Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu phải đại diện cho
vùng nghiên cứu trên phương diện điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và đặc điểm
sinh thái vùng.
Căn cứ vào tình hình đặc điểm cụ thể của vùng nông thôn Hà Tĩnh, và năng
lực của cá nhân tác giả chọn Huyện Thạc Hà làm địa điểm nghiên cứu.
Thạch Hà là một huyện thuộc vùng ven biển của Hà Tĩnh, cách trung tâm
tỉnh lỵ 5km. Đây là một huyện vừa có biển, đồng bằng và miền núi, hoạt động sản
xuất bao gồm: đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, trồng trọt, làm muối. Hộ thuần
nông của toàn huyện chiếm 60%, hộ chuyên ngành dịch vụ chiếm hơn 10%, hộ
nông kiêm ngành dịch vụ chiếm 20%, hộ chuyên ngư chiếm 5%, hộ diêm nghiệp
chiếm 5%.
Căn cứ vào đặc điểm kinh tế của sự phân vùng địa lý và sinh thái, tác giả
chọn 6 xã đại diện cho 3 vùng nghiên cứu giải quyết việc làm ở nông thôn Hà Tĩnh
bao gồm: đại diện cho vùng ven biển: xã Thạch Hải, xã Thạch Văn; đại diện cho
vùng đồng bằng: Thạch Việt, Thạch Kênh ; đại diện cho vùng núi: xã Thạch Vĩnh,
Thạch Ngọc.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu được trình bày dưới dạng câu hỏi:
Thực trạng lao động việc làm ở nông thôn Hà Tĩnh hiện nay như thế nào?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay ở nông thôn Hà Tĩnh còn hơn 70.000 lao động thiếu việc làm. Lao
động thiếu việc làm và có thời gian nhàn rỗi cao chủ yếu tập trung ở miền núi và
vùng ven biển. Chất lượng nguồn lao động nông thôn chủ yếu là chưa qua đào tạo
lao động chân tay là chính…Thời gian qua tỉnh Hà Tĩnh đã thực hiện nhiều giải
pháp giải quyết việc làm như: phát triển kinh tế xã hội, tạo nguồn và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn, đào tạo nghề cho người, xuất khẩu lao động…Tuy nhiên giải
quyết việc làm ở nông thôn Hà Tĩnh còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế chưa đáp
ứng được nhu cầu của người dân.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
8. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Nghiên cứu tài liệu: Sinh viên tiến hành thu thập thông tin, tài liệu, số liệu liên
quan đến đề tài. Những số liệu được thu thập từ các nguồn khác nhau như: Cục
thống kê Hà Tĩnh, điều tra lao động và việc làm, số liệu từ các báo cáo sơ kết, tổng
kết của Sở Lao động thương binh và xã hội Hà Tĩnh và một số sách báo, tài liệu
khác…
- Khảo sát thực tế: sinh viên tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi các đối tượng liên
quan là các hộ gia đình ở nông thôn để làm rõ thực trạng việc làm ở nông thôn.
- Tổng hợp phân tích: dựa trên việc nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài và việc
tìm hiểu thực tế ở địa phương sinh viên tiến hành phân tích tổng hợp vấn đề từ đó
đưa ra giải pháp cho việc giải quyết việc làm ở nông thôn Hà Tĩnh.
9. Kết cấu của Khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương,
6 tiết:
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan trực tiếp đến giải quyết việc làm
1.1.1. Khái niệm liên quan đến lao động và người lao động
1.1.2. Khái niệm về việc làm và giải quyết việc làm
1.1.3. Khái niệm thất nghiệp và thiếu việc làm
1.2. Đặc điểm lao động, việc làm ở nông thôn
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.
1.3.1. Nhân tố liên quan đến chính sách
1.3.2. Nhân tố liên quan đến giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ
1.3.3. Nhân tố về dân số
1.3.4. Nhân tố quốc tế
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾTVIỆC LÀM
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HÀ TĨNH.
2.1. Tông quan về địa bàn nghiên cứu
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội
2.2. Thực trạng lao động, việc làm ở nông thôn Hà Tĩnh.
2.2.1. Hiện trạng lao động, việc làm nói chung
2.2.2. Tình hình thiếu việc làm hiện nay ở Hà Tĩnh
2.3. Những giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn ở Hà Tĩnh trong thời gian tới
2.3.1. Các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế
2.3.2. Giảm sức ép về nhu cầu giải quyết việc làm ở Hà Tĩnh
2.3.3. Nâng cao trình độ nguồn nhân lực
2.3.4. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động
2.3.5. Tăng cường sự quản lý nhà nước về lao động, củng cố và phát triển
hệ thống sự nghiệp giải quyết việc làm.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan trực tiếp đến giải quyết việc làm
Việc làm và giải quyết việc làm luôn luôn là mối quan tâm của toàn xã hội,
đặc biệt là đối với người lao động nói chung và đối với người lao động nông thôn
nói riêng. Để có những chính sách, biện pháp phù hợp trong giải quyết việc làm
cho người lao động chúng ta cần làm rõ được một số khái niệm liên quan đến đề
tài:
1.1.1. Khái niệm liên quan đến lao động và người lao động
- Lao động:
Trong lời nói đầu của Luật lao động đã ghi rõ: “ Lao động là hoạt động quan
trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội.
Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát
triển của đất nước”. [5,1]
Với ý nghĩa này, chúng ta có thể hiểu hoạt động của con người ở đây như là
những công nhân đang làm việc ở nhà máy, công trường; những người nông dân
đang làm việc trên đồng ruộng; những cán bộ, công chức, nhân viên làm việc trong
các cơ quan, đơn vị, xí nghiệp; những người hoạt động nghệ thuật…
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Người lao động:
Người lao động là những người trong độ tuổi lao động theo quy định của
pháp luật. Trong Bộ Luật lao động ghi rõ: “Người lao động là người ít nhất đủ 15
tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động” [5, điều 6].
Trong Luật lao động không quy định độ tuổi của người lao động, tuy nhiên
trong các văn bản luật pháp khác liên quan như Luật bảo hiểm xã hội, Luật công
chức… đã có quy định tuổi lao động đối với nam là đủ 60 tuổi và nữ đủ 55 tuổi.
Đây là quy định chung cho mọi lao động ở các ngành, các lĩnh vực khác nhau.
Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thì thực tế người lao động có thể
tham gia lao động độ tuổi còn thấp hơn 15 tuổi vầ cao hơn 60 tuổi đối với nam và
55 tuổi đối với nữ.
- Lực lượng lao động
Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về lực lượng lao động
Từ điển thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Liên Xô (cũ) (1977): lực
lượng lao động là khái niệm định lượng của nguồn lao động.
Từ điển thuật ngữ Pháp (1977-1985): lực lượng lao động là số lượng và chất
lượng những người lao động được quy đổi theo các tiêu chuẩn trung bình về khả
năng lao động có thể sử dụng.
Theo quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO): Lực lượng lao động là
một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế đang có việc làm và những
người thất nghiệp.
Từ những quan niệm trên có thể đưa ra quan niệm về lực lượng lao động
như sau: lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên đang
có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm
việc.
Từ những khái niệm trên ta có thể đưa ra khái niệm lao động nông thôn như
sau: lao động nông thôn là những người trong độ tuổi lao động do luật quy định
nhưng sống và làm việc trong khu vực nông thôn trong đó chủ yếu là những nông
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
dân chuyên sản xuất nông nghiệp, những người làm nghề thủ công, buôn bán nhỏ,
các hoạt động dịch vụ ở nông thôn…
- Thị trường lao động
Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường định
hướng chủ nghĩa xã hội thì thuật ngữ “Thị trường lao động” đã được nhiều nhà
nghiên cứu đề cập đến với nhiều khái niệm khác nhau.
Giáo trình giảng dạy của khoa Kinh tế lao động trường Đại học kinh tế quốc
dân Hà Nội đưa ra khái niệm về thị trường lao động như sau:
- Là không gian trao đổi tiến tới thỏa thuận giữa người sở hữu sức lao động và
người cần có sức lao động để sử dụng.
- Là mối quan hệ xã hội giữa người lao động có thể tìm việc làm để có thu nhập và
người sử dụng lao động để có thể thuê được công nhân bằng cách trả công để tiến
hành sản xuất kinh doanh.
- Là toàn bộ quan hệ kinh tế hình thành trong lĩnh vực thuê mướn lao động.
Theo ILO: “thị trường lao động là thị trường trong đó các dịch vụ lao động
được mua và bán thông qua một quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao
động cũng như mức độ tiền công tiền lương”.[13,22]
Các nhà khoa học Mỹ cho rằng: “Thị trường mà đảm bảo việc làm cho người
lao động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm, thì được gọi là thị trường
lao động”. [13,22]
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều
thống nhất với nhau về những nội dung cơ bản để hình thành nên thị trường lao
động đó là không gian, người cần bán sức lao động, người cần mua sức lao động,
giá cả sức lao động và những ràng buộc giữa các bên về nội dung này.
Thị trường sức lao động ở nông thôn thực tế đã có từ lâu nhưng kém phát
triển. Hình thức trao đổi sức lao động diễn ra tự phát theo quan hệ truyền thống
trong cộng đồng, thiếu một cơ chế điều tiết thống nhất, và không được pháp chế
hóa. Vì vậy giá trị cộng lao động thường được đánh giá theo thỏa thuận trực tiếp,
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
việc thanh toán kết hợp cả giá trị và hiện vật. Quan hệ thuê mướn dựa trên mối
quan hệ thân quen là chủ yếu, vừa kết hợp làm thuê, vừa theo thời vụ. Lao động
thủ công cơ bắp là chính. Một số nơi do chưa phát triển ngành nghề, dẫn đến dư
thừa lao động, nhất là thời vụ nông nhàn, người lao động phải đi làm thuê vùng
khác, xã khác hoặc ra đô thị tìm kiếm việc làm.
1.1.2. Khái niệm về việc làm và giải quyết việc làm
- Việc làm
Giải quyết việc làm cho lao động xã hội là một trong những nội dung cơ bản
của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được toàn thế giới cam kết trong tuyên bố
về chương trình hành động toàn cầu.
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm việc làm:
Việc làm đã được ILO quan tâm ngay từ khi nó được thành lập năm 1919.
Theo ILO “ Việc làm là những hoạt động được trả công bằng tiền và hiện vật”[12]
Quan điểm xem xét việc làm như một tế bào, một đơn vị nhỏ nhất phân chia
từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cho rằng: “ Việc làm là một phạm trù để
chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, hoặc những phương
tiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần của xã hội”.
Những năm gần đây, tiếp thu có chọn lọc các khái niệm của Tổ chức Lao
động quốc tế (ILO) và một số nước lân cận, nước ta đã có những thay đổi trong
quan niệm về việc làm. Bộ luật Lao động ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra
nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [5, điều
13].
Ngoài những khái niệm trên còn có rất nhiều khái niệm về việc làm được các
nhà nghiên cứu đưa ra như:
Tác giả Đặng Xuân Thao trong cuốn sách “Mối quan hệ giữa dân số và việc
làm” đã định nghĩa việc làm như sau: “Việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp
luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho người thân,
gia đình hoặc cộng đồng”. [12,11]
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Liên quan chặt chẽ với khái niệm việc làm, hai tác giả Nguyễn Hữu Dũng và
Trần Hữu Trung trong cuốn sách “ Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”
đã đưa ra khái niệm về người có việc làm như sau: “Người có việc làm là người
đang làm việc trong những lĩnh vực ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị
pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình”. [8,9]
Tác giả TS Chu Tiến Quang và cộng sự trong cuốn “Việc làm ở nông thôn”
đã đưa ra khái niệm như sau: “ Việc làm có thể được hiểu ở hai trạng thái “tĩnh”
và “động”. Ở trạng thái “tĩnh” việc làm chỉ nhu cầu sử dụng sức lao động và các
yếu tố vật chất kỹ thuật khác nhằm mục đích tạo ra thu nhập hoặc kết quả có ích
cho cá nhân, cộng đồng… Ở nghĩa “động” thì việc làm là hoạt động của dân cư
nhằm tạo ra thu nhập có lợi cho cá nhân hoặc cộng đồng trong khuôn khổ pháp luật
cho phép”. [18,10]
Như vậy từ các khái niệm trên việc làm có thể được hiểu như sau: Việc làm
là hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc lợi ích cho
bản thân, gia đình người lao động hoặc cho một cộng đồng nào đó.
Với cách hiểu trên, nội dung của khái niệm việc làm được mở rộng và tạo ra
khả năng to lớn giải phóng sức lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người lao
động được tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết để tạo việc làm và tự do thuê
mướn lao động theo luật pháp của nhà nước để tạo việc làm cho mình và thu hút
thêm lao động xã hội theo quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường.
- Việc làm tự tạo:
Đây là khái niệm mới được đưa ra từ TS Lê Xuân Bá và các cộng sự trong
đề tài “ Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn
Việt Nam” (Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài khoa học do Viện nghiên cứu quản
lý kinh tế trung ương thực hiện 2006)
Theo nhóm tác giả này thì các hoạt động được xem là việc làm tự tạo “liên
quan đến sự quản lý và sở hữu một cơ sở sản xuất các hàng hóa và dịch vụ”. Ví dụ
những người có xưởng sản xuất, cửa hàng, cửa hiệu…chỉ có trách nhiệm với chính
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
bản thân họ. Báo cáo đề tài này cũng nói rõ thêm: ở các nước đang phát triển, sự
phân chia giữa lao động làm công ăn lương và việc làm tự tạo nhiều khi không rõ.
Có một khoảng trùng lặp giữa lao động được trả và lao động tự trả công mà ở đó
các hoạt động này có thể được xem là lao động được thuê vừa có thể là lao động tự
thuê.
Với ý nghĩa của khái niệm này, liên hệ với nông nghiệp, nông thôn có thể
thấy việc làm tự tạo trong nông nghiệp, nông thôn là rất lớn và rất quan trọng.
Tuyệt đại bộ phận nông dân làm việc trên đồng ruộng đều là những lao động tự trả
công hay nói một cách khác là người nông dân là những người tự tạo ra việc làm.
Đây là điều rất có ý nghĩa trong nghiên cứu tìm giải pháp giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn.
- Việc làm ổn định:
Có thể nói, đến nay chưa có khái niệm về việc làm ổn định. Tuy nhiên trong
thực tế tại nhiều văn bản, báo cáo của chính phủ, các bộ, ngành thì cụm từ việc làm
ổn định đã được đề cập đến rất nhiều. Chúng ta vẫn thường nói: cần phải tạo việc
làm ổn định cho người lao động. Nhưng thế nào là việc làm ổn định? Tiêu chí nào
để xác định đó là việc làm ổn định?
Qua sự phân tích ở trên và qua thực tế, tác giả đưa ra khái niệm về việc làm
ổn định đó là những công việc mà người lao động có thể làm việc trong một thời
gian dài, có mức thu nhập (tiền công) đảm bảo cho cuộc sống người lao động và
cho con cái họ và có tích lũy. Trong nông nghiệp, nông thôn, đó là việc làm quanh
năm với thu nhập cao.
Từ các khái niệm về việc làm trên đây có thể đưa ra khái niệm giải quyết
việc làm như sau:
Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho
mọi người có khả năng lao động có cơ hội làm việc với chất lượng việc làm ngày
càng cao.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Như vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
người lao động ở chỗ tạo ra việc làm cho người lao động để họ có thể nuôi sống
bản thân, gia đình và góp phần xây dựng quê hương đất nước.
1.1.3. Khái niệm thất nghiệp và thiếu việc làm
Để giải quyết việc làm những khái niệm quan trọng cần phải làm rõ đó là
khái niệm thất nghiệp và thiếu việc làm.
a. Thất nghiệp
Theo định nghĩa của Aigred Sanvy: “Người thất nghiệp là người khỏe mạnh,
muốn lao động để kiếm sống nhưng không tìm được việc làm”.
Theo quan điểm khác: một người được coi là thất nghiệp, nếu người đó
không có việc làm và đang cố gắng đi tìm việc làm nhưng không tìm được trên thị
trường.
Cũng có quan điểm cho rằng: thất nghiệp là hiện tượng gồm người mất thu
nhập, do không có khả năng tìm được việc làm trong khi họ còn trong độ tuổi lao
động có khả năng lao động muốn làm việc và đã đăng ký ở cơ quan môi giới về lao
động nhưng chưa được giải quyết.
Như vậy những người thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc lực lượng lao động
hay dân số hoạt động kinh tế.
Người được coi là thất nghiệp phái có 3 tiêu chuẩn:
+ Đang mong muốn và tìm việc làm
+ Có khả năng làm việc
+ Hiện đang chưa có việc làm
Với cách hiểu như thế, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhưng chưa làm
việc đều được coi là thất nghiệp. Do đó một tiêu chuẩn quan trọng để xem xét một
người được coi là thất nghiệp thì phải biết được người đó có muốn đi làm việc hay
không. Bởi lẽ trên thực tế nhiều người có sức khỏe, có nghề nghiệp song không có
nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu nhờ sự trợ cấp của gia đình, hay các nguồn tài
trợ khác…
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét