hình thành và
phát triển.
Chợ chuyên doanh : là chợ chuyên kinh doanh một mặt hàng chính
yếu, mặt hàng này thường chiếm doanh số trên 60% đồng thời có bán một số
mặt hàng khác, các loại hàng khác có doanh số dưới 40% tổng doanh thu.
Nhiều chợ chỉ chuyên doanh một hoặc một nhóm mặt hàng nhất định, như
chợ hoa tươi, chợ vật liệu xây dựng, chợ cá biển, chợ rau quả, chợ cây cảnh,
chợ tôm, chợ giống, chợ bò sữa…
4 - Theo địa giới hành chính:
Có hai loại chợ tồn tại theo tiêu thức này là chọ đô thị và chợ nông
thôn.
3
(3)
Quyêt định 144A/2003/QĐ – UB ngày 11/08/2003 của UBND TPHCM về việc quy hoạch phát triển
mạng lưới chợ - siêu thị và trung tâm thương mại trên địa bàn TPHCM phần nội dung tr 10,11,12.
6
Chợ đô thị: Là các loại chợ được tổ chức, tụ họp ở thành phố, thị xã,
thị trấn. Do ở đây, đời sống văn hóa có phần cao hơn ở nông thôn, cho nên
các chợ ở thành phố có tốc độ đô thị hóa cao hơn ở nông thôn, văn minh
thương mại cũng được chú trọng, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường
bổ xung và hoàn chỉnh. Phương tiện để phục vụ mua bán, hệ thống truyền
thông và dịch vụ ở chợ này thường tốt hơn các chợ ở nông thôn. Tuy nhiên,
như thế đồng nghĩa với việc các chợ ở đô thị sẽ mang tính hiện đại của một
loại hình thương mại mới và tính truyền thông trong chợ sẽ dần dần bị mai
một.
Chợ nông thôn: là chợ thường được tổ chức tại trung tâm xã, trung
tâm cụm xã. Hình thức mua bán đơn giản, dân dã (có nơi, như ở một số vùng
núi người dân tộc thiểu số vẫn còn hoạt động trao đổi bằng hiện vật tại chợ),
các quầy, sạp có quy mô nhỏ, lẻ, manh mún. Nhưng ở các chợ nông thôn thể
hiện đậm đà bản sắc truyền thống đặc trưng ở mỗi địa phương, các vùng lãnh
thổ khác nhau.
5 - Phân loại theo tính chất và quy mô xây dựng:
Theo tiêu thức này có ba loại chợ là: chợ kiên cố, bán kiên cố và chợ
tạm.
Chợ kiên cố: là chợ được xây dựng hoàn chỉnh với đầy đủ các yếu tố
của một công trình kiến trúc, có độ bền sử dụng cao. Chợ kiên cố thường là
chợ loại I có diện tích đất hơn 10.000 m
2
và chợ loại II có diện tích đất 6.000
m
2
đến 9.000 m
2
. Các chợ kiên cố lớn thường nằm ở các tỉnh thành phố lớn,
các huyện lỵ, thị trấn và có thời gian tồn tại lâu đời, trong một thời kỳ dài và
là trung tâm mua bán của cả vùng rộng lớn.
Chợ bán kiên cố: là chợ chưa hoàn chỉnh, bên cạnh những hạn mục
xây dựng kiên cố (cửa hàng, sạp hàng) còn có những hạn mục xây dựng tạm
như lán, quầy bán hàng độ bền sử dụng không cao và thiếu tiện nghi. Chợ
7
bán kiên cố thường là chợ loại III, có diện tích đất 3.000m
2
– 5.000m
2
. Chợ
này chủ yếu phân bổ ở các huyện nhỏ, khu vực thị trấn xa xôi, chợ liên xã,
liên vùng, các khu vực ngoài thành phố lớn.
Chợ tạm: là chợ mà những quầy sạp bán hàng là những lều quán được
làm có tính chất tạm thời, không ổn định, khi cần thiết có thể dỡ bỏ nhanh
chóng và ít tốn kém. Loại chợ này thường hay tồn tại ở các vùng quê, các xã,
các thôn, có chợ được dựng lên để phục vụ trong một thời gian nhất định
(như tết, lễ hội ).
6 - Vai trò của chợ đối với đời sống kinh tế xã hội:
6.1 - Về mặt kinh tế:
- Chợ là bộ phận quan trọng trong việc hình thành và phát triển tư
thương trong các hoạt động buôn bán hàng hóa.
- Vị trí vai trò của chợ đối với sinh hoạt của dân cư ở khu vực nội
thành: Đối với khu vực nội thành, chợ hiện nay vẫn có vai trò quan trọng đối
với các loại hàng hóa như thực phẩm tươi sống, trái cây, đồ gia vị và nhiều
loại hàng hóa khác. Tuy nhiên hiện nay ở thành phố xuất hiện khá nhiều loại
hình kinh doanh cạnh tranh với hoạt động kinh doanh tại chơ. Mặc dù mạng
lưới siêu thị, cửa hàng bán lẻ xuất hiện nhiều nhưng chưa thể thay thế được
vai trò của chợ đối với những mặt hàng này.
Mặt khác, tổng mức hàng hóa bán ra ở các chợ nội thành vẫn chiếm tỷ
trọng lớn, góp phần quan trọng vào việc tiêu thụ hàng hóa sản xuất ra cũng
như đóng góp cho ngân sách, giải quyết công ăn việc làm, hạn chế phát sinh
các chợ tự phát. Hơn nữa, siêu thị chưa tỏ ra thích hợp với một bộ phận lớn
dân cư có thu nhập thấp, hàng ngày phải đi chợ mua thực phẩm. Chợ ở các
khu vực nội thành còn là nơi hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước đến
tham quan, mua sắm. Như vậy, chợ còn là nơi góp phần tạo nên bản sắc văn
hóa truyền thống của thành phố.
8
- Vị trí, vai trò của chợ đối với sinh hoạt dân cư ở khu vực ngoại
thành:Đối với khu vực ngoại thành và các quận ven, mạng lưới thương mại
dịch vụ chưa thật sự phát triển; chợ là địa điểm chính diễn ra các hoạt động
mua bán, trao đổi hàng hóa quan trọng nhất của nông thôn, nông dân ngoại
thành. Mặt khác, khu vực ngoại thành, các quận ven sẽ là nơi tập trung các
chợ đầu mối quan trọng nhất của thành phố, cung cấp hàng hóa cho toàn
thành phố và phục vụ xuất khẩu.
- Hình thức buôn bán tại chợ làm tăng nhận thức của người dân về
kinh tế hàng hóa. Đặc biêt là ở các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng
cao hoạt động chợ làm thúc sản xuất phát triển, tiêu dùng làm tăng kênh
thông tin cho sự câp nhật thông tin, tăng vốn hiểu biết của người dân về các
vấn đề xã hội. Trong các phiên chợ, buổi chợ là cơ hội cho người dân làm
tăng khả năng phản ứng của người dân với thị trường, với sự thay đổi của xã
hội và tự mình có thể làm chủ được công việc làm ăn buôn bán của chính
mình trong công cuộc đổi mới.
- Chợ là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Các khoản thu
tại các chợ đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách của nhà nước. Các
nguồn thu chủ yếu là từ thuế kinh doanh buôn bán tại chợ, lệ phí chỗ ngồi và
tiền thuê mặt bằng kinh doanh tại chợ. Tuy nhiên hiện nay nhà nước vẫn chưa
thục sự quan tâm sâu sắc vào loại hình kinh doanh tại các chợ nhằm nâng cao
dịch vụ chợ.
- Sự hình thành chợ kéo theo sự hình thành và phát triển của các ngành
nghề sản xuất. Đây chính là tiền đề hội tụ các dòng người từ mọi miền đất
nước đến tập trung làm ăn buôn bán. Chính quá trình này làm xuất hiện các
khu trung tâm thương mại và không ít số đó đã trở thành những đô thị sầm
uất.
9
6.2 - Về việc giải quyết việc làm.
Chợ là nơi giải quyết việc làm cho nhiều người lao động đặc biệt là
những người lao động phổ thông không có trình độ học vấn cao, khó hoặc
không thể xin việc tại các doanh nghiêp đòi hỏi có trình độ về tri thức. Chỉ
với phep tính đơn giản sau; nếu mỗi người trực tiếp buôn bán có thêm 1 đến 2
người giúp việc, những nhân viên bán hàng, người phục vụ tổ chức nguồn
hàng để đưa về chợ thì số người lao động tại chợ sẽ tăng lên đến 2 hoặc 3
lần so với số lượng người chỉ buôn bán trực tiếp ở chợ. Chính vì điều này chợ
đã giải quyết được một số lượng công việc lớn cho người lao động. Ngoài
những người tham gia buôn bán trực tiêp tai chợ chúng ta còn phải nói đên
một số lượng Cán bộ công nhân viên phục vụ tại các chợ đê đảm về mặt an
ninh chợ và công tác quản lý chợ. Dưới đây là bản số liệu tổng số CBCNV
phục vụ tại các chợ trên địa bàn quận.
Biểu tổng hợp số lượng Cán bộ công nhân viên quản lý, phục vụ tại
các chợ.
Biểu 1
Tên chợ Nghĩa
Tân
Đồng
Xa
Cầu
Giấy
Nhà
Xanh
Quan
Hoa
NSTP
D.Vọng
X.Máy
D.Vọng
Hợp
Nhất
Trần
Duy
Số biên
chế
05 05
Số hợp
đồng
21 24
Tông số
CBCNV
26 29 15 11 07 18 26 06 10
(Nguồn: Phòng KT – KH phiếu điều tra quản lý tại các chợ năm
2005)
10
6.3 - Về việc giữ gìn bản sắc dân tộc và đối với người dân.
Có thể nói, chợ là bộ mặt kinh tế xã hội của một địa phương và là nơi
phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của một vùng
dân cư. Tính văn hóa của chợ được thể hiện rõ nhất là các chợ ở miền núi,
vùng cao, vùng sâu, vùng xa hơn là các chợ tại các đô thị lớn hay ở thành
phố. Ngoài mục tiêu mua bán còn đến chợ là nơi giao tiếp, trao đổi công việc.
Chợ còn là nơi hò hẹn của các đôi trai gái, vì vậy người dân miền núi thường
gọi là đi “chơi chợ” thay cho từ đi chợ mua sắm như người dưới xuôi thường
gọi. Các phiên chợ này nó tồn tại từ lâu đời và nó là những bản sắc văn hóa
vô cùng đặc trưng của các dân tộc ở nước ta.
Ở miền núi vùng cao, vùng sâu vùng xa, chợ là điểm duy nhất hội tụ
đông người. Tại chợ có đại diện của các lứa tuổi, nhiều thôn bản và nhiều các
dân tộc người thiểu số. Vì thế đã từ lâu chính quyền địa phương đã biết lấy
chợ là nơi phổ biến chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật
của nhà nước, là nơi tuyên truyền cảnh giác và đấu tranh với những phần tử
xuyên tạc đường lối của Đảng. Hình ảnh khá quen thuộc đối với công tác vận
động nhân dân tham gia chiến đấu giành chính quyền tại các cùng đó “giải
truyền đơn” của Đảng.
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN CHỢ.
1 - Sự phát triển của sản xuất và nhu cầu tiêu dùng xã hội.
Với sự phát triển của khoa học công nghệ, năng suất lao động ngày
càng được nâng lên, sản phẩm hàng hóa ngày càng nhiều, khi đó nhu cầu
giao lưu trao đổi mua bán sảy ra kèm theo đó là sự phát triển chuyên môn hóa
về sản xuất, mỗi người mỗi đợn vị sản xuất chỉ sản xuất ra một loại hàng hóa
hiệu quả, mà tiêu dùng của con người ngày càng tăng do đó nhu cầu trao đổi
11
càng tăng lên. Và khi đó, nơi nào là trung tâm, đảm bảo các điều kiện thuận
tiện (là trung tâm người mua, trung tâm của người bán, thuận tiện trong việc
đi lại vận chuyển ) nó sẽ trở thành địa điểm trao đổi mua bán, và được hình
thành tồn tại với sự chấp nhận của người bán cũng như người nua.
2 - Hệ thống chính sách pháp luật về chợ và quy hoạch phát
triển kinh tế xã hội.
Chợ được hợp pháp hóa khi có đủ điều kiện mà pháp luật đề ra. Tuy
nhiên đối với các chợ truyền thống đã tồn tại từ lâu đời thì hầu như đã được
pháp luật đương thời, cũng như trong quá khứ chợ đã đủ điều kiện tồn tại và
phát triển. Khi có một chợ nào đó xuất hiện làm đảo lộn trật tự địa phương,
an ninh xã hội làm ảnh hưởng tới các công trình phúc lợi, cũng như ảnh
hưởng tới mỹ quan đô thị, ảnh hưởng tới việc quy hoạch tổng thể của các địa
phương, quận huyện, thành phố và không phù hợp với mục tiêu đường lối của
các chính sách kinh tế xã hội đối với từng vùng từng địa phương, không đúng
pháp luật thì sẽ bị loại bỏ. Còn những chợ phù hợp và thỏa mãn những điều
kiện bức thiết mà dân cư mong muốn sẽ được nhà nước và địa phương đầu tư
xây dựng chỉnh trang cải tạo, phát triển.
3 - Sự xuất hiện và phát triển của các trung tâm thương mại
lớn
4
.
Cùng với quá trình phát triển của kinh tế thị trường trong nước, hơn
một thập niên trở lại đây, các thành phố lớn rầm rộ với sự tăng lên một cách
mạnh mẽ về số lượng các trung tâm thương mại (đặc biệt là siêu thị, sau đó là
các hội chợ thương mại, cửa hàng bán lẻ, các doanh nghiệp, công ty thương
mại ), chủ yếu là ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Siêu thị là một trong
những loại hình thương mại mới, nó đang được người dân thành thị tiếp nhận
một cách nhanh chóng và số lượng ngày càng tăng. Tuy nhiên, tại sao các
4
Nguyễn Thượng Nguyễn lớp QLKT 42A luận văn: “Một số giải pháp phát triển chợ truyền thống ở
nước ta trong thời gian tới” trang 10, 11.
12
chợ bán lẻ vẫn tồn tại, phát triển và có một thị phần lớn ở nước ta hiện nay.
Để hiểu thêm về vấn đề này, ta có thể xem xét một số nét của siêu thị:
Một số đặc trưng nổi bật về siêu thị.
Theo Từ điển kinh tế thị trường thì: “Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ
bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng
như thực phẩm, đồ uống, dụng cụ gia đình và một số loại vật dụng khác”.
Tuy vậy, càng ngày siêu thị càng phát triển về số lượng cũng như quy
mô, chất lượng các loại mặt hàng, dịch vụ phục vụ chứ không còn bó hẹp ở
một số mặt hàng như trên nữa. Ta có thể thấy được những nét đặc trưng cơ
bản của siêu thị là:
- Siêu thị là một cửa hàng bán lẻ.
- Siêu thị áp dụng phương thức tự phục vụ.
- Siêu thị thường chú trọng ở nghệ thuật trưng bày hàng hóa.
- Siêu thị áp dụng các hình thức quản lý, bán hàng và thanh toán bằng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ (tin học, điện tử, khoa học xã hội
trong bán hàng ) hơn hẳn các chợ hiện đang tồn tại.
So sánh giữa chợ và siêu thị:
Đối với siêu thị:
- Điểm mạnh: Hàng hóa trong siêu thị thường là các hàng hóa có rõ
nguồn gốc xuất xứ, giá cả được niêm yết rõ ràng, hợp lý (giá cả trong siêu thị
thường chỉ đăt hơn 2% so với giá bán ở các đại lý bán lẻ), măt bằng xây dựng
có thể tuy theo diện tích có, không gian chiếm ít phù hợp với tình trạng thiếu
thốn đất như ở các thành phố lớn. Hơn nữa, vệ sinh môi trường ở các siêu thị
rất tốt, khách hàng thoải mái lựa chọn hàng hóa mà không bị bắt phải mua
như ở một số chợ, sự bố trí hàng hóa mang tính khoa học dễ tìm kiếm và lựa
chọn măt hàng mà khách hàng muốn
13
- Điểm yếu: Chi phí cho đầu tư xây dựng ban đầu là lớn và rất tốn
kém, các khách hàng đến siêu thị mua hàng thường là các khách hàng có thu
nhập cao trong khi đó ở nước đa số người dân có mức thu nhập trung bình và
thấp. Vì thế,sự phát triển của siêu thị thường là các đô thị lớn của thành phố.
Trong khi đó phần lớn người dân của nước ta lại chưa có thói quen mua sắm
tại các siêu thị và nó chưa phù hợp với tâm lý người tiêu dùng có mức thu
nhập trung bình và thấp.
Đối với chợ :
- Điểm mạnh: Số lượng hàng hóa đa dạng nhiều chủng loại, giá cả,
phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng mà đa số là người dân lao động, nó
là một loại hình truyền thống ăn sâu vào tiềm thức của người dân, sự giao lưu
mua bán thuận tiện
- Điểm yếu: Ảnh hưởng tới vệ sinh môi trường, hàng hóa không đảm
bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, an ninh lộn xộn, tranh cãi lấn
chiếm, hoat động kinh doanh nhỏ lẻ, manh mún, hàng hóa thì không rõ
nguồn gốc xuất xứ, giá cả bất thường không chính xác mất thời gian mặc cả.
Hàng hóa bày bán trong chợ thường lộn xộn không phân định rõ ràng
về địa điểm bày bán các loại hàng hóa khác nhau.
4 - Sự gia tăng dân số trên địa bàn quận:
Năm 2005 tỷ suất sinh trên địa bàn Quận Cầu Giấy là là 13%o, giảm
0,1%o so với năm trước (Nghị quyết HĐND là giảm 0,1%o), tỷ lệ sinh con
thứ 3+ là 2,99%, giảm 0,06% (UB Dân số - Gia đình và Trẻ em Thành phố
giao là giảm 0,03%, Nghị quyết HĐND là không quá 2,6%)
(5)
(Theo báo cáo
năm 2005 về kinh tế Quận Cầu Giấy). Tuy có nhiều cố gắng trong công tác
kế hoạch hóa gia đình, tuyên truyền vận động để giảm bớt sự gia tăng tư
nhiên, nhiều điều không thể không nói đến đó là sự gia tăng cơ học. Khi mà,
với qua trình đô thi hóa nhanh như hiện nay thì hàng năm quận phải đón tiếp
5
Theo báo cáo về tình hình kinh tế xã hội quận Cầu Giấy năm 2005 của phòng KT - KH
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét