5
24/11/2000 của Bộ Văn hóa thông tin ( nay là Bộ Văn hóa- thể thao và du
lịch).
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ giới thiệu những nét
khái quát nhất về chùa Yên Đông mà chưa đi sâu vào nghiên cứu những giá
trị văn hóa nghệ thuật tiềm ẩn ở trong đó. Dù vậy, đây là những nguồn tài liệu
quý để tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các giá trị văn
hóa, nghệ thuật chùa Yên Đông.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
*.Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ một số vấn đề:
- Những giá trị văn hóa, nghệ thuật tiêu biểu của chùa Yên Đông trong
kiến trúc, điêu khắc, nghi lễ tôn giáo và một số di vật tiêu biểu.
- Đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nghệ
thuật của chùa Yên Đông.
*. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các tư liệu liên quan đến chùa Yên Đông.
- Phân tích vai trò của chùa Yên Đông trong đời sống văn hóa nhân dân
xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh.
- Làm rõ các giá trị văn hóa, nghệ thuật được thể hiện qua kiến trúc và
nghệ thuật điêu khắc, trang trí của chùa Yên Đông.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị chùa Yên Đông trong
đời sống hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: chùa Yên Đông (xã Yên Hải, huyện Yên
Hưng, Quảng Ninh).
6
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: chùa Yên Đông trong không gian xã Yên Hải
+. Về thời gian: từ khi xây dựng chùa Yên Đông đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử và tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu giá trị di tích lịch sử, văn hóa.
Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành Văn hóa học, mỹ thuật học, dân
tộc học Những phương pháp này giúp người viết có những tiếp cận, nghiên
cứu và đánh giá về các hiện tượng , các vấn đề văn hóa một cách khoa học và
khách quan.
- Phương pháp điền dã điều tra xã hội học kết hợp khảo sát thực địa,
chụp ảnh- ghi hình và phỏng vấn trực tiếp, nhằm kiểm tra, đánh giá chính xác
dựa trên những thông tin đầy đủ mà người viết thu thập được.
- Phương pháp phân tích- tổng hợp: dựa trên những thông tin đã có qua
điều tra, khai thác thần tích, truyền thuyết, thư tịch và tìm hiểu, kết hợp với
những công trình đi trước để có một cái nhìn tổng thể về di tích, đồng thời đối
chiếu so sánh và phân tích những kết quả đó mà đưa ra kết luận cuối cùng cho
luận văn.
6. Những đóng góp của đề tài:
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu hệ thống toàn diện các giá trị văn
hóa nghệ thuật của chùa Yên Đông, kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp một
nguồn tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu khoa học về chùa và di tích lịch sử
7
văn hóa của huyện Yên Hưng và tỉnh Quảng Ninh, góp phần làm phong phú
thêm các giá trị văn hóa nghệ thuật của di tích kiến trúc cổ của Việt Nam.
Đề xuất một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của di
tích chùa Yên Đông trong giai đoạn hiện nay.
7. Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Không gian văn hóa xã Yên Hải và diễn trình lịch sử
chùa Yên Đông
Chương 2: Giá trị văn hóa, nghệ thuật trong kiến trúc, điêu khắc
và các nghi lễ của chùa Yên Đông
Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, nghệ thuật chùa
Yên Đông.
8
Chương 1
KHÔNG GIAN VĂN HÓA XÃ YÊN HẢI
VÀ DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ CHÙA YÊN ĐÔNG
1.1.KHÔNG GIAN VĂN HÓA XÃ YÊN HẢI:
1.1.1. Lịch sử hình thành xã Yên Hải :
Xã Yên Hải có diện tích tự nhiên 15,2 km². Phía Bắc giáp xã Nam Hòa
và xã Cẩm La. Phía Nam giáp xã Phong Cốc và xã Liên Vị. Phía Đông giáp
xã Cẩm La và xã Phong Cốc. Phía Tây giáp sông Bạch Đằng. Số dân năm
2009 là 5.316 người, cư trú ở hai thôn Yên Đông và thôn Hải Yến gồm tám
xóm, từ xóm 1 đến xóm 8. Lịch sử hình thành xã Hải Yến gắn liền với sự hình
thành của làng Yên Đông và xã Hải Yến.
Yên Hưng là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời. Cách đây khoảng
3000 đến 3.500 năm, khu Hoàng Tân, Yên Hưng, đã có người Việt cổ sinh
sống. “ Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Hoàng Tân rất nhiều công cụ sản
xuất, sinh hoạt bằng đá, như: rìu, bôn, búa, đục, bàn mài, mũi khoan, chày
nghiền của nền văn hóa Hạ Long thời kỳ đá mới, tiếp đến là các đồ đồng của
nền văn minh Đông Sơn triều đại các vua Hùng ở vùng của biển, lúc bấy giờ
đất Yên Hưng thuộc Bộ Dương Tuyền hay Hải Tuyền thời vua Hùng. Đó là
các bình đồng, thạp đồng, vòng tay đồng, lưỡi cày đồng, tấm che ngực, dao
găm, mũi tên đồng, rìu đồng và các hũ bình gốm có chất liệu và mang phong
cách văn hóa gốm Phùng Nguyên, Hoa Lộc” [21,tr 8].
Dưới thời nghìn năm Bắc thuộc, dưới sức ép đồng hóa mạnh mẽ của
ngoại bang, người dân ở Yên Hưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyền
thống của người Việt. Tiếp thu kỹ thuật làm gốm của người Hán để chế tác ra
các đồ gốm dân dụng và gạch nung để xây dựng hầm mộ, nhà cửa. Ở Yên
9
Hưng hiện còn hàng trăm ngôi mộ cổ mang phong cách mộ Hán và một khối
lượng lớn các đồ gốm thời Đông Hán trong lòng đất, minh chứng vùng đất
Yên Hưng là một trong những trung tâm chính trị cai trị nước Nam của nhà
Đông Hán.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư bản khắc năm Chính Hòa 18 ( 1679)[7,tr
236]: đời Đinh, Lê, Yên Hưng thuộc trấn Triều Dương; đời Lý Thái Tổ năm
Thuận Thiên thứ 14 ( 1023) đổi trấn Triều Dương thành châu Vĩnh An; đời
Trần, vua Trần Thái Tông năm Thiên ứng Chính Bình thứ 11 (1242) gọi châu
Vĩnh An là lộ Hải Đông có tám huyện: Yên Bang, Chi Phong, Yên Lập, Yên
Hưng, Tân An, Đại Độc, Vạn Ninh, Vân Đồn. Nhà Lê, đầu đời Thuận Thiên
(1428) gội là Yên Bang ( An Bang) thuộc Đông Đạo. Năm Quang Thuận
(1460-1469) đặt là An Bang Thừa Tuyên; từ năm Gia Thái đời vua Lê Thế
Tông ( 1573-1577) vì kiêng húy tên vua Lê Anh Tông, mới đổi An Bang
thành Yên Quảng, huyện Yên Hưng thuộc Yên Quảng, trấn Yên Quảng có
một phủ ( Hải Đông), sáu huyện ( Chi Phong, Yên Hưng, Hoành Bồ, Thủy
Đường, Kim Thành, An Dương) và ba châu ( Vạn Ninh, Vĩnh An, Vân Đồn).
Năm 1802, vua Gia Long trả Kinh Môn Lệ vào trấn cũ Hải Dương; vẫn lấy
một phủ Hải Đông làm trấn Yên Quảng; dời trấn lỵ từ xã Vu Thanh, huyện
Kim Thanh phủ Kinh Môn đến gò Quỳnh Lâu huyện Yên Hưng làm trấn lỵ
trấn Yên Quảng. Trấn Yên Quảng còn một phủ ( Hải Đông) trong đó có ba
huyện ( Yên Hưng, Hải Đông, Hoành Bồ) và ba châu ( Tiên Yên, Vạn Ninh,
Vân Đồn), với 16 tổng, 123 phường, phố, vạn, xóm.
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi trấn Quảng Yên thành tỉnh Quảng
Yên. Tỉnh Quảng Yên thuộc loại nhỏ nên chung một quan tổng đốc với tỉnh
Hải Dương, gọi là tổng đốc Hải Yên, quân đội thuộc quân thứ Hải Yên. Năm
Minh Mạng thứ 17, đặt thêm phủ Sơn Định, bớt châu Vân Đồn. Châu Vân
Đồn chuyển thành tổng Vân Hải trong huyện Hoa Phong. Tỉnh Quảng Yên có
10
hai phủ là Hải Ninh, Sơn Định. Phủ Hải Ninh có hai châu Tiên Yên và Hải
Ninh, châu Hải Ninh kiêm việc phủ; phủ Sơn Định có ba huyện: Hoành Bồ,
Yên Hưng và Hoa Phong, huyện Hoành Bồ kiêm việc phủ.
Yên Hưng là vùng đất có truyền thống chống giặc ngoại xâm bảo vệ
quê hương đất nước. Trong lịch sử dân tộc, người dân Yên Hưng đã ba lần
tham gia đánh quân xâm lược phương Bắc trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử.
Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và đô hộ nước ta, Quảng Yên, Yên
Hưng là nơi thực dân Pháp xây dựng trụ sở cho bộ máy cai trị của chúng ở
tỉnh Quảng Yên. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Yên Hưng có 17.000
thanh niên nhập ngũ. Dân quân Yên Hưng đã cùng lực lượng bộ đội bắn rơi
37 máy bay Mỹ, trong đó dân quân tự vệ Yên Hưng bắn rơi 6 chiếc. Yên
Hưng là huyện bắn rơi nhiều máy bay nhất tỉnh Quảng Ninh, được chính phủ
tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
Cư dân Yên Hưng có truyền thống cần cù, năng động, sáng tạo trong
lao động sản xuất. Từ xa xưa tới nay, đa số cư dân Yên Hưng không thuần
nông, vừa làm ruộng, vừa đánh cá biển, nuôi thủy sản và làm các nghề thủ
công, nghề sơn tràng, nghề vận tải, buôn đò dọc, chạy chợ Nghĩa là tùy thời
gian nông nhàn trong năm, hoặc căn cứ nhu cầu sinh hoạt, chi tiêu của gia
đình mà phát sinh rất nhiều nghề khác ngoài cấy lúa trong mỗi gia đình. Ở
Yên Hưng, nửa đầu thế kỷ XIX (1800-1850) là thời gian các làng xã xây dựng
đình làng, chùa làng, trong khi đó nhiều nơi khác trong nước đất đai hoang
hóa, dân cư phiêu tán. Điều đặc biệt ở đây là tập quán sử dụng ruộng đất công
– công điền được duy trì với số lượng lớn và tồn tại dai dẳng đến sát cuộc cải
cách ruộng đất chính là kết quả của quá trình khai khẩn lấn biển của tập thể
các làng xã và thành quả đó được cộng đồng làng xã bảo vệ. Đây cũng là một
trong những đặc điểm quan trọng nhất của chế độ ruộng đất của Yên Hưng
nói chung và của đảo Hà Nam nói riêng. Đó là các tập quán:
11
- Tập quán sử dụng ruộng công cho những công việc chung của làng xã:
Cũng như các làng xã khác ở đồng bằng bắc bộ, ngoài bộ phận lớn ruộng đất
để chia cho dân đinh, nơi đây còn dành một phần diện tích ruộng công để
dùng vào những việc chung của làng xã: thờ cúng, khuyến học, trọng lão, sửa
sang tu bổ hay làm mới đình, chùa Bên cạnh đó, làng còn dành một bộ phận
đáng kể ruộng công cho việc thưởng biếu cho những người đỗ đạt, có công
với làng, người cao tuổi hay chức dịch. Lảng xã còn thưởng ruộng công cho
những người có công đòi ruộng trong các cuộc tranh chấp ruộng đất với các
làng xã bên cạnh. Ngoài ra, làng xã cũng thường đem bán ( có thời hạn) một
số diện tích ruộng công để lấy kinh phí chi cho các việc công.
- Tục lệ phân chia ruộng công: lệ chia ruộng công tuân thủ chặt chẽ một
số nguyên tắc như thời điểm bặt phần ruộng và chính thức nhận ruộng phải
đảm bảo không ảnh hưởng đến vấn đề thời vụ. Nhìn chung, việc chia ruộng ở
đây đều kết hợp hai nguyên tắc: kính xỉ và kính ước . Khẩu phần ruộng được
chia thì tùy theo diện tích ruộng công và số dân đinh trong xã. Lệ chia ruộng-
“ đổ chương” cũng tùy từng xã mà có quy định khác nhau, có thể là 3,4 hoặc
6 năm thì “ đổ chương” một lần. Ngoài số công điền được chia cho dân đinh,
làng còn cấp ruộng cho các họ làm ruộng họ và lo việc hội hè, tế đám của
làng. Đối với trường hợp ngụ cư thì có lệ: người ngụ cư khi mới nhập làng thì
chưa được nhận ruộng khẩu phần. Những người nào cha ông đã ngụ cư từ
trước mới được cấp ruộng. Tuy nhiên, mỗi lần nhận ruộng người ngụ cư nếu
đã sống trong làng một đời nộp số tiền 1,5 đồng; hai đời: nộp 1 đồng; ba đời:
nộp 0,5 đồng và số ruộng được nhận ít hơn tiêu chuẩn 1 sào. Nếu ngụ cư quá
ba đời thì được bình đẳng với các thành viên khác trong việc nhận ruộng khẩu
phần.
Qua những tư liệu về ruộng đất công nói đến ở trên cho thấy tính dân
chủ ở đây rất cao, song lại cũng thấy được tính chất phúc tạp của các mối
12
quan hệ xã hội xung quanh vấn đề ruộng đất. Làng xã đã thực sự trở thành
đơn vị sở hữu, phân phối sử dụng ruộng đất trên cơ sở “ pháp nước lệ làng”.
Yên Hưng có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Trong quá trình
phát triển làng xã, người dân Yên Hưng phải vật lộn với gió bão, triều dâng,
hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh cùng bệnh tật hại con người. Do vậy, trong quá trình
mở đất, giữ đất và lao động sản xuất, nhiều tên đất, tên làng, tên núi, tên sông
được đặt hết sức mộc mạc thân thương, gắn bó với những kỷ niệm của người
dân các làng qua bao đời nay, và trở thành văn hóa truyền thống của làng quê
Yên Hưng. Cư dân hiện nay ở Yên Hưng phần lớn có nguồn gốc từ đồng bằng
sông Hồng, như: Thăng Long, Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, Bắc
Ninh đến đây định cư lập làng từ thế kỷ XV, như các làng Phong Cốc, Cẩm
La, Yên Đông, Trung Bản, Lưu Khê, Vị Dương, Vị Khê, Quỳnh Biểu, Hải
Yến, Hương Học, Yên Hưng, Yên Trì, Quỳnh Lâu, Khê Chanh, La Khê, Bùi
Xá, Hoàng Tân, Động Linh, Khoái Lạc, Yên Lập. Các xã mới thành lập gần
đây cũng do quai đê lấn biển lập làng và làm thủy lợi là một đặc thù của Yên
Hưng. Những kinh nghiệm xẻ đất, bó độn, cắm say để hạp long, đắp đê, đào
mương và bảo vệ đê điều là những kinh nghiệm lao động quý báu. Do vậy, ở
Yên Hưng hiện còn bảo lưu khá nguyên vẹn văn hóa truyền thống của người
Việt ở đồng bằng Bắc Bộ về tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, hội hè,
đình đám. Hiện nay ở Yên Hưng còn giữ được khoảng 230 di tích lịch sử văn
hóa, gồm 11 đình làng, 23 chùa làng, 41 đền, miếu, 104 từ đường, 10 nhà thờ
Thiên chúa, 33 di tích khảo cổ ( 1 di chỉ đá mới, 2 bãi cọ Bạch Đằng, 35 mộ
cổ), 1 thành cổ. Trong 230 di tích lịch sử văn hóa, hiện còn lưu giữ hơn 9000
hiện vật là các di tích quý như: 43 sắc phong, 12 chuông đồng, gần 400 tượng
thờ, 142 bia đá, hơn 600 câu đối, đại tự và các gia phả, thần tích, các đồ thờ tự
khác có niên đại từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX. Trong đó có 39 di tích đã được
xếp hạng cấp quốc gia, 15 di tích xếp hạng cấp tỉnh, dự kiến sẽ có khoảng
13
50% di tích ở Yên Hưng được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh. Ngoài ba lễ
hội lớn trong vùng là Lễ hội Tiên công, Lễ hội Bạch Đằng, Lễ hội xuống
đồng, ở Yên Hưng còn hàng trăm hội hè khác gắn với các đình làng, chùa
làng và từ đường, dòng họ.
Về tôn giáo- tín ngưỡng, cư dân Yên Hưng có tục thờ Tiên công và
cúng gia tiên ở gia đình và từ đường dòng họ; tục thờ thành hoàng của các
làng xã ở đình, đền, nghè, miếu; tục thờ Mẫu Liễu Hạnh; tục thờ thần Biển và
một số nhân thần, thần núi, thần sông khác. Các vị thần được thờ ở các đình,
đền, miếu của các làng xã ở Yên Hưng đa số là các nhân thần như: Đức thánh
Trần Hưng Đạo Đại vương; Đức thánh Niệm ( Phạm Tử Nghi); các vị thần
khác khi còn sống có công đánh giặc cứu nước phò vua giúp dân; các vị Tiên
công ( có công đầu tiên quai đê lấn biển lập làng) khi mất đều được suy tôn
làm thần thờ ở đình làng, ở đền, miếu của làng xã, ở từ đường của các dòng
họ Ở Yên Hưng mỗi làng có một chùa, ngày nay hiện còn 23 ngôi chùa
làng. Chùa làng được xây dựng từ khá sớm, đa số vào khoảng giữa thế kỷ
XVI. Chùa làng ở Yên Hưng là đối trọng của đình làng, mỗi làng đều có một
ngôi đình thờ vọng Thành hoàng và ngày xưa dành cho nam giới tế lễ, ăn
khao, hội họp. Đối trọng với ngôi đình là ngôi chùa dành cho nữ giới sinh
hoạt. Theo thống kê năm 2009, Yên Hưng có 4.354 người theo đạo Phật, các
Phật tử đa số là nữ trung niên và cao tuổi.
Bên cạnh tín ngưỡng thờ thần, thánh và một bộ phận theo Phật giáo,
Công giáo, hầu hết cư dân ở Yên Hưng rất coi trọng tục thờ cúng tổ tiên dưới
các hình thức thờ cúng ở từ đường ( nhà thờ dòng họ), thờ cúng ở nhà trưởng
của mỗi chi và ở mỗi gia đình. Hiện ở Yên Hưng có 104 từ đường, các từ
đường được xây dựng từ thế kỷ XVII tới XX, thờ thủy tổ tới các thế tổ và các
đời, đến nay đa số số các họ ccos từ 15 đến 25 đời. Cho đến nay, các tập tục
14
tang ma, cưới xin, hội hè, đình đám, phong tục tập quán của người Việt ở
đồng bằng Bắc bộ cơ bản được bảo lưu khá nguyên vẹn ở Yên Hưng.
Căn cứ vào các tư liệu văn bia, như: Bia đình Trung Bản, Bia đình
Phong Cốc, Bia đình Hải Yến, bia Miếu Tiên Công; Gia phả họ Dương
Quang ( Cẩm La), họ Nguyễn ( Yên Đông), họ Nguyễn Phúc ( Phong Cốc),
họ Phạm ( Vị Khê), họ Vũ Song ( Yên Đông)[21,tr81] hiện còn được lưu
giữ ở địa phương, có thể khái quát về sự hình thành của các làng xã khu vực
Hà Nam như sau:
Ngay từ thời Lý- Trần đã có một số vạn chài đến vùng đất này sinh
sống. Những người dân chài đã dựa vào các đượng đất cao trên triều để đãi
chài, phơi lưới. Những đượng đất cao trên triều này, ngày nay chính là khu
vực cư dân của các làng Hải Yến, Yên Đông, Phong Cốc, Cẩm La, Trung
Bản, Lưu Khê, Vị Dương, Quỳnh Biểu.
Đến đầu thế kỷ XV, khu vực Hà Nam lần lượt được các nhóm dân cư
đến quai đê, lấn biển, lập làng. Mỗi nhóm do một người có uy tín trong việc
tập hợp dân đi khai hoang đứng đầu. Có thể chia họ thành các nhóm sau:
Nhóm thứ nhất, do Hoàng Lung, Hoàng Linh chiêu tập nhân dân vùng
Trà Lý ( Thái Bình ngày nay) quai đê lấn biển khai lập xã Phong Lưu. Sau
này ( cũng trong thời Lê Thánh Tông) Phong Lưu sát nhập làng Bồng Lưu, và
vẫn giữ tên cũ là Phong Lưu.
Nhóm thứ hai do Hoàng Kim Bảng, Đồng Đức Hấn chiêu tập nhân dân
quai đê lấn biển khai lập xã Vị Dương.
Nhóm thứ 3, do Đỗ Độ, Đào Bá Lệ chiêu tập người quai đe lấn biển lập
xã Lương Quy. Sau này, Lương Quy đổi thành Lưu Khê, gồm 2 thôn Lưu
Khê và Quỳnh Biểu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét