DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHTM: Ngân hàng thương mại
NH: Ngân hàng
TCTD: Tổ chức tín dụng
KH: Khách hàng
NV: Nguồn vốn
TSLĐ: Tài sản lưu động
TSCĐ: Tài sản cố định
SXKD: Sản xuất kinh doanh
TSĐB: Tài sản đảm bảo
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển nhưng trong những năm gần
đây găp nhiều biến động do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Năm
2010 là một năm thách thức với toàn bộ nền kinh tế. Để khôi phục và đứng vững, nền kinh
tế cần tiềm lực đầu tư không chỉ trong kinh doanh mà còn trong tiêu dùng. Đóng góp phần
lớn trong vốn kinh doanh là vốn vay từ các ngân hàng thương mại.
Hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại không chỉ ảnh hưởng tới nền
kinh tế nói chung mà còn là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng. Vì thế,
hoạt động này vô cùng quan trọng và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ.
Hiểu được tầm quan trọng của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại cũng
như những biến động của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại trong thời gian gần
đây nên em chọn đề tài: “Một số giải pháp tảng hiệu quả hoạt động cho vay của các ngân
hàng thương mại cổ phần của Việt Nam”.
Mong với những kiến thức được học trong môn lý thuyết tài chính tiền tệ và những
thông tin thu thập từ thực tế sẽ giúp em hoàn thiện nghiên cứu và có những kiến nghị hữu
ích cho hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Bài nghiên cứu là cơ hội để em học hỏi và nghiên cứu sâu hơn về hoạt động cho vay
của ngân hàng thương mại nói riêng và môn lý thuyết tài chính tiền tệ nói chung.
Bài viết gồm hai phần:
Chương I: Lý luận chung về ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay cuả ngân hàng thương mại tại Việt
Nam
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN THƯƠNG MẠI VÀ
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát chung về ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay của ngân hang
thương mại
Đầu tiên, để tiếp cận hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, cần phải có cái nhìn
khái quát về ngân hàng thương mại cũng như hoạt động của ngân hàng thương mại. Để
thực hiện mục tiêu ấy cần nắm bắt một số khái niệm sau đây:
Đầu tiên là về ngân hàng thương mại. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2011,
ngân hàng thương mại là 1 loại hình ngân hàng nằm trong các loại hình tổ chức tín dụng và
được định nghĩa như sau:
Ngân hàng thương mại (NHTM): là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục
tiêu lợi nhuận
Trong luật các tổ chức tín dụng Việt Nam 2011cũng định nghĩa về hoạt động ngân hàng.
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp
vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Tương tự vậy, NHTM với vai trò là một ngân hàng cũng thực hiện 3 nghiệp vụ trên. Trong
đó, nghiệp vụ được coi là quan trọng là cấp tín dụng
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam đoan
cho phép sử dụng một khoản tiền nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán và bảo lãnh. Và cho vay là hoạt động xuất hiện
đầu tiên cũng như là nền tảng cho hoạt động của ngân hàng
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách
hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo
thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
1.2. Phân loại hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.2.1. Phân loại theo hình thức tài trợ
Cho vay được phân loại theo nhiều cách khác nhau dựa vào tiêu thức phân loại khác nhau
như: theo hình thức bảo đảm, theo thời gian, theo mục đích sử dụng, theo đối tượng cho
vay… Một trong những cách phân loại được sử dụng nhiều là phân theo hình thức tài trợ.
Với cách phân loại này, cho vay được chia thành các nhóm sau:
* Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người đi vay được chi trội trên
số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định trong một khoảng
thời gian nhất định.
Giới hạn cho vay được gọi là định mức thấu chi
Để được thấu chi, khách hàng phải làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu cho và thời gian
thấu chi. Trong thời gian hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập ủy nhiệm chi,… vượt
quá số dư tiền gửi. Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi ngân hàng sẽ thu gốc
và lãi.
Số tiền lãi mà KH phải trả = lãi suất thấu chi * thời gian thấu chi * số tiền thấu chi
Thấu chi là hình thức dựa trên cơ sở thu chi của khách hàng không phù hợp về thời gian và
quy mô
Hình thức này tạo điều kiện cho khách àng chủ động, nhanh chóng và linh hoạt trong hoạt
động thanh toán
Đây là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn không có đảm
bảo, có thể áp dụng cho cả cá nhân và doanh nghiệp. Đa phần được áp dụng với khách
hàng có độ tín nhiệm tín dụng cao, kì thu nhập ngắn và đều đặn.
Đối với ngân hàng, hình thức này đem lại lợi nhuận lớn do lãi suất thấu chi thường cao hơn
lãi suất cho vay thông thường và nhu cầu đối với cho vay thường lớn đặc biệt với các
doanh nghiệp. Nhưng bên cạnh đó, hình thức này cũng chứa rủi ro lớn do thường không có
tài sản đảm bảo và chi phí lớn do phải giữ lượng tiền mặt dự phòng do không biết nhu cầu
vay sẽ phát sinh vào bao giờ.
* Cho vay từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến tại các ngân hàng đối với đối
tượng khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để cấp hạn
mức thấu chi
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Ngân
hàng phân tích khách hàng và kí hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải
ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu tài sản đảm bảo.
Số lượng cho vay = Nhu cầu vốn cho SXKD – VCSH tham gia – Các NV khác tham gia
Nhu cầu vốn cho SXKD = Nhu cầu vốn đầu tư cho TSLĐ, TSCĐ - Giá trị TS và CP
không thuộc đối tượng tài trợ
Ngoài ra còn được so sánh với giá trị cho vay tính trên tài sản đảm bảo
Giá trị cho vay = Giá trị TSĐB * tỉ lệ cho vay dựa trên TSĐB
Tỷ lệ này được quy định trong quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín và theo quy định riêng của từng ngân hàng.
Theo đúng thời kì quy định trong hợp đồng, ngân hàng sẽ định kì thu lãi và gốc. Trong thời
gian khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm tra mục đích và hiểu quả sử dụng.
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản, an toàn đối với ngân hàng nhưng nếu
khách hàng có nhu cầu vay thêm vốn thì lại phải thực hiện quy trình lại một lần nữa và việc
quản lý hồ sơ và đánh giá tìn dụng khách hàng sẽ rắc rối hơn
* Cho vay theo hạn mức tín dụng là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng thỏa thuận cấp
cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kì
Hạn mức tín dụng được tính trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn vay,
nhu cầu vốn của khách hàng
Đối với mỗi nhu cầu sử dụng vốn khác nhau mà các bước xác định nhu cầu vốn vay khác
nhau.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay
thường xuyên tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh
Trong phương thức nay, ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ nên chủ động cho
khách hàng nhưng lại gây khó khăn cho ngân hàng trong việc quản lý , kiểm soát mục
đích, hiệu quả sử dụng vốn cũng như rủi ro cao trong quá trình thu nợ
* Cho vay trả góp là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép trả gốc theo nhiều lần
trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các
khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi
lần thường được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ.
Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dung thông qua hạn mức nhất định
Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp chính tài sản, hàng hóa mua trả
góp. Chính vì rủi ro cao hơn nên lãi suất cho vay cũng thường cao hơn các phương thức
khác
* Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian khác
Có hai loại hình cơ bản.
Thứ nhất là cho vay thông qua tổ chức trung gian:
B1: Ngân hàng phân tích tín dụng khách hàng trước khi vay
B2: Ngân hàng chuyển tiền vay cho khách hàng thông qua trung gian
B3: Tổ chức trung gian thực hiện chuyển tiền vay và thu nợ giúp ngân hàng
B4: Tổ chức trung gian trả nợ ngân hàng giúp khách hàng
Thứ hai là cho vay thông qua người bán lẻ
B1: Ngân hàng kí hợp động tín dụng với người vay
B2: Người vay mua hàng
B3: Người bán tập trung hóa đơn bán hàng gửi lên ngân hàng đề nghị thanh toán. Sau đó
ngân hàng thu nợ khách hàng
1.2.2. Phân loại theo mục đích sử dụng
Mục đích vay là yếu tố vô cùng quan trọng đối với một khoản vay. Nó giúp NH biết được
nhu cầu vay vốn, khả năng trả nợ của khách hàng, đánh giá mức độ rủi ro của khoản vay từ
đó ra các quyết định về lãi suất, giá trị khoản vay và thời hạn cho vay
Có rất nhiề mục đích sử dụng vốn khác nhau nhưng NHTM thường chia các khoản vay ra
thành hai nhóm bao gồm: cho vay tiêu dùng và cho vay sản xuất kinh doanh
- Cho vay tiêu dùng: là các khoản cho vay phục vụ các mục đích tiêu dùng như: mua, sửa
chữa nhà cửa, mua ô tô, du học,… Các khoản vay này phục vụ mục đích tiêu dùng nên
không tạo ra được dòng tiền. Chính vì vậy rủi ro thường lớn và NH thu nợ dựa trên thu
nhập của KH. Lãi suất các khoản vay này thường lớn và giá trị khoản vay thường bị giới
hạn
- Cho vay sản xuất kinh doanh: là các khoản vay phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh
của cá nhân, hộ gia đình hay doanh nghiệp. Các khoản tiền này được đầu tư và sinh lợi.
NH thu nợ dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh. Giá trị khoản vay thường được căn cứ
theo nhu càu vốn kinh doanh vì thế giá trị thường lớn và thời hạn cho vay cũng dài hơn
1.3. Vai trò của hoạt động cho vay đối với ngân hang thương mại và đối với sự phát
triển của nền kinh tế
1.3.1. Đối với nền kinh tế
Thứ nhất, cho vay là hoạt động cơ bản kết nối nguồn vốn nhãn rỗi với những người có nhu
cầu sử dụng vốn trong nên kinh tế. Cho vay làm tăng thu nhập của những người chưa có kế
hoạch sử dụng vốn và làm tăng năng lực cũng như hiệu quả hoạt động của những người
cần sử dụng vốn
Thứ hai, bằng hoạt động cho vay, ngân hàng thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế,
làm cho hoạt động tài chính phát triển, làm cơ sở cho tiền tệ lưu thông, tăng hiệu quả sử
dụng vốn cho nên kinh tế
Ngoài ra, thông qua lãi suất cho vay của ngân hàng, nhà nước có thể sử dụng lãi suất cho
vay như công cụ điều tiết nền kinh tế với các mục tiêu khác nhau hay thực hiện cơ cấu nền
kinh tế với việc sử dụng lãi suất ưu đãi với một số ngành nghề hay lĩnh vực nhất định
Tóm lại, hoạt động cho vay của các NHTM có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển
của các doanh nghiệp nói riêng và trong sự phát triển của nền kinh tế nói chung
1.3.2. Đối với hoạt động của ngân hàng thương mại
Không chỉ có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của một quốc gia, hoạt động
cho vay cũng đóng góp một vai trò vô cùng qua trọng đối với hoạt động của NHTM
Cho vay là hoạt động nền tảng của một ngân hàng. Nguồn thu chủ yếu của NHTM là từ
hoạt động cho vay. NHTM dùng nguồn thu này để trang trải chi phí hoạt động cũng như
tạo lợi nhuận cho ngân hàng
Đối với NHTM thì tiền được coi như một loại hàng hóa, hoạt động huy động tiền gửi như
là thương mại đầu vào và cho vay là thương mại đầu ra. Vì thế cho vay không chỉ đóng vai
trò mang lại lợi nhuận cho NHTM mà còn làm cơ sở cho việc lưu thông và hoạt động ổn
định của NHTM, cân đối lượng tiền trong ngân hàng
Hoạt động cho vay cũng là hoạt động thu hút nhiều khách hàng cho ngân hàng. Lượng
khách hàng này sẽ là cơ sở để ngân hàng thực hiện cung cấp các dịch vụ khác như: thẻ,
chuyển tiền, thanh toán…
Chính vì thế, việc phát triển hoạt động cho vay là cơ sở cho sự phát triển của NHTM
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng của tới hoạt động cho vay của ngân hang thương mại
Hoạt động cho vay cũng như các hoạt động khác của ngân hàng chịu tác động của rất nhiều
các yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài ngân hàng. Sau đây là một số những yếu tố có tác
động lớn tới hoạt động cho vay. Các yếu tố tác động được chia làm 2 nhóm. Nhóm những
yếu tố thuộc về môi trường và nhóm những yếu tố thuộc về nội bộ ngân hàng
1.4.1. Các yếu tố thuộc về môi trường
Nhóm yếu tố thuộc về môi trường bao gồm các yếu tố sau:
- Cung cầu về vốn trong nền kinh tế: Đối với hoạt động cuả một ngân hàng, đặc biệt là
hoạt động cho vay thì vốn chính là hàng hóa. Với loại hàng hóa đặc biệt này, ảnh hưởng
của yếu tố cung cầu vốn là vô cùng quan trọng. Khi mức độ cung cầu vốn lên cao, đây là
yếu tố thuận lợi cho việc phát triển hoạt động cho vay. Nó cũng cho thấy mức thu nhập
cũng như nhu cầu nền kinh tế tốt và phản ánh một nền kinh tế đầy triển vọng
- Mức độ hiệu quả của các kênh huy động vốn khác
Có rất nhiều kênh trung gian tài chính mà một nhà đầu tư có thể tiếp cận để huy động vốn
như: tổ chức tài chính, quỹ tín dụng hay thị trường chứng khoán. Nếu các kênh này hoạt
động tốt, người có nhu cầu vốn có nhiều hơn những lựa chọn cho hoạt động huy động vốn
vì thế mà hoạt động cho vay của ngân hàng trở nên khó khăn. Ngược lại, khi việc tiếp cận
các kênh trên gặp khó khăn, nhà đầu tư sẽ tìm tới ngân hàng nhiều hơn. Hoạt động cho vay
sẽ tốt hơn
- Chính sách của nhà nước về lãi suất và hoạt động cho vay của NHTM
Hoạt động cho vay của ngân hàng bị tác động rất lớn của chính sách nhà nước đặc biệt là
các chính sách liên quan tới lãi suất và những chính sách nhằm điều chỉnh hoạt động cho
vay của ngân hàng. Khi các chính sách này thông thoáng sẽ tạo điều kiện tích cực cho hoạt
động cho vay tăng trưởng
- Quan điểm của khách hàng về sử dụng vốn vay của ngân hàng
Quan điểm của khách hàng là một yếu tố quan trọng. Trong những thời kì mà nhà đầu tư
hay khách hàng cá nhân có cái nhìn tích cực về hoạt động cho vay của ngân hàng thì hoạt
động cho vay sẽ dễ dàng phát triển hơn
- Lạm phát và lãi suất thị trường
Lãi suất được coi là chi phí sử dụng vốn hay chính là giá cả của vốn vay. Theo đúng như
quy luật cung cầu của thị trường. Giá có quan hệ tỷ lệ thuận với cung và tỷ lệ nghịch với
cầu hàng hóa, với hoạt động cho vay cũng vậy. Khi lãi suất thị trường gia tăng, hoạt động
cho vay sẽ gặp khó khăn.
Một số yếu tố khác cũng có ảnh hưởng tới hoạt động cho vay như: giai đoạn phát triển của
nền kinh tế, đặc thù cũng như cơ cấu nền kinh tế, môi trường cạnh tranh giữa các
NHTM….
Đối với các yếu tố ảnh hưởng thuộc về môi trường là những yếu tố khách quan, nó không
thuộc phạm trù mà ngân hàng có thể thay đổi được. Vì thế trong hoạt động cho vay, ngân
hàng cần tiến hành nghiên cứu, dự báo, đánh giá và đưa ra những biện pháp đề phòng
những biến động của những yếu tố đó.
1.4.2. Các yếu tố thuộc về ngân hàng
Nhóm những yếu tố thuộc về nội bộ ngân hàng bao gồm:
- Mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng
Đối với một ngân hàng, mức độ tín nhiệm hay thương hiệu là vô cùng quan trọng. Lý do
bởi ngân hàng là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính, một trong những lĩnh vực
nhạy cảm, yêu cầu mức tin tưởng cao. Hơn thế nữa, các sản phẩm của ngân hàng thường
không có nhiều khác biệt, nên khác hàng thường lựa chọn ngân hàng và sử dụng sản phẩm
và dịch vụ mà ngân hàng mình tin tưởng. Vì thế đối với các ngân hàng, việc xây dựng hình
ảnh bền vững là vô cùng quan trọng
- Chất lượng dịch vụ ngân hàng
Chất lượng dịch vụ là tiêu chí hàng đầu giúp khách hàng đánh giá một ngân hàng và cũng
là yếu tố quan trọng trong xây dựng thương hiệu cho ngân hàng. Chất lượng dịch vụ sẽ
được phản ánh thông qua thái đó phục vụ của nhân viên, thủ tục hành chính mà khách hàng
tiếp cận, thời gian chờ đợi,… Việc hoàn thiện dịch vụ sẽ làm cơ sở cho khách hàng sử
dụng dịch vụ của ngân hàng cũng như lựa chọn ngân hàng cho hoạt động cho vay
- Quy định của ngân hàng về cho vay
Các quy định của ngân hàng về khả năng tiếp cận vốn vay, mức cho vay hay mức độ
phong phú trong sản phẩm cho vay là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động
cho vay của ngân hàng
Những yếu tố khác có ảnh hưởng như: Mức độ dồi dào về nguồn vốn cho vay, các chính
sách và phương tiện công nghệ thông tin hỗ trợ hỗ trợ khác,…
Các yếu tố thuộc về ngân hàng là những yếu tố chủ quan mà ngân hàng hoàn toàn có thể
thay đổi. Vì thế, để phát triển hoạt động cho vay, ngân hàng ngày càng phải hoàn thiện hơn
nữa nhằm thu hút và thỏa mãn khách hàng.
1.5. Quy trình cho vay của các ngân hàng thương mại
Các NHTM thường sử dụng mô hình qui trình khái quát bao gồm những bước sau:
B1: Tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng
Trong bước này, nhân viên tín dụng tiếp xúc với khách hàng, tìm hiểu nhu cầu vay vốn của
khách hàng và từ đó tư vấn cho khách hàng những sản phẩm cho vay phù hợp.
Sau đó nhân viên tín dụng hướng dẫn khách hàng làm hồ sơ thủ tục vay vốn ngân hàng và
tiếp nhận hồ sơ khi khách hàng hàng hoàn thiện hồ sơ vay vốn
B2: Thẩm định tín dụng
Hồ sơ khách hàng được chuyển tới để thẩm định. Nhân viên thẩm định thực hiện kiểm tra
tính trung thực của những thông tin mà khách hàng cung cấp. Các vấn đề về cá nhân khách
hàng, về tình hình tài chính và hoạt động của khách hàng. Nếu vay với mục đích kinh
doanh, nhân viên thẩm định phải tiến hành thẩm định dự án, xem xét giá trị tài sản đảm
bảo.
Sau quá trình thẩm định, nhân viên chịu trách nhiệm thẩm định sẽ đề nghị mức cho vay đối
với khách hàng
B3: Xét duyệt
Sau khi nhận được đề nghị cho vay của nhân viên tín dụng, người phụ trách hoạt động tín
dụng có thẩm quyền (thông thường là trưởng phòng tín dụng hoặc giám đốc chi nhánh, tùy
theo quy định của từng ngân hàng) thực hiện xem xét và duyệt hồ sơ cho vay.
Nếu hồ sơ không được chấp nhận, ngân hàng gửi lời từ chối tới khách hàng
B4: Ký hợp đồng tín dụng
Khi hồ sơ được chấp nhận, khách hàng và ngân hàng thực hiện kí hợp đồng tín dụng.
Trong hợp đồng sẽ ghi rõ giá trị của khoản vay, phương thức cho vay, phương thức giải
ngân, thời gian trả nợ, lãi suất, lãi phạt,…
B5: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng
Ngân hàng thực hiện hoạt động giải ngân cho khách hàng theo đúng phương thức và thời
gia đã ghi trong hợp đồng. Đồng thời ngân hàng thường xuyên kiểm tra hoạt động sử dụng
vốn của khách hàng có đúng mục đích và hiệu quả hay không.
B6: Thu nợ và đưa ra các phán quyết tín dụng
Ngân hàng tiến hành thu nợ như trong thỏa thuận của hợp đồng và có thể ra một số phán
quyết tín dụng khác như:
Nếu trong quá trình kiểm tra, ngân hàng phát hiện khách hàng sử dụng vốn sai mục đích thì
có thể xử phạt hoặc thu hồi nợ sớm
Nếu đánh giá khả năng thu hồi vẫn còn nhưng khách hàng chậm trả nợ theo hợp đồng ngân
hàng có thể ra quyết định cơ cấu lại khoản nợ
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM TRONG NHỮNG
NĂM VỪA QUA. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CHO VAY
2.1. Thực trạng hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Hoạt động cho vay là một phần của hoạt động tín dụng tại các NHTM. Xét kết quả hoạt
động tín dụng trong những năm vừa qua có rất nhiều biến động
Biểu đồ: Tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán trong 15 năm qua
Trên biểu đồ dữ liệu tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán của hơn 15 năm
trở lại đây, kết quả của năm 2011 tạo một điểm rơi rõ rệt, thấp hơn cả hai điểm trũng của
năm 1998 và 2002. Bản thân năm 2011, kết quả của nó cũng thấp hơn hẳn các chỉ tiêu đề
ra. Đầu năm, triển khai Nghị quyết số 11 của Chính phủ, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm
nay giới hạn dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15% - 16%. Thế nhưng, kết
quả ước tính lần lượt chỉ là 12% và 10%. Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh kết quả đó ở giá
trị kiềm chế lạm phát, ở khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế cải thiện. Tuy nhiên, mặt trái
của hai tỷ lệ quá thấp đó đến nay vẫn chưa được phân tích một cách rõ ràng và cụ thể. Còn
trên thực tế, đó là hai trở ngại lớn đối với nỗ lực giảm lãi suất, với khả năng tiếp cận vốn
của các doanh nghiệp.
Mặt khác lãi suất trần do nhà nước quy định cũng có nhiêu bất cập. Năm 2010, trần lãi suất
huy động VND 14%/năm . Đến năm 2011 nó diễn biến phức tạp và căng thẳng. Từ tháng 8
trở về trước, hiện tượng phá trần trở nên phổ biến gây méo mó, bất ổn trong hoạt động của
các ngân hàng thương mại. Từ tháng 8 trở về sau, trần lãi suất được làm nghiêm, gắn với
những quyết định xử phạt xôn xao trên thị trường, trong đó có cả dư luận về cái gọi là ngân
hàng “cài bẫy” ngân hàng. Thế nhưng, thời điểm cuối năm, chính thức và bên lề, thông tin
ngân hàng vượt trần lãi suất lại rộ lên và một lần nữa đặt ra yêu cầu vào cuộc, giám sát gắt
gao từ Ngân hàng Nhà nước
Điều này gây khó khăn rất lớn tới hoạt động cho vay của NHTM, hoạt động cho vay gặp
nhiều khó khăn nhưng vẫn có những bước tiến. Tăng trưởng cho vay vẫn đạt kế hoạch,
theo đó, quy mô tổng tài sản toàn hệ thống đến cuối tháng 10/2011 đạt 4.713,2 nghìn tỷ
đồng, tăng 13,5% so với cuối 2010. Trong khi khối nhà nước mặc dù có quy mô lớn nhất
nhưng tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với khối cổ phần. Cụ thể, thị phần khối nhà nước
giảm từ 47,6% năm 2009 xuống 41,3% năm 2010 và đến hết tháng 10/2011 chỉ còn
39%.Khối ngân hàng thương mại cổ phần đang thể hiện sự bứt phá mạnh mẽ: năm 2011,
tốc độ tăng trưởng khối này đạt mức 16,4% so với cuối 2010; thị phần năm 2009 là 41,2%,
năm 2010 là 44,3% và cuối tháng 10/2011 là 45,4%, trong khi thị phần khối ngân hàng
thương mại liên doanh và chi nhánh nước ngoài biến động “loanh quanh” 12%.
Đối với tăng trưởng tín dụng, những năm trước trung bình ở mức 35%/năm nhưng sang
2011, do thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô nên tính đến
cuối tháng 10/2011, dư nợ từ các tổ chức kinh tế và dân cư đạt 2,5 triệu tỷ đồng, tăng 9,1%
so với cuối 2010.
Nhờ đó mà hoạt động kinh doanh của các NHTM đạt tang trưởng tốt. Đến tháng
10/2011, tỷ lệ lợi nhuận trước thuế so với tài sản có (ROA) toàn hệ thống đạt 1,02% và lợi
nhuận/vốn chủ sở hữu (ROE) đạt 10,4%. Trong đó, ROA, ROE khối ngân hàng thương
mại nhà nước lần lượt là 1,02 và 13,05%; khối cổ phần: 1,03 - 10,8%; khối tổ chức tín
dụng nước ngoài: 1,16% - 6,9%; khối tổ chức tín dụng phi ngân hàng: 0,1% - 0,82%
Điều này cho thấy hoạt động cho vay gặp khó khăn nhưng vẫn phát triển do nhu cầu vốn
của nền kinh tế cao và từ đó hứa hẹn triển vọng của hoạt động này trong tương lai
2.2. Các sản phẩm cho vay của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
2.2.1. Giới thiệu chung về các sản phẩm cho vay của ngân hàng thương mại tại Việt
Nam
Cũng như tổ chức kinh tế khác, khi thực hiện cung cấp dịch vụ cho vay, NHTM phải xây
dựng cho mình những sản phẩm, dòng sản phẩm cho vay nhằm cung cấp các dịch vụ khác
nhau phục vụ các nhu cầu đa dạng của các nhóm đối tượng khác nhau.
Có nhiều cách để phân nhóm các sản phẩm cho vay nhưng các NHTM tại Việt Nam hiện
nay thường chia các sản phẩm cho vay theo đối tượng sử dụng dịch vụ. Từ đó các sản
phẩm cho vay được phân thành hai nhóm chính bao gồm: cho vay khách hàng cá nhân và
khách hàng doanh nghiệp. NH phân loại như vậy vì hai nhóm khách hàng này có những
đặc điểm khác nhau, nhu cầu về các sản phẩm cho vay cũng khác nhau. Với cách phân loại
này, NH cũng có thể biết được hành vi, thói quen tiêu dung và cách thức ra quyết định của
từng nhóm khách hàng từ đó có những biện pháp tiếp cận KH tốt hơn.
2.2.1.1. Cho vay khách hàng cá nhân
Các sản phẩm thuộc nhóm KH cá nhân được phân chia thành hai loại theo mục đích sử
dụng bao gồm: Cho vay tiêu dùng và cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh
a. Nhóm cho vay sản xuất kinh doanh
Nhóm cho vay sản xuất kinh doanh có mặt tại Việt Nam từ khá lâu. Hoạt động này trước
đây thường tập chung cho vay đối với các doanh nghiệp tư nhân, hiện nay hoạt động cho
vay này các ngày càng phổ biến với mục đích phát triển kinh doanh cá thể, hộ gia đình và
chiếm tỷ trọng lớn tại các vùng kinh tế mới phát triển.
Nhóm cho vay này thường bao gồm các sản phẩm như: cho vay hỗ trợ kinh doanh hộ gia
đình, vay tín chấp…
Một số ngân hàng còn thực hiện chia chúng thành các nhóm nhỏ hơn như: theo hình thức
tài trợ hoặc theo mục đích sử dụng.
Tại ngân hàng Agribank, còn có những sản phẩm cho vay hỗ trợ sản xuất kinh doanh nông
sản với lãi suất ưu đãi hơn.
b. Nhóm cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là khái niệm mới đối với nhiều người dân Việt Nam. Cho vay tiêu dùng
bắt đầu phát triển trong khoảng 5 năm trở lại đây khi thu nhập của người Việt Nam cao
hơn và văn hóa ‘tiêu dùng trước’ du nhập vào Việt Nam và ảnh hưởng mạnh mẽ tới giới
trẻ.
Dù chỉ mới vào VN nhưng các sản phẩm cho vay tiêu dùng được các NHTM VN phát triển
tương đối rộng. Các sản phẩm cho vay tiêu dùng hiện nay phục vụ hầu hết các nhu cầu tiêu
dùng cần sử dụng một lượng tiền lớn như: Mua, xây, sửa nhà cửa, chung cư, mua xe, du
học,… Một số ngân hàng cũng phát triển các dịch vụ rất đặc biệt như: sản phẩm cho vay
tiêu dùng dành riêng cho phụ nữ, sản phẩm cho vay xuất khẩu lao động, du lịch,
Tại Oceanbank có sản phẩm cho vay tiêu dùng dành cho phụ nữ Ladies shopping, tại
Sacombank có vay tiêu dùng Mỹ Tín cũng được dành riêng cho phái đẹp.
Một số ngân hàng như: Vietcombank, Sacombank, Agribank, … có gói sản phẩm tiêu dùng
dành riêng cho CNV trong ngân hàng hoặc trong công ty mẹ như hình thức thu hút KH từ
chính nội bộ doanh nghiệp kết hợp với chính sách ưu đãi với CNV. Các sản phẩm cho vay
tiêu dùng trong nhóm này thường được hưởng hạn mức tín dụng cao hơn với lãi suất thấp
hơn
Các sản phẩm cho vay tiêu dùng khá phong phú, nhắm vào nhiều ĐTKH tiêu biểu, chúng
khá thu hút khách hàng vì tính mới mẻ cũng như khả năng hỗ trợ mua sản phẩm tiêu dùng
trước khi KH có đủ tiền.
Nhưng bên cạnh đó, cho vay tiêu dùng cũng có nhiều mặt giới hạn. Thứ nhất là do khó tiếp
cận. Cho vay tiêu dùng thường được đảm bảo bởi thu nhập của khách hàng nên khách hàng
buộc phải có chứng minh về nguồn thu ổn định. Thứ hai là hạn mức cho vay thấp, thời hạn
cho vay ngắn. Và cuối cùng là lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn các hoạt động cho
vay khác
2.2.1.2. Cho vay với khách hàng doanh nghiệp
Cho vay với khách hàng doanh nghiệp là hoạt động cho phổ biến từ rất lâu tại các ngân
hàng thương mại của Việt Nam. Cùng với sự phát triển của kinh tế nói chung cũng như sự
phát triển của ngành NH, các sản phẩm cho vay với KH là doanh nghiệp ngày càng được
mở rộng
Trung bình một NHTM ở Việt Nam có từ 7 – 15 sản phẩm cho vay thuộc nhóm này với
nhiều tên gọi và mang một số đặc điểm khác nhau. Chúng được phân chia theo mục đích
sử dụng hoặc theo hình thức tài trợ
Với mục đích sử dụng thì có những mục đích phổ biến như: Tài trợ dự án, mua tài sản cố
định, tài trợ cho tài sản lưu động,…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét