Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

222330

Nguyễn Văn Vinh Đề án môn học
hiệu suất tạo việc làm cao hơn. Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở các doanh
nghiệp vừa và nhỏ gọn nhẹ, linh hoạt, công tác điều hành mang tính trực tiếp.
Quan hệ giữa nngời quản lý với ngời lao động khá chặt chẽ. Sự đình trệ, thua lỗ,
phá sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ảnh hởng rất ít hoặc không gây nên
khủng hoảng kinh tế- xã hội, đồng thời ít chịu ảnh hởng bởi các cuộc khủng
hoảng kinh tế dây chuyền.
Bên cạnh những lợi thế quan trọng, doanh nghiệp vừa và nhỏ có những bất
lợi so với doanh nghiệp lớn nh: nguồn vốn tài chính hạn chế. Cơ sở vật chất kĩ
thuật, trình độ thiết bị công nghệ thờng yếu kém, lạc hậu. Khả năng tiếp cận
thông tin và tiệp thị của các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế rất nhiều. Trình
độ quản lý ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế. Doanh nghiệp vừa và nhỏ
có năng suất lao động và sức cạnh tranh kinh tế thấp hơn nhiều so với các doanh
nghiệp lớn.
Đối với Việt Nam chúng ta, doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí vai trò tác
động kinh tế xã hội rất lớn đó là: Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số về mặt số
lợng trong tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và ngày càng gia tăng mạnh. ở
hầu hết các nớc, số lợng các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng trên dới
90% tổng số các doanh nghiệp. Tốc độ gia tăng số lợng các doanh nghiệp vừa và
nhỏ nhanh hơn các doanh nghiệp lớn. Nớc ta hiện nay cha có số liệu thống kê
chính xác các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhng hầu hết các nghiên cứu đều cho
rằng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam chiếm khoảng 80-90% số doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong sự tăng trởng
của nên kinh tế. Chúng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân
của các nớc trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50% GDP ở mỗi nớc. Việt
Nam, theo đánh giá của viện nghiên cứu Trung Ương, thì hiện nay, khu vực
Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 24% GDP. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có
tác động lớn vào kinh tế xã hội đó là giải quyết một số lợng lớn chỗ làm việc
Những giải pháp vĩ mô nhằm phát triển DNVvN ở Việt Nam
Nguyễn Văn Vinh Đề án môn học
cho dân c, làm tăng thêm thu nhập cho ngời lao động góp phần xoá đói giảm
nghèo. ở hầu hết các nớc, doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo việc làm cho khoảng 50-
80% lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Đặc biệt trong nhiều thời
kỳ, các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân thì khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ
lại thu hút thêm nhiều lao động hoặc có tốc độ thu hút lao động mới cao hơn
doanh nghiệp lớn. Việt Nam thì số lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
trong các lĩnh vực phi nông nghiệp hiện có 7,8 triệu ngời chiếm 79,2% tổng số
lao động phi nông nghiệp và chiếm 22,5% lực lợng lao động của cả nớc (theo
Viện nghiên cứu Trung Ương). Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần làm
năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trờng. Do lợi thế của qui mô nhỏ là năng
động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh
doanh có sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, hoà nhịp với đòi
hỏi uyển chuyển của nền kinh tế thị trờng, cho nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ
có vai trò to lớn góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trờng. Khu
vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút đợc khá nhiều vốn trong dân c. Do tính chất
nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào các ngõ ngách và yêu cầu số lợng vốn ban đầu
không nhiều, cho nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò rất lớn trong việc
thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớp dân c đầu t vào sản
xuất kinh doanh. Chúng tạo lập dần tập quán đầu t vào sản xuất kinh doanh và
hình thành khu vực mồi cho việc thực hiện có kết quả vấn đề huy động vốn
của dân c theo luật khuyến khích đầu t trong nớc. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
có vai trò to lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu vực
nông thôn. Hơn nữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần đáng kể vào việc thực
hiện đô thị hoá phi tập trung. Sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông
thông sẽ thu hút ngời lao động thiếu hoặc cha có việc làm và có thể thu hút số l-
ợng lớn lao động thời vụ trong các kỳ nông nhàn vào hoạt động sản xuất kinh
doanh, rút dần số lợng lao động nông nghiệp sang công nghiệp và làm việc ngay
tại quê hơng. Và nó hình thành khu tập trung là quá trình đô thị hoá phi tập trung.
Những giải pháp vĩ mô nhằm phát triển DNVvN ở Việt Nam
Nguyễn Văn Vinh Đề án môn học
Cuối cùng các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi ơm mầm các tài năng kinh doanh,
là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp làm quen với môi trờng kinh
doanh. Bắt đầu từ kinh doanh qui mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh
doanh quy mô vừa và nhỏ, một số nhà doanh nghiệp sẽ trởng thành lên thành
những nhà doanh nghiệp lớn tài ba, biết đa doanh nghiệp của mình nhanh chóng
phát triển. Các tài năng kinh doanh sẽ đợc ơm mầm từ các doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
Qua những lý luận ở trên chúng ta đã biết đợc doanh nghiệp vừa và nhỏ có
một vị trí rất quan trọng và vai trò rất lớn trong phát triển kinh tế xã hội của
một đất nớc. Vậy thực trạng phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt
Nam trong những năm qua nh thế nào?
Từ năm 1996 lại đây nhờ tác động tích cực của chủ trơng, các luật và phát
triển kinh tế nhiều thành phần nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ bớc sang giai
đoạn phát triển mới. Đó là giai đoạn không chỉ có sự tăng lên về số lợng các
doanh nghiệp vừa và nhỏ mà là có sự cơ cấu lại doanh nghiệp vừa và nhỏ, là sự
phát triển gắn với thị trờng hơn, hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc nâng cao hơn,
vai trò vị trí của nó trong nên kinh tế quốc dân đợc nâng cao hơn. Và bớc đầu đã
đạt đợc một số thành tựu đó là:
Số lợng các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc loại hình công ty t nhân, công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh với nớc ngoài tăng
lên nhanh. Năm 1986 cả nớc gần nh không có doanh nghiệp t nhân nào nhng đến
tháng 12/1994 cả nớc có 13.772 doanh nghiệp t nhân, 5.120 công ty trách nhiêm
hữu hạn, 133 công ty cổ phần, tỷ trọng giá trị tổng sản lợng công nghiệp tăng từ
15,6% (1986) lên 27,5% (1994). Các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới ra đời ở nớc
ta, từ năm 1986 đến nay phần lớn là các doanh nghiệp t nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh. Nhiều doanh nghiệp t nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn đợc hình thành trên cơ sở sắp xếp lại sản xuất, đổi
Những giải pháp vĩ mô nhằm phát triển DNVvN ở Việt Nam
Nguyễn Văn Vinh Đề án môn học
mới cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nớc và hợp tác xã. Qua điều tra 100 chủ
doanh nghiệp t nhân ở Hà Nội và 200 chủ doanh nghiệp t nhân đã từng là cán bộ
công nhân viên của Nhà nớc (ở Hà Nội 63%, ở Thành phố HCM 48%). Nhiều
doanh nghiệp vừa và nhỏ đã chuyển hớng mặt hàng, chuyển hớng điều kiện theo
nguyên tắc kế hợp chuyên môn hoá với đa dạng hoá trên cơ sở đổi mới công
nghệ, tăng cờng liên doanh, liên kết làm cho sản xuất kinh doanh thích hợp với
thị trờng tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Tổ chức sản xuất và tổ chức
quản lý đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, đã có
đổi mới theo hớng: Gắn với thị trờng, tạo đợc động lực phát triển, thiết thực, nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực
Nhà nớc đợc chủ động sản xuất xuất kinh doanh hơn trong nớc. Nhng bên cạnh
những thành tựu vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề đó là:
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều gặp vòng các khó khăn trở ngại chi phối
và gây ảnh hởng nhân quả cho nhau. Đó là: thị trờng hạn hẹp, không ổn định, vốn
ít, kĩ thuật công nghệ lạc hậu. Không có thị trờng nên không có nhu cầu đầu t và
đổi mới công nghệ. Vốn ít không đổi mới công nghệ nêu khả năng cạnh tranh sản
phẩm kém. Do đó không có thị trờng. Trong số các doanh nghiệp đợc hỏi về khó
khăn có 68,57% cho là khó khăn do thiếu vốn, 37,62% cho là khó khăn bởi
không có thị trờng. Phát triển và đổi mới các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn mang
tính tự phát và còn nhiều lúng túng. Nguyên nhân của tồn tại yếu kém trên, một
phần là do hạn chế về năng lực bản thân doanh nghiệp vừa và nhỏ, phần quan
trọng hơn là do cha có môi trờng kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Biểu hiện trên các mặt: Thiếu chính sách riêng cho doanh nghiệp vừa và
nhỏ, sự giúp đỡ của Nhà nớc tuy đã có nhng cha nhiều. Vì vậy để giải quyết khó
khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và thúc đẩy sự phát triển của các doanh
nghiệp này Nhà nớc phải có những chính sách vĩ mô đúng đắn để tạo thuận lợi
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nh: Tập hợp các giải pháp gồm: Chính sách tạo
Những giải pháp vĩ mô nhằm phát triển DNVvN ở Việt Nam
Nguyễn Văn Vinh Đề án môn học
hành lang pháp lí đồng thời đổi mới hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô gồm:
Chính sách tài chính Tín dụng; chính sách về thuế; chính sách về thơng mại và
công nghệ; chính sách công nghệ đào tạo và tổ chức mạng lới cung cấp dịch vụ
và thông tin.
Trớc hết chúng ta xem xét về hành lang pháp lý đó là: Hình thành và phát
triển các tổ chức quản lý Nhà nớc, tổ chức đại diện và tổ chức t vấn để hỗ trợ,
giúp đỡ quả lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối t-
ợng quản lý, đối tợng này rất đa dạng về ngành nghề, về sở hữu và thờng gặp khó
khăn về vốn, công nghệ kỹ thuật, thông tin. Hiện nay các doanh nghiệp vừa và
nhỏ đang bị phân tán quản lý bởi nhiều đầu mối. Ví dụ: Trên địa bàn Hà Nội, gần
200 doanh nghiệp vừa và nhỏ của công nghiệp Trung Ương chịu sự quản lý của
22 đầu mối và trên 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ của quốc doanh địa phơng do
13 đầu mối quản lý. Sự phân tán đầu mối đã gây ra tình trạng phân tán chồng
chéo, vừa nắm cái lẽ ra không cần nắm, vừa buông cái lẽ ra không đợc buông,
nhiều việc cần thiết ảnh hởng lớn đến sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Chẳng hạn qui hoạch phát triển chuyên ngành, giúp đỡ khó khăn về thị trờng,
chuyển giao công nghệ.
Trong quá trình phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần sự hỗ trợ từ
bên ngoài, cần có ngời bảo vệ quyền lợi và cần có ngời đại diện để nói lên tiếng
nói của mình. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải thực sự trở thành chủ thể kinh
doanh và đợc sự quản lý bằng pháp luật, chính sách. Vì vậy đã đến lúc phải đổi
mới, hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ theo
các hớng:
Tăng cờng quản lý Nhà nớc thông qua pháp luật, chính sách, xoá bỏ cơ
quan chủ quản. Cơ quan quản lý Nhà nớc đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ là
các bộ phận quản lý ngành và bộ phận quản lý chức năng. Hình thành, phát triển
các tổ chức t vấn, hỗ trợ giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên các lĩnh vực:
Những giải pháp vĩ mô nhằm phát triển DNVvN ở Việt Nam
Nguyễn Văn Vinh Đề án môn học
xuất khẩu, tài chính chuyển giao công nghệ, đào tạo. Phát triển các tổ chức đại
diện theo ngành và theo các loại hình sở hữu để vừa bảo vệ quyền lợi, vừa giúp đỡ
lẫn nhau, vừa nói lên tiếng nói của ngời chủ, ngời lao động và tham mu cho Nhà
nớc trong xây dựng qui hoạch, chính sách liên quan đến ngành mình. Đồng thời
phải tăng cờng và đổi mới quản lý Nhà nớc đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhà nớc đã ban hành một số luật và chính sách liên quan đến phát triển và
quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ nh: Luật doanh nghiệp t nhân; Luật công ty;
Luật đầu t trong nớc và nhiều chính sách liên quan. Song so với yêu cầu thì
công tác quản lý Nhà nớc còn cần phải làm nhiều việc đúng tầm hơn. Trong
những năm tới Nhà nớc cần chú ý vấn đề sau:
Hoàn thiện hệ thống luật liên quan đến doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các
thành phần kinh tế nh Luật Hợp Tác Xã; Luật doanh nghiệp Nhà nớc. Hoàn thiện
chiến lợc phát triển kinh tế xã hội hiện nay và xây dựng chiến lợc phát triển kinh
tế xã hội đến năm 2010. Trên cơ sở chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội cho
các vùng, ngành. Đây là cơ sở để định hớng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hoàn thiện, đổi mới các chính sách phát triển và quản lý các doanh nghiệp vừa và
nhỏ theo hớng đồng bộ, thể hiện sự gắn bó giữa chủ trơng phát triển với qui mô
và qui hoạch phát triển từng ngành với chính sách, biện pháp thực hiện. Tính
đồng bộ của chính sách không chỉ thể hiện ở số lợng các chính sách phải đủ và
đồng bộ để thực hiện sự ăn nhịp và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Tóm
lại Nhà nớc phải tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động
bằng cách nghiên cứu ban hành các bộ Luật và các văn bản pháp qui để bổ sung,
hoàn chỉnh môi trờng pháp luật về kinh doanh. Chính phủ phải thống nhất sự
quản lý, kiểm tra, giám sát, hỗ trợ và cáp giấy phép cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
hoạt động. Đồng thời qui định các thủ tục hành chính theo hớng cải tiến, giảm
bớt phiền hà các chủ đầu t thành lập doanh nghiệp vừa và nhỏ. áp dụng các biện
pháp kiên quyết và có hiện quả nhằm ngăn chặn hàng lậu, khuyến khích sản xuất
Những giải pháp vĩ mô nhằm phát triển DNVvN ở Việt Nam
Nguyễn Văn Vinh Đề án môn học
trong nớc để tạo điều kiện cho doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển và phải xử lý
nghiêm minh các doanh nghiệp vừa và nhỏ vi phạm pháp luật. Cùng với sự tạo
lập hành lang pháp lý Nhà nớc phải có sự đổi mới các chính sách kinh tế vĩ mô
đó là:
Về chính sách tài chính - tín dụng: Nhà nớc cho phép đa dạng hoá các
nguồn vốn, để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội huy động vốn vào sản
xuất-kinh doanh. Nhà nớc cần phải dành phần tích luỹ hàng năm từ 30% đến
40% GDP để đầu t vào cơ sở hạ tầng và vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông
qua hệ thống tài chính tín dụng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải huy
động vốn bằng các con đờng nh: Huy động vốn trong nhân dân và để huy động đ-
ợc nguồn vốn trên, ngoài chính sách lãi suất hợp lý, cần phải ổn định nền kinh tế
đồng thời giải toả đợc tâm lý lo sợ sự mất giá của đồng tiền. Phải huy động đợc
nguồn vốn nhàn rỗi của các loại hình doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh.
Ngoài sự huy động vốn trong nớc thì nguồn vốn nớc ngoài cũng phải đợc tận
dụng. Thông qua liên doanh, liên kết, đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam, để
tăng nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh. Tận dụng nguồn vốn ODA để nâng cấp
cơ sở hạ tầng giúp các doanh nghiệp có cơ hội hoà nhập vào thị trờng chung của
đất nớc và quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích Việt Kiều đầu t về n-
ớc và tận dụng nguồn vốn mà Việt Kiều ở nớc ngoài gửi về cho thân nhân trong
nớc. Để thực hiện giải pháp nêu trên, trớc mắt chúng ta tập trung vào một số biện
pháp cụ thể sau: Cho phép các doanh nghiệp làm ăn có hiệu qua phát hành cổ
phiếu trong nội bộ doanh nghiệp, nhằm thu hút vốn nhàn rỗi của ngời lao động.
Từng bớc hình thành thị trờng chứng khoán ở các đô thị lớn, tiến tới thị trờng
chứng khoán ở các vùng đô thị lớn và trên địa bàn cả nớc. Lập quĩ quốc gia hỗ trợ
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quy định tỷ lệ tín dụng tối thiểu dành cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ đối với các ngân hàng thơng mại (ngân hàng thơng mại). Hình
Những giải pháp vĩ mô nhằm phát triển DNVvN ở Việt Nam
Nguyễn Văn Vinh Đề án môn học
thành các tổ chức tài chính, ngân hàng chuyên hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
phát triển thông qua các biện pháp cho vay vốn, thanh toán thơng mại.
Việc thực hiện các giải pháp huy động vốn trong nớc đã thực hiện khá
mạnh mẽ trong những năm qua thông qua các công cụ nh thuế, lãi suất Nhờ đó
trong những năm qua sản xuất trong nớc phát triển mạnh mẽ, tỷ lệ tiết kiệm đầu
t toàn xã hội đạt là 444.585,6 tỷ đồng. Nhng chính sách huy động vốn còn nhiều
trở ngại là cha tạo đợc điều kiện thông thoáng trong việc huy động vốn cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mặc dù tính đến thời điểm hiện tại Nhà nớc đã cho
phép các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có thể vay theo hình thức
tín chấp. Nhng trong thực tế hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể vay
theo hình thức này vì không có tổ chức đại diện đứng ra bảo lãnh
Còn vòng quay theo hình thức thế chấp thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại
không có đủ tài sản thế chấp cho ngân hàng, trong khi đó lại cha có một tổ chức
tín dụng nào chuyên doanh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nớc ta, laịi có sự
phân biệt đối xử giữa các Doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp ngoài quốc
doanh. Ngoài ra việc cha có hệ thống bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ đã làm cho doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể tiếp cận
đợc với các khoản tín dụng trung và dài hạn từ hệ thống tài chính chính thức.
Về chính sách thuế: Chúng ta đã áp dụng thuế giá trị gia tăng ở các doanh
nghiệp đã đăng ký thành lập hầu hết các hệ thống VAT đều thực hiện miễn đóng
thuế đối với doanh nghiệp quá nhỏ. VAT đợc thu đối với tất cả các các giai đoạn
sản xuất và miễn thuế đối với doanh nghiệp siêu nhỏ. Đây cũng chính là một
trong những u việt của thuế giá trị gia tăng. Hiện nay ở Việt Nam mức VAT nên
nằm trong khoảng 5% ữ 10% là phù hợp. Sau một thời gian sản xuất phát triển có
thể nâng mức VAT từ 10% lên 15%, đồng thời loại bỏ thuế vốn, thuế lợi tức, các
điều tiêt tiếp theo là sử dụng thuế thu nhập. Đồng thời đơn giản hoá các thủ tục
Những giải pháp vĩ mô nhằm phát triển DNVvN ở Việt Nam
Nguyễn Văn Vinh Đề án môn học
hành chính về thuế. áp dụng chế độ thuế khoán theo sự kê khai của chủ doanh
nghiệp về mức doanh thu và mức chịu thuế đối với doanh nghiệp đang hoạt động
theo quy định 66/HĐBT, kết hợp với kinh nghiệm quản lý của cơ quan thuế để
xác định mức thuế. Doanh thu có thể tính theo từng tháng hoặc từng quý, tuỳ
theo tình hình sản xuất kinh doanh. Cơ quan quản lý thuế có định kỳ hoặc đột
xuất kiểm tra hoá đơn, sổ sách kế toán để xác định mức thuế cho đúng luật, nhng
một năm không quá 2 lần ở một doanh nghiệp. Việc thu thuế đối với các doanh
nghiệp hoạt động theo các luật định có thể thực hiện trực tiếp bằng cách chủ
doanh nghiệp nộp cho kho bạc địa phơng, trên cơ sở đó có sự xác nhận của cơ
quan thuế về mức thuế phải nộp, để quản lý bớt lực lợng cán bộ thuế. Đối với các
doanh nghiệp hoạt động theo Nghị định 66/HĐBT, có thể nộp trực tiếp cho cơ
quan thuế trên cơ sở có hoá đơn hợp lệ. Cuối cùng là phải có chính sách miễn
giảm thuế rõ ràng, để giảm bớt phiền hà trong việc nộp thuế ở những ngành nghề,
lĩnh vực u tiên đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy vậy vẫn còn những vớng
mắc có ảnh hởng lớn đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí có doanh
nghiệp còn cho rằng nếu thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế thì chắc chắn lợi
nhuận sẽ âm hoặc bằng không. Chính vì vậy tình trạng trốn thuế xảy ra khá nhiều
và đặc biệt là khu vực ngoài quốc doanh. Và các quy định về thuế vẫn rất rờm rà,
rắc rối, phức tạp, thuế xuất nhiều khi bị trùng lặp hoặc thậm chí bình đẳng. Đơn
cử nh luật thuế thu nhập doanh nghiệp, tuỳ từng mức độ u đãi cho từng ngành
nghề mà doanh nghiệp đầu t nớc ngoài hởng thuế suất 20%; 15% và 10%. Trong
khi đó doanh nghiệp trong nớc. Chịu mức thuế là 32%; 25%, 20% và 15%. Đồng
thời lại cha có cơ chế chính sách động viên và tạo nguồn thu. Nhiều khi các
doanh nghiệp thuộc đối tợng đợc miễn giảm thuế nhng vẫn tìm cách trốn thuế
hơn là xin đợc chế độ miễn giảm. Tình hình này nói lên chính sách khuyến khích
và miễn giảm của chúng ta cần phải đổi mới hơn cho phù hợp.
Những giải pháp vĩ mô nhằm phát triển DNVvN ở Việt Nam
Nguyễn Văn Vinh Đề án môn học
Về chính sách công nghệ đào tạo: Trớc hết phải thành lập các trung tâm
hỗ trợ chuyển giao công nghệ nhà nớc hoặc t nhân ở các vùng, các trung tâm này
có nhiệm vụ cung cấp các thông tin về kỹ thuật công nghệ, thực hiện các dịch vụ,
t vấn và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, kiểm định chất l-
ợng, giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận đợc với kỹ thuật, công nghệ hiện
đại, khắc phục tình trạng thông tin về kỹ thuật, công nghệ và nhập khẩu thiết bị,
máy móc lạc hậu Mặt khác, các trung tâm này cần phối hợp với các trung tâm
nghiên cứu ứng dụng của vùng hoặc trung ơng, các doanh nghiệp nghiên cứu cải
tiến đổi mới thiết bị, kỹ thuật, công nghệ của hệ thống trung tâm này, không phân
biệt đó là trung tâm do Nhà nớc hay t nhân thành lập mà tuỳ thuộc lĩnh vực trung
tâm hoạt động có thuộc những ngành nghề mà nhà nớc u đãi phát triển hay
không. Và để đảm bảo năng lực hoạt động của hệ thống trung tâm này, đòi hỏi có
sự giám sát chặt chẽ của bộ khoa học công nghệ và môi trờng. Mặt khác các
doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng nghiên cứu ứng dụng, cải tiến máy móc,
thiết bị cũng nh nghiên cứu ứng dụng ở các vùng trong một số ngành kinh tế nhất
định hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ứng dụng kết quả nghiên cứu một cách
nhanh nhất. Việt Nam ta mặc dù có rất nhiều tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp vừa và
nhỏ trong và ngoài nớc nhng đa số các tổ các chính sách này hoạt động vì lợi ích
riêng. Chính vì vậy, có rất ít doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn tham gia, hoặc nhận
sự t vấn, hớng dẫn của các tổ chức này. Trong khi đó nhu cầu về thông tin,
chuyển giao công nghệ phổ biến kiến thức là rất lớn và cần có sự hỗ trợ tích
cực của Nhà nớc. Bên cạnh đó chúng ta cha có những chính sách riêng cho các
doanh nghiệp này về đào tạo nâng cao năng lực quản lý, kỹ thuật, về công nghệ
thiết bị cha có những biện pháp hữu hiệu, cụ thể rõ ràng để trợ giúp kinh phí
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện đại hoá trang thiết bị tiến tiến. Qua thực
trạng này ta thấy cần có một chính sách công nghệ, đào tạo tốt nhằm giúp đỡ các
doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển.
Những giải pháp vĩ mô nhằm phát triển DNVvN ở Việt Nam

Xem chi tiết: 222330


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét