Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Một số giải pháp phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất cho các nhà máy chế biến thuộc Tổng công ty rau quả,nông sản Việt Nam

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
Bảng 1: Tỷ trọng diện tích rau quả trong cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt
của Việt Nam
Loại cây
1996
%
1997
%
1998
%
1999
%
2000
%
Bình quân giai
đoạn 1996- 2000
%
Tổng số 100 100 100 100 100 100
Trong đó
Cây lương thực 65,9 63,6 64,1 62,5 63,9 64
Cây công nghiệp 16,7 28,3 18,4 19,5 19,1 18,1
Cây rau quả
15,2 15,9 15,5 15,5 15,1 15,4
(Nguồn: Theo số liệu thống kê nông - lâm - thuỷ sản Việt Nam 1999 – 2000)
1.2 Vai trò của rau quả đối với đời sống con người
Trước đây, trong nền kinh tế tự cấp tự túc hàng hoá khan hiếm không có sẵn
bán trên thị trường, hầu hết gia đình nào cũng có một khoảnh đất để trồng rau quả vì
như ta đã biết nó là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con
người. Rau quả có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng quyết định sự tồn tại của con
người. Các loại rau quả là nguồn dinh dưỡng quý giá của con người ở mọi lứa tuổi và
ngành nghề khác nhau. Trong rau quả có các loại đường dễ tiêu, axit hữu cơ, prôtêin,
lipit, chất khoáng, pectin, tananh, các hợp chất thơm và các chất khác, có nhiều loại
vitamin như: A, B1, B2, B6, PP. Đặc biệt là vitamin C rất cần thiết cho cơ thể con
người, vitamin A cần thiết cho trẻ em. Trong khẩu phần ăn của con người không
những cần đầy đủ calo mà cần có vitamin, muối khoáng, các axit hữu cơ và các hoạt
chất khác để các hoạt động sinh lý được tiến hành bình thường. Nhu cầu về calo dựa
vào việc cung cấp đạm, mỡ hydratcacbon từ động vật và thực vật, còn vitamin và các
hợp chất khác thì chủ yếu dựa vào rau quả.
Theo sự phát triển của đời sống xã hội, nhiều nhà dinh dưỡng học của Việt
Nam cũng như thế giới đã nghiên cứu về khẩu phần thức ăn cho người Việt Nam tính
rằng hàng ngày cơ thể chúng ta cần khoảng 1300 – 1500 calo năng lượng để sống và
hoạt động. Để có được năng lượng này, nhu cầu tiêu dùng rau quả hàng ngày trung
bình cho một người vào khoảng 300 – 400 gam (tức là vào khoảng 9 – 12 kg /người
/tháng).
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
Theo nghiên cứu của ông Porolle – nhà khoa học Pháp, từ năm 1942 ông đã
tính ra rằng bình quân một người tiêu dùng trong ngày khoảng 400 gam rau quả (tức
là khoảng 12 kg /tháng). Theo số liệu thống kê hiện nay tính bình quân chúng ta mới
chỉ sản xuất được 7 – 8 kg /người /tháng. Như thế là còn thiếu 4 – 5 kg, đó là điều
chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa trong điều kiện hiện nay nước ta rất có ưu thế
phát triển sản xuất nông nghiệp.
Ngoài ra rau quả còn là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực
phẩm như rau quả đông lạnh, nước giải khát và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị nếu
được tổ chức khai thác tốt.
Hơn thế nữa, rau quả còn được dùng làm dược liệu để chữa một số bệnh phổ
biến thường gặp rất có hiệu quả như: tỏi, tía tô….
Do vậy, phát triển sản xuất rau quả ngoài vai trò cung cấp các chất dinh dưỡng
cần thiết cho cơ thể, nó còn góp phần tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, tăng
thu nhập cho người nông dân và ngoại tệ cho đất nước.
Như vậy, có thể nói rằng vai trò to lớn của rau quả đối với đời sống con người
thì không ai có thể phủ nhận được. Khi đời sống của con người ngày càng được nâng
cao thì họ càng đòi hỏi cao hơn về chủng loại rau quả. Do đó, bên cạnh việc sản xuất
thì chế biến rau quả cũng có tầm quan trọng rất lớn, đáp ứng được nhu cầu ngày càng
phong phú của con người.
1.3 Sự cần thiết phải chế biến rau quả
Rau quả là sản phẩm của ngành nông nghiệp mang tính sinh học rất đậm nét.
Trong quá trình sản xuất ra các loại rau quả người nông dân thường xuyên phải sử
dụng các chất hoá học để kích thích sự tăng trưởng của cây trồng cũng như bảo vệ
nó. Bởi vì để có được các loại rau quả xanh, tươi cung cấp cho người tiêu dùng thì
người sản xuất phải trải qua một quá trình chống chọi với thiên nhiên dịch bệnh. Để
hạn chế được sự tấn công của sâu bệnh thì người sản xuất phải sử dụng các loại thuốc
hoá học cho cây trồng. Vì vậy trong nhiều loại rau quả vẫn còn bị ảnh hưởng bởi các
chất hoá học này và đôi khi còn gây ngộ độc nguy hại cho sức khoẻ con người.
Mặt khác, rau quả là sản phẩm tươi sống nên rất dễ hư hỏng và thời gian bảo
quản thường ngắn. Bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau quả
nói riêng có tính thời vụ rất sâu sắc. Khi đến mùa vụ thì sản phẩm nhiều, ứ đọng, giá
rẻ đôi khi không bán được hoặc có bán được thì vẫn lỗ. Điều này đã gây tâm lý chán
nản cho người nông dân làm cho cuộc sống của họ vốn đã khó khăn lại càng khó hơn.
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
Đứng trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra là phải có các nhà máy chế biến rau
quả. Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng cao, họ không
chỉ có nhu cầu về sản phẩm tươi sống mà còn có nhu cầu về các sản phẩm chế biến từ
rau quả. Vả lại, do tính mùa vụ nên một số loại rau quả chỉ thu hoạch được ở những
thời điểm nhất định trong năm mà nhu cầu về sản phẩm đó thì lại ở mọi thời điểm.
Việc hình thành công nghiệp chế biến rau quả sẽ tạo thêm việc làm thu hút lao động,
giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn.
Mặt khác thông qua chế biến, sẽ làm tăng giá trị và tăng khả năng tiêu thụ của sản
phẩm rau quả do đó cũng góp phần làm tăng lợi nhuận cho người sản xuất.
Do vậy trong tương lai ngành rau quả sẽ có triển vọng phát triển rất lớn.
Nhưng để nâng cao hiệu quả của ngành rau quả thì vấn đề đặt ra là phải phát triển
công nghiệp chế biến. Chỉ bằng con đường đó thì người sản xuất mới tăng được lợi
nhuận và đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng rau quả ngày càng cao và đa dạng trong
nước cũng như quốc tế.
2. Vai trò, đặc điểm của ngành công nghiệp chế biến rau quả
2.1. Khái niệm về công nghiệp chế biến rau quả
Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội.
Công nghiệp bao gồm ba loại hoạt động chủ yếu: Khai thác tài nguyên thiên nhiên
tạo ra nguồn nguyên liệu, sản xuất và chế biến sản phẩm của công nghiệp khai thác
và nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu khác nhau của xã
hội, khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất
và trong sinh hoạt. Để thực hiện được ba loại hoạt động cơ bản đó, dưới sự phân
công lao động xã hội trên cơ sở tiến bộ của khoa học công nghệ, trong nền sản xuất
kinh tế quốc dân hình thành hệ thống các ngành công nghiệp.
Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản: Chế biến là việc sử dụng các yếu tố
đầu vào như khoa học công nghệ, nguyên nhiên liệu, sức lao động và trí tuệ của con
người làm thay đổi hoàn toàn về chất của các nguyên liệu nguyên thủy, tạo ra sản
phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng đa dạng và có mẫu mã, chất lượng tốt đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của con người.
Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thì hoạt động chế biến
Nông – Lâm – Thủy sản và ngành nghề trong nông thôn cũng có những bước phát
triển nhất định, làm cho các sản phẩm có nguồn gốc từ nông nghiệp ngày càng trở lên
phong phú và đa dạng về mẫu mã, đảm bảo tốt về chất lượng, tăng thu nhập cho khu
vực nông thôn, hình thành các nhà máy chế biến. Song sản xuất chế biến rau quả
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
không đòi hỏi trình độ quá cao về kỹ thuật, công nghệ và trình độ lao động của người
dân như những ngành công nghiệp khác vì vậy ngày càng được quan tâm và phát
triển.
Hiện nay, việc tạo ra sự đa dạng trong các sản phẩm rau quả là hết sức cần
thiết nhằm nâng cao khả năng tiêu thụ các sản phẩm này.
Qua những vấn đề trên ta có thể có khái niệm về chế biến rau quả như sau:
“Chế biến rau quả là việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong công
nghiệp áp dụng vào nông nghiệp nhằm tạo ra sự đa dạng về mẫu mã và đảm bảo về
chất lượng các sản phẩm rau quả đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường”.
Hiện nay hoạt động chế biến nông, lâm, thuỷ sản ở nước ta chưa phát triển
theo kịp với nhu cầu chế biến nông, lâm, thuỷ sản và nhu cầu việc làm trong nông
thôn. Cả ở quy mô chế biến công nghiệp tập trung và chế biến quy mô nhỏ trang trại
gia đình đều còn trì trệ, mặc dù đây là khâu quan trọng để tạo ra hàng hoá nông sản
đủ tiêu chuẩn chất lượng tham gia vào thị trường nông sản trong và ngoài nước. Vì
vậy, cần phải tạo ra các mô hình “mẫu” có hàm lượng khoa học cao, làm động lực
thúc đẩy nông nghiệp phát triển có định hướng, ổn định và có hiệu quả kinh tế cao.
Qua khái niệm trên, công nghiệp chế biến rau quả gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Sơ chế và bảo quản. Giai đoạn này được tiến hành ngay sau khi
thu hoạch, nằm ngoài xí nghiệp chế biến, chủ yếu sử dụng lao động thủ công truyền
thống với phương tiện bảo quản và vận chuyển chuyên dùng. Nó quyết định mức độ
tổn thất sau khi thu hoạch và chất lượng nguyên liệu đưa đến xí nghiệp chế biến. Đây
là giai đoạn quan trọng có ý nghĩa xác định thứ hạng sản phẩm ở giai đoạn sau.
Giai đoạn 2: Chế biến công nghiệp. Giai đoạn này diễn ra trong các xí nghiệp
công nghiệp chế biến. Nó sử dụng lao động kỹ thuật cùng với máy móc thiết bị công
nghệ cần thiết. Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định mức độ chất lượng sản phẩm
chế biến và mức độ tăng giá trị của sản phẩm.
2.2. Đặc điểm của ngành công nghiệp chế biến rau quả
2.2.1 Công nghiệp chế biến rau quả đòi hỏi các nhà máy chế biến phải gắn với
vùng nguyên liệu
Bất kỳ ngành công nghiệp chế biến nào cũng cần phải có nguyên liệu. Việc
đưa nguyên liệu đến các nhà máy là vấn đề mà bất cứ lĩnh vực nào cũng phải đặt ra.
Nhất là đối với rau quả là những sản phẩm tươi sống, cồng kềnh và dễ dập nát. Vùng
nguyên liệu và công nghiệp chế biến rau quả có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ trên các
lĩnh vực đặc tính kỹ thuật của dây chuyền sản xuất và tính hiệu quả kinh tế.
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
8
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
Xét trên góc độ đặc tính kỹ thuật của dây chuyền sản xuất thì việc trồng vùng
nguyên liệu rau quả là một giải pháp đáp ứng yêu cầu đầu vào đối với khối lượng lớn
cho các cơ sở công nghiệp chế biến rau quả.
Xét trên hiệu quả kinh tế, nhà máy chế biến gắn với vùng nguyên liệu có nhiều
lợi ích đó là năng suất cao giảm giá thành sản phẩm. Khi cự ly vận chuyển ngắn, thu
gom nguyên liệu được khai thác tập trung thì chi phí vận chuyển giảm và hao hụt về
chất lượng sản phẩm cũng giảm đi. Ngoài ra các khoản chi phí gián tiếp như làm
đường khai thác, kiểm tra chất lượng đầu vào như cân đo đong đếm cũng đơn giản
hơn và giảm hơn. Mặt khác, vùng nguyên liệu và các nhà máy chế biến rau quả được
gắn với nhau sẽ giảm được đầu mối thu mua cung ứng nguyên liệu cho khâu chế
biến. Chỉ cần một đầu mối duy nhất là công ty nguyên liệu đại diện cho nhà máy và
từ đó ngăn chặn được tình trạng tranh mua tranh bán, mua tranh bán cướp gây thiệt
hại cho người trồng nguyên liệu.
Như vậy để sản xuất rau quả phát triển bền vững đòi hỏi phải giải quyết tốt
mối quan hệ giữa vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến. Kinh nghiệm ở nhiều nơi
cho thấy nên có sự liên kết chặt chẽ giữa người nông dân, nhà máy chế biến, các tổ
chức tín dụng, xử lý hài hòa lợi ích và trách nhiệm lẫn nhau cùng hợp tác phát triển
sản xuất kinh doanh. Về phía nhà máy chế biến cần nhận thức rõ tầm quan trọng của
việc phát triển vùng nguyên liệu gắn với sản xuất từ đó đề ra hướng tổ chức nghiên
cứu sản xuất cây gì con gì, hàng hoá gì thích hợp với điều kiện tự nhiên vùng dự án
và điều kiện cơ sở vật chất hiện có của nhà máy để lập phương án kinh doanh có tính
khả thi cao.
2.2.2. Công nghiệp chế biến rau quả cần khối lượng nguyên liệu lớn và ổn định
Mỗi nhà máy chế biến rau quả có một công suất nhất định. Để các nhà máy có
thể hoạt động hết công suất thì cần có khối lượng nguyên liệu lớn và ổn định. Sản
phẩm của nông nghiệp mang tính thời vụ, do vậy việc lập kế hoạch cung cấp nguyên
liệu cho các nhà máy chế biến cần bố trí đất đai, chủng loại nguyên liệu một cách hợp
lý nhất để đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy hoạt động đảm bảo với thời gian và
công suất tối đa nhất. Điều đó có nghĩa là việc quy hoạch vùng nguyên liệu cần phải
đa dạng hoá các cây nguyên liệu để làm sao nhà máy có thể hoạt động quanh năm.
Bởi vì các cây nông nghiệp mang tính thời vụ cho nên phải tránh tình trạng tập trung
vào một hai nguyên liệu chính thì thời gian sản xuất ngắn do đó nhà máy hoạt động
không liên tục trong năm sẽ dẫn đến hàng loạt các vấn đề khác kéo theo: Công nhân
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
không có việc làm, họ không đảm bảo được đời sống, công nhân bỏ nhà máy đến khi
nhà máy có nguyên liệu hoạt động trở lại thì lại không có công nhân làm.
Bên cạnh đó, với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, các dây
chuyền máy móc thiết bị ngày càng được cải tiến theo hướng hiện đại. Cho nên khi
mua máy móc về chúng ta phải làm sao hoạt động với thời gian lớn nhất để tránh sự
hao mòn vô hình. Nhưng thực tế hiện nay ở nước ta máy móc thiết bị chúng ta mua
về thường là đồ thải của các nước tiên tiến, khi đưa vào sản xuất lại hoạt động không
hết công suất thiết kế. Nhìn chung, các dây chuyền thiết bị chế biến nước ta là lạc hậu
so với thế giới. Như vậy, vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là phải quy hoạch vùng
nguyên liệu hợp lý để làm sao các nhà máy chế biến hoạt động với công suất tối đa.
Điều đó, trước mắt là đảm bảo được đời sống của người lao động, sau là góp phần
vào việc tăng trưởng nền kinh tế.
2.3 Vai trò của ngành công nghiệp chế biến rau quả
2.3.1 Đối với nền nông nghiệp hàng hoá
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quốc dân, một trong những bộ phận chủ
yếu của sản xuất vật chất, sản xuất lương thực thực phẩm cho xã hội và nguyên liệu
cung cấp cho công nghiệp chế biến.
Công nghiệp và nông nghiệp có quan hệ với nhau rất khăng khít. Công nghiệp có
nhiệm vụ của công nghiệp, nông nghiệp có nhiệm vụ của nông nghiệp, mỗi ngành sản
xuất ra những sản phẩm khác nhau và đáp ứng yêu cầu khác nhau của nền kinh tế, song
hai ngành phát triển không tách rời nhau mà có quan hệ với nhau rất hữu cơ, ngành này
phát triển sẽ tạo điều kiện thúc đẩy ngành kia phát triển và ngược lại. Chủ tịch Hồ Chí
Minh thường ví công nghiệp và nông nghiệp như “hai chân của con người”, “hai chân
của nền kinh tế”, “hai chân đi khoẻ và đi đều thì bước tiến sẽ nhanh và nhanh chóng đi
đến đích”.
Nông nghiệp là cơ sở của công nghiệp, nông nghiệp phát triển không những
giải quyết nhu cầu lương thực thực phẩm cho toàn xã hội, tạo nguồn cung cấp nguyên
liệu cho công nghiệp mà còn tạo ra những mặt hàng xuất khẩu để tích luỹ ngoại tệ,
nhưng nông nghiệp hàng hoá không thể phát triển mạnh nếu không có sự tác động
của công nghiệp và trực tiếp nhất là công nghiệp chế biến rau quả. Trong nền kinh tế
tự cung tự cấp sản xuất để tiêu dùng là chủ yếu. Khi chuyển sang nền nông nghiệp
hàng hoá sản xuất ra sản phẩm là để bán mà muốn bán được sản phẩm với giá cao thì
phải thông qua chế biến. Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến rau quả sẽ tạo
thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
10
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
nhập cho người lao động, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghiệp
hoá nông nghiệp nông thôn, làm tăng kim ngạch xuất khẩu. Chính sự phát triển của
công nghiệp chế biến, sự tác động của công nghiệp chế biến rau quả vào nền nông
nghiệp hàng hoá tạo cơ sở giải quyết những vấn đề xã hội, nâng cao trình độ dân
trí… là mục tiêu của quá trình phát triển, song cũng là cơ sở xã hội của quá trình phát
triển công nghiệp.
Công nghiệp chế biến rau quả vừa có vai trò trực tiếp vừa có vai trò gián tiếp
tới sự phát triển nông nghiệp hàng hoá, tạo ra cầu nối giữa công nghiệp và nông
nghiệp, là khâu đột phá để công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, tạo
điều kiện thuận lợi để nền nông nghiệp hàng hoá phát triển mạnh hơn nữa.
2.3.2 Đối với nền kinh tế quốc dân
Với lịch sử phát triển của mình công nghiệp chế biến rau quả càng khẳng định
vai trò chiến lược quan trọng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của xã hội, đóng
góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và tạo nguồn thu lớn cho
ngân sách Nhà nước, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, nâng cao
đời sống văn hoá và trình độ dân trí. Do vậy ngành chế biến rau quả có vai trò quan
trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của mỗi quốc gia. Riêng Việt Nam một nước
có diện tích trồng rau quả dồi dào và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển các
loại rau quả, công nghiệp chế biến rau quả đã góp một phần không nhỏ vào sự phát
triển kinh tế nước nhà. Hàng năm ngành rau quả đã góp vào tổng sản phẩm quốc dân
(GDP) thông qua tổng giá trị sản lượng của ngành.
Ngoài việc góp phần trực tiếp vào việc gia tăng GDP của nền kinh tế, ngành
công nghiệp chế biến rau quả còn gián tiếp làm thay đổi những quan niệm về cuộc
sống, làm tăng trình độ văn hóa đó chính là những động lực thúc đẩy quá trình tăng
trưởng kinh tế.
Bên cạnh đó với việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả ngành công nghiệp chế
biến rau quả đã tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, tăng thêm khả
năng chi tiêu cho Chính phủ, cho các công trình khác phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước.
Hơn nữa đối với Việt Nam có dân số khoảng 80 triệu người, có nguồn lao
động khoảng 40 triệu người, với tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn là rất cao. Vì vậy việc
phát triển công nghiệp chế biến là hết sức cần thiết góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp
tăng thu nhập và ổn định đời sống cho người lao động.
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
11
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
Như vậy có thể nói ngành công nghiệp chế biến rau quả có vai trò quan trọng
trong hệ thống các ngành của nền kinh tế quốc dân. Ngành chế biến rau quả phát triển
là một trong những yếu tố chính đảm bảo sự ổn định trên thị trường hàng hoá tiêu
dùng cũng như thị trường nguyên liệu cho sản xuất.
3. Sự cần thiết phải xây dựng vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến rau
quả
3.1. Khái niệm vùng nguyên liệu
Vùng nguyên liệu là một khái niệm tổng quát về vùng mà trong đó có thể xác
định được những phần diện tích thích hợp với mục đích kinh doanh, phát triển các
cây để làm nguyên liệu. Ranh giới vùng nguyên liệu được hoạch định theo địa giới
hành chính huyện xã. Ranh giới này chỉ mang tính định hướng sản xuất trong vùng
mà không phải là ranh giới phân định việc sử dụng đất đai. Xác định phạm vi vùng
nguyên liệu dựa trên các yếu tố địa lý, cự ly, mức độ tập trung sản xuất, năng lực về
giao thông vận tải và bố trí cơ cấu cây trồng đảm bảo cung ứng sản phẩm nguyên liệu
đều cho các tháng trong năm để nhà máy có đủ nguyên liệu hoạt động từ 10 – 12
tháng.
3.2. Vai trò của vùng nguyên liệu đối với công nghiệp chế biến rau quả
Nguyên liệu là vấn đề sống còn của các nhà máy chế biến, không có nguyên
liệu thì sẽ không có nhà máy. Mặt khác với sự phát triển của khoa học công nghệ thì
các dây truyền thiết bị chế biến cũng ngày càng hiện đại, vì vậy nhu cầu nguyên liệu
là rất lớn. Do đó có thể nói vùng nguyên liệu có vai trò vô cùng quan trọng mang tính
sống còn đối với các nhà máy chế biến.
Nguồn nguyên liệu phải được xây dựng tập trung, quy hoạch thành vùng đủ
lớn để áp dụng được tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghiệp hoá hiện đại hóa
ngành nông nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì dưới góc độ hiệu quả kinh tế, trồng và khai
thác nguyên liệu theo vùng đưa lại nhiều lợi ích: Đó là giảm cự ly vận chuyển và thu
gom nguyên liệu do các cây trồng được thu hoạch theo mùa vụ nhất định, nên độ
đồng đều cao, tỷ lệ hao hụt thấp. Mặt khác, khi số cơ sở trồng nguyên liệu rau quả
càng nhiều thì mức độ phức tạp trong thu mua nguyên liệu ngày càng gia tăng, mối
liên hệ giữa cơ sở chế biến rau quả và cơ sở trồng nguyên liệu khó được thiết lập trên
cơ sở hợp đồng mua bán mà trở thành quan hệ mua bán thoả thuận đứt đoạn ngay
trên thị trường. Khi đó trên thị trường sẽ xuất hiện những khuyết tật làm thiệt hại đến
người sản xuất, ví dụ khi có nhiều người cùng bán nguyên liệu rau quả cao hơn nhu
cầu của các nhà máy chế biến thì giá mua có thể giảm đi. Nếu các hộ có nguyên liệu
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
12
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
bán ở xa nhà máy thì họ không nhận được thông tin về thị trường, ít có khả năng bán
nguyên liệu trực tiếp cho các nhà máy chế biến rau quả nên phải bán qua trung gian
môi giới với giá thấp. Hoặc khi giá nguyên liệu tăng lên nhưng nguồn nguyên liệu lại
có hạn thì dễ dẫn đến tình trạng đưa cả nguyên liệu không đủ chất lượng vào bán.
Khi quy mô của mỗi cơ sở trồng nguyên liệu quá nhỏ, thì mối quan hệ giữa các nhà
máy chế biến và người trồng nguyên liệu không đem lại lợi ích lớn cho cả hai phía.
Khi lợi ích này không mang tính kinh tế tích cực thì nhà máy chế biến khó phát triển
và cơ sở trồng rau quả sẽ chú trọng hoạt động sản xuất khác.
Như vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất chung cho cả khâu chế biến và khâu
trồng nguyên liệu đòi hỏi khi xây dựng vùng nguyên liệu rau quả cần giảm đến mức
tối thiểu số cơ sở trồng nguyên liệu manh mún nhỏ lẻ, các cơ sở trồng nguyên liệu
cần đạt quy mô càng lớn càng tốt, tránh việc có quá nhiều cơ sở trồng nguyên liệu có
quy mô nhỏ và phân tán. Chỉ có như vậy thì ngành chế biến rau quả mới phát triển
lên tầm cao mới góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển vùng nguyên liệu
4.1. Nhân tố tự nhiên
Sản xuất rau quả hiện nay chủ yếu vẫn được tiến hành ngoài trời lệ thuộc
nhiều vào điều kiện tự nhiên và mang tính khu vực rõ rệt. Mặt khác, rau quả là những
cơ thể sống, chúng sinh trưởng và phát triển theo những quy luật sinh học nhất định.
Do đó chúng rất nhạy cảm với môi trường tự nhiên.
Các yếu tố tự nhiên bao gồm: Vị trí địa lý, đất đai, thời tiết khí hậu, địa hình là
những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển vùng nguyên liệu rau quả.
4.1.1. Vị trí địa lý
Lãnh thổ nước ta kéo dài suốt sườn Đông và sườn Nam của bán đảo Đông
Dương, chiếm phần lớn diện tích của bán đảo này và nằm ở vị trí gần trung tâm của
khu vực Đông Nam Á, đồng thời có những nét riêng biệt độc đáo.
Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều loài động thực vật từ Trung Hoa xuống, Ấn
Độ sang làm cho lớp động thực vật của nước ta ngày càng phong phú trong đó có
những loài rau quả mà không phải nước nào cũng có như: dứa, xoài, vải, nhãn…
4.1.2. Đất đai
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu Á, đất nước có chiều dài trên 15 vĩ độ
với mấy ngàn km giáp biển Đông. Đất đai nước ta phong phú, cả nước có 13 nhóm
đất chính. Tiềm năng đất nông nghiệp là 10 - 11,257 triệu ha trong đó khoảng gần 8
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
triệu ha trồng cây hàng năm. Hiện nay Việt Nam mới chỉ sử dụng hết 65% quỹ đất
nông nghiệp, trong đó đất trồng cây hàng năm là 5,6 triệu ha nhưng đất sử dụng trồng
rau quả chưa thực sự chiếm tỷ lệ lớn. Với một tỷ lệ đất nông nghiệp như vậy đó là
điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại rau quả khác nhau ở mọi miền đất nước.
4.1.3. Khí hậu
Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, với sự biến đổi khí hậu từ
Bắc xuống Nam, điều đó cho phép nước ta trồng được nhiều loại rau quả nhiệt đới, á
nhiệt đới và một số rau quả gốc ôn đới, mùa vụ thu hoạch kế tiếp nhau nhiều tháng
trong năm. Đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa là nắng lắm, mưa nhiều, độ ẩm
trung bình cao là điều kiện rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loại
thực vật, là điều kiện tốt để tiến hành xen canh, gối vụ tăng nhanh vòng quay của
ruộng đất, thâm canh tăng năng suất. Lượng nhiệt trung bình cao lại được kết hợp với
độ ẩm trung bình lớn là một thuận lợi đáng kể cho sự phát triển các cây nhiệt đới vừa
ưa nhiệt, vừa ưa ẩm như: cao su, cà phê, dừa, mía, dứa… Lượng mưa trung bình hàng
năm trên cả nước đạt từ 1500 – 2000 mm, độ ẩm trung bình cao trên 85%. Mưa nhiệt
đới không chỉ cung cấp nước cho đất mà còn có tác dụng điều hoà khí hậu và cung
cấp cho đất một lượng đạm vô cơ đáng kể.
Việt Nam còn là một trong những vùng bắt nguồn của một số loại rau quả
như: Cam, quýt, chuối… và có nguồn gen di truyền thực vật phong phú, đa dạng về
rau quả, gia vị và hoa.
Bên cạnh những lợi thế sinh thái, rau quả nước ta cũng bị ảnh hưởng của một
số hạn chế và bất lợi của khí hậu đối với nông nghiệp như: Bão, lụt, thời tiết kém ổn
định do gió mùa Đông Bắc dẫn tới rủi ro về chất lượng.
4.1.4. Địa hình
Là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc trồng rau quả. Dải đều khắp từ Bắc
tới Nam là địa hình núi cao, đến đồng bằng sông suối và ven biển đã tạo nên những
lợi thế sinh thái so với nhiều nước khác. Các hệ thống giao thông đường bộ, đường
biển và hàng không thuận tiện cho việc giao lưu hàng hoá quốc tế và khu vực.
Những đặc điểm tự nhiên hết sức vốn có của Việt Nam đã tạo cho nền nông
nghiệp nước ta một lợi thế so sánh hơn hẳn nước khác. Vì nó đã tạo cho nước ta
những mặt hàng rau quả có giá trị xuất khẩu cao, xuất khẩu tương đối thuận lợi và
được khách hàng thế giới ưa chuộng, có uy tín về nhiều mặt
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét