Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014
Thể loại chèo
NS Quốc Trượng – chèo Tấm Cám
Những không gian biểu diễn chèo truyền thống
forward
ba
ck
Sân đình
Sân khấu chèo
Tư gia
Sân nhà thờ họ
1.2. Thể loại chèo trong sự phát triển của
nghệ thuật sân khấu dân gian
Nt chèo là sự tiếp nối nt biểu diễn sk dân gian. Sự hình thành
của Nt Chèo biểu hiện qua sự phát triển của trò diễn DG: trong
nghi lễ nguyên thủy, trong hội hè đình đám…
Theo ghi chép của sử sách thì Tk 13, Sk Việt Nam hình thành,
Tk 17, 18 ở Đàng Trong, Tuồng hình thành và phát triển. Tk
16 ở miền Bắc có sân khấu kịch hát gọi là xướng ưu: múa hát
có ý bôi nhọ người làm vua quan nên bị cấm, rồi cấm con
phường hát đi thi
Loại hình nt này cứ như vậy phát triển đến đầu thế kỉ XX ở
miền Bắc
Tích chèo sáng tác và lấy nguyên mẫu TCT
ba
ck
forward
Chèo trong đời sống hiện nay
Sau CM, một tổ Chèo trong đoàn văn công nhân dân TƯ (tiền
thân của nhà hát Chèo VN ngày nay) đã được thành lập với bốn
nghệ nhân. Đây là bước khởi đầu cho một quá trình khai thức,
phục hồi , bảo tồn và phát triển nt chèo.
+ Năm 1958, Ban nghiên cứu chèo ra đời
+ Chèo đến với những liên hoan quốc tế: Bungari (1982), CHDC
Đức (1985), Pháp (1993)…
Hiện nay, Chèo được đưa vào giảng dạy trong nhà trường (lớp 7,
ĐH). Trước đây chỉ có các trường nghệ thuật. Đây là chủ trường
bảo tồn di sản văn hóa cổ truyền, giúp thế hệ sau hiểu laọi hình
NT chèo.
1.3. Khái niệm “Chèo” và các thuật ngữ có liên quan
“Tiếng chèo là bởi chữ trào nói chệch ra. Trào có nghĩa là cười;
người Bắc kì ta gọi là hát chèo,nghĩa là diễn cái sự tích bật bực
cười của người đời cổ làm vui để mà xem cho thỏa thích để dạy
người ta răn chừa” (Ng Thúc Khiêm)
Chèo có liên quan đến động tác chèo thuyền: cho rằng nt chèo ra
đời trong những nghi lễ ở đình (bơi chải hò hát mà thành)
ba
ck
forward
1.4. Kịch bản chèo
Kịch bản chèo thường được gọi bằng tên dân dã là “tích trò” (có
tích mới dịch nên trò”)
Kịch bản chèo là tác phẩm VHDG nên mang những đặc trưng của
văn bản VHDG. Đó là tính dị bản; tp luôn bao gồm các yếu tố bất
biến và yếu tố khả biến.
Tích truyện có thể lấy từ nguồn truyện cổ dân gian (Từ Thức, Mục
Liên, Tấm Cám…), có thể sáng tạo những tích mới
Điểm lưu ý: dị bản của kịch bản chèo là do các nghệ sĩ chèo cổ
(tức là những người biểu diễn) dựa vào những thân trò đó để ứng
diễn. Lối ứng diễn khiến cho cùng một tích trò mà có nhiều văn
ngôn khác nhau cả về Nt biểu diễn, có khi khác cả về cách khắc
họa chân dung
forward
ba
ck
Trò ngoài tích và trò trong tích
Đó là cách gọi để thấy sự phát triển và biến đổi của KB chèo.
Mỗi kịch bản là sự chồng lớp liên tục. Có những trò diễn quy
định bắt buộc trong tích truyện; có những trò thêm vào: màn
cương của những vai hề… Nhưng những tình tiết chính thì
không thể thay đồi: Thị Mầu ghẹo tiểu, Súy Vân giả dại, Đào
Huế đánh ghen…
Các nsĩ phải tìm cách “tìm trò để gò vào tích”
Đa số kịch bản chèo cổ được lưu giữ trong kho tàng Hán Nôm.
Số bản chèo cổ trong tuyển tập là sự kết hợp những văn bản này
với lời chỉnh sửa của các nghệ nhân hàng đầu (trùm Thịnh, trùm
Thức, trùm Sứng… An Văn Mược, Nguyễn Văn Tích, Trịnh Thị
Lan…)
forward
ba
ck
II. ĐẶC TRƯNG CỦA CHÈO CỔ
1. CHÈO LÀ NGHỆ THUẬT NGẪU HỨNG TRONG SÁNG TÁC VÀ BIỂU DIỄN
2. CHÈO LÀ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT HÁT MÚA TỔNG HỢP
3. CHÈO LÀ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT MANG TÍNH ƯỚC LỆ
1. Chèo là nghệ thuật ngẫu hứng
trong sáng tác và biểu diễn
Quan niệm về ứng diễn: Là loại hình sáng tác, hoặc đồng thời stác
và biểu diễn, hát một cách tức thời không có sự chuẩn bị nào trước
Thân trò sơ lược là mảnh đất tung hoành của nghệ sĩ. Khi đồng
tình với thân trò thì nsĩ gia công phát triển: Mẹ Đốp là chuyển hóa
tài tình từ mô hình hề gậy. Xã trưởng, hương Câm, Đồ điếc là
chuyển hóa từ mô hình hề áo chùng… tạo nên cảnh việc làng sinh
động.
Vở Kim Nham lại là sự phản ứng lại thân trò: Lễ giáo coi Súy Vân
là nghịch nữ. Nt hứng diễn lại tạo nên một Súy Vân dám đứng lên
đấu tranh đòi tình yêu, hạnh phúc thoát khỏi lễ giáo phong kiến
forward
Back
2. Chèo là loại hình nghệ thuật hát múa, mang tính tổng
hợp, cộng hưởng giữa trò nhời và trò diễn
Các thành tố tạo nên Chèo:
+ Trò diễn
+ Hát đối đáp giao duyên
+ Các loại diễn xướng khác
Người ta nói là đi xem “hát” chứ không phải diễn. Ngôn ngữ chủ
yếu của sân khấu là động tác hình thể. Trong đoạn ra trò thường
dùng các lối nói và hát. Lời của hát mang tính khái quát, đơn giản
và ít hành động
Âm nhạc: chủ yếu là bộ gõ, làm chủ là tiếng trống đế. Trống đế có
nhiệm vụ dắt trò, đệm cho hát cho diễn hòa với nó là dàn mõ, trống
cơm, thanh la, sanh tiền, sáo nhị… Tất cả hòa tấu một cách ngẫu
hứng, không chỉ diễn xuất mà còn tỏ thái độ: khi kích thích, khi
giễu cợt, khi đối đáp
forward
Back
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét