Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
chờ giá cao. Giá FOB tiêu Malaysia tăng 200 USD/tấn so với tháng trước (từ 1.750 lên
1.950 USD/tấn). Giá tiêu nội địa tăng 10% và giá FOB tăng 9%.
Bắt đầu quý 2/2006, thị trường tiêu đen rất biến động sau đó rõ dần tình hình nguồn cung
có hạn chế và nguồn dự trữ không còn nhiều. Sản lượng cung thế giới được dự đoán thấp.
Tổng sản lượng tiêu đen năm 2006 chỉ vào khoảng 220 ngàn tấn, giảm 17% so với năm
2005. Sản lượng tiêu Ấn Độ dự kiến giảm 29%. Việt Nam đã bán ra gần hết hạt tiêu trong
khi sản lượng cũng được dự đoán giảm. Tiêu Indonesia thu hoạch vào tháng 8 có thể bù
đắp mức cung hạn chế ở các nước sản xuất khác, nhưng sản lượng cũng chỉ bằng 75% năm
trước. Ngay cả sản lượng tiêu của Brazil cũng giảm. Chính vì vậy, các nhà kinh doanh tập
trung thu mua tiêu trong quý 3/2006, đẩy giá tiêu tăng vọt so với cùng kỳ năm trước. Mức
giá đạt đỉnh trong tháng 10/2006, cao gấp 2,03 lần giá cùng kỳ năm 2005 đối với tiêu đen.
Ấn Độ đã xuất khẩu khoảng 13.710 tấn tiêu đen trong 8 tháng đầu năm 2006, so với
11.130 tấn cùng kỳ năm 2005. So sánh về nguồn dự trữ và sản lượng tiêu trong năm và
lượng bán ra, lượng tiêu của Ấn Độ bắt đầu cạn.
Việt Nam đã bán ra đến 105.380 tấn tiêu trong 9 tháng đầu năm 2006, so với sản lượng
trong năm chỉ ở mức 92.000 tấn (77.000 tấn tiêu đen và 15.000 tấn tiêu trắng). Điều này
cũng cho thấy nguồn hàng tiêu Việt Nam cũng bắt đầu cạn kiệt.
Ở Sarawak, sản lượng tiêu có giảm đôi chút so với năm trước nhưng nông dân vẫn chưa
bán tiêu vì có nguồn thu từ cao su, đang được giá cao. Ngược lại, ở Lamphung, mặc dù giá
quý 3 có tăng lên nhưng nông dân đã bán tiêu từ trước đó và nguồn cung đã cạn vì sản
lượng quá ít.
Đến cuối quý 3/2006, giới kinh doanh hồ tiêu trông chờ vào nguồn cung từ Brazil hiện
đang vào vụ thu hoạch. Do các nguồn cung khác đã cạn, tiêu Brazil sẽ quyết định giá thị
trường. Tuy nhiên, các dự đoán vẫn cho rằng sản lượng tiêu Brazil cũng giảm so năm
trước.
Tình hình cho thấy sau giai đoạn trì trệ suốt hơn 4 năm, giá tiêu bắt đầu hồi phục và khởi
đầu cho một xu hướng tăng giá do giảm cung cho đến năm 2007, cơ bản do giảm cung.
Bắt đầu từ tháng 10/2006, thị trường tiêu bắt bắt đầu suy giảm, nhất là ở Ấn Độ. Bước qua
tháng 11 và 12/2006, thị trường tiếp tục có xu hướng giảm. Giá tiêu ở các thị trường nguồn
giảm đáng kể so các tháng trước. Lý do chủ yếu là các nhà kinh doanh thu mua tiêu hạt chờ
đợi mức giá cạnh tranh hơn vào đầu năm 2007, khi mà Việt Nam và Ấn Độ bắt đầu thu
hoạch tiêu.
B3 - 128 Thuỵ Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Tel: 84-4-7280493; Email: cap@ipsard.gov.vn
5
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
Ở Ấn Độ, khối lượng hạt tiêu giao dịch trên thị trường Cochin giảm liên tục từ khi vào
tháng 10. Giá FOB hạt tiêu đen rơi từ đỉnh cao 3.043 USD/tấn vào tuần thứ 3 tháng 9/2006
xuống còn 2.760 USD/tấn vào cuối tháng 10; và xuống còn 2.330 USD/tấn vào giữa tháng
12. Tình hình này xảy ra do các doanh nghiệp đã tích trữ hồ tiêu phải bán ra gấp để chuẩn
chị cho vụ thu hoạch mới vào tháng 12 và tháng 1/07.
Tình hình giao dịch ở TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam cũng trầm lắng tương tự như ở Cochin.
Lý do chính là nguồn hàng cạn kiệt và nhu cầu của các quốc gia theo đạo Hồi giảm suốt
tháng Ramadhan và lễ Eidel Fitri. Các nhà thu mua cũng chờ đợi mùa vụ mới sẽ thu hoạch
vào quý 1/2007. Giá FOB HCMC tiêu đen 500g/l giảm từ đỉnh 2.800 USD/tấn vào cuối
tháng 9 xuống còn 2.660 USD/tấn vào cuối tháng 10 và 2.150 USD/tấn vào cuối tháng 11.
Vào gần cuối tháng 12, giá ổn định ở mức 2.220 USD/tấn.
Ở Lampung, Indonesia thị trường cũng khá tĩnh lặng. Nông dân trồng hồ tiêu đã bán ra hết
lượng dự trữ trong khi chỉ còn một số doanh nghiệp lớn hồ tiêu dự trữ hàng nhưng có giới
hạn. Mặc dù nguồn hàng không còn bao nhiêu nhưng giá vẫn giảm do thị trường thế giới
giảm nhu cầu. Giá thị trường địa phương giảm từ 2.604 USD/tấn/kg vào cuối tháng 9
xuống còn 2.199 USD/tấn vào giữa tháng 12. Giá FOB tiêu đen Lampung giảm tương ứng
từ 3.000 USD/tấn còn 2.670 USD/tấn.
Ở Sarawak, giá địa phương giảm từ đỉnh 2.453 USD/tấn vào cuối tháng 9 xuống còn 2.167
USD/tấn vào gần cuối tháng 12. Trong khi đó, giá FOB tiêu đen Sarawak giảm tương ứng
từ 3.400 USD/tấn xuống còn 3.100 USD/tấn.
Theo tin IPC ngày 7/12/2006, từ tháng 1-10/2006, sản lượng xuất khẩu của Braxin tăng
đáng kể đến 30%. Theo thống kê của ABPE (Hiệp hội các nhà xuất khẩu và sản xuất tiêu
Braxin), từ tháng 1-10/2006, Braxin xuất khẩu tổng cộng 31.095 tấn tiêu, đạt trị giá 58,9
triệu USD, tăng 30% về lượng và 77,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2005. Theo báo cáo
thì sản lượng xuất khẩu tiêu của Braxin từ tháng 01-10/2005 là 23.912 tấn, trị giá 33 triệu
USD.
Mỹ là nước nhập khẩu lớn nhất tiêu của Braxin với số lượng nhập khẩu là 12.152 tấn tiêu,
đạt trị giá 21,06 triệu USD, tiếp theo là Đức với số lượng nhập khẩu là 3.736 tấn, Tây Ban
Nha (2.869 tấn), Hà Lan (2.007 tấn) và Mêxicô (1.942 tấn). Ngoài ra cũng đáng chú ý rằng,
số lượng xuất khẩu của Braxin cho Ấn Độ đã tăng đáng kể. Từ tháng 01-10/2006, sản
lượng xuất khẩu tiêu của Braxin cho Ấn Độ là 338 tấn, tăng hơn 5500% tương đương 332
tấn so với cùng kỳ năm ngoái chỉ có 6 tấn. Sản lượng xuất khẩu của Braxin cho
Ukraine/Nga ngoài ra cũng tăng đáng kể. Từ tháng 01-10/2006, Braxin xuất khẩu tổng
cộng 1.245 tấn tiêu cho Ukraine/Nga, tăng đáng kể đến 2.390% tương đương 1.195 tấn so
B3 - 128 Thuỵ Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Tel: 84-4-7280493; Email: cap@ipsard.gov.vn
6
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
với cùng kỳ năm ngoái là 50 tấn. Giá hạt tiêu ở Braxin đầu năm 2006 rất thấp đã kích thích
ngành sản xuất và xuất khẩu gia vị trị giá gia tăng tăng nhập khẩu hạt tiêu. Các nhà chế
biến và xuất khẩu gia vị đã mua hạt tiêu Braxin với giá chỉ khoảng 1.500-1.800 USD/tấn,
khi mà giá ở các nơi khác đều cao hơn, kể cả Ấn Độ. Ngành nhựa dầu cũng đã nhập khẩu
một khối lượng khá lớn.
Diễn biến giá FOB tiêu đen ở các thị trường tiêu chủ yếu trên thế giới suốt năm 2006 phản
ánh hoạt động giao dịch xuất nhập khẩu tiêu (hình 1). Tất cả các thị trường đều có mức giá
thấp tương đương với mức giá 2005 cho đến tuần 09/6 và tuần 16/6. Giá tiêu cao nhất (loại
Malabar MGI) cũng chỉ dao động trong khoảng 1.600-1.800 USD/tấn. Giá thấp nhất là tiêu
đen Việt Nam 500g/l dao động trong khoảng trên dưới 1.200 USD/tấn. Bắt đầu tuần 16/6
trở đi, giá tiêu ở tất cả các nguồn cung tăng vọt và đều đạt đỉnh trong giai đoạn cuối tháng
9 và đầu tháng 10, dao động từ khoảng 2.700 đến 3.400 USD/tấn tùy theo thị trường. Sau
đó giá tiêu giảm dần cho đến cuối tháng 12/2006, nhưng vẫn ở mức khá cao so với mức giá
trước tháng 6/2006.
Hình 1. Giá FOB tiêu đen theo tuần ở một số nguồn cung chính từ tháng 1 – 12/2006
(Nguồn: IPC, VPA)
B3 - 128 Thuỵ Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Tel: 84-4-7280493; Email: cap@ipsard.gov.vn
7
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
1.4. Thị trường tiêu trắng
Diễn biến thị trường tiêu trắng cũng có xu hướng tương tự như tiêu đen. Như thể hiện ở
hình 2, trong quý 1 và đầu quý 2/2006, giao dịch có vẻ ổn định khi giá cả không có biến
động so năm 2005. Tuy biến động giá hàng tuần có xảy ra, nhưng nhìn tổng thể, mặt bằng
giá tiêu trắng vẫn ổn định.
Đến đầu quý 3, giá tiêu trắng cũng có xu hướng tăng mạnh do nguồn cung giảm nhiều,
lượng dự trữ không còn bao nhiêu. Ở Bangka, nông dân trữ lại hạt tiêu thu hoạch trong
tháng 7/8 để chờ giá cao khi đã có một số nguồn thu khác. Ở Sarawak, giá tiêu trắng tăng
vững chắc do thiếu cung. Giá tiêu trắng ở Kuching và Hải Nam cũng tăng đáng kể.
Giá tiêu trắng cũng có xu hướng giảm trong quý 4/2006 sau đợt tăng giá mạnh trong quý
3/2006. Ở Sarawak, giá địa phương giảm từ đỉnh 3.485 USD/tấn vào cuối tháng 9/2006
xuống còn 2.972 US/tấn vào gần cuối tháng 12. Lý do chính là nguồn hàng không còn bao
nhiêu trong khi nông dân bán ra hàng dự trữ để có tiền đón lễ Eidel Fitri và cầu giảm. Ở
Bangka, giao dịch cũng rất hạn chế từ tháng 11. Giá địa phương giảm từ 3.460 USD/tấn
còn 3.115 USD/tấn vào cuối tháng 11. Giá FOB giảm từ 3.790 USD xuống 3.749 USD/tấn.
Trung bình, giá địa phương giảm 7% và giá FOB giảm 8%. Cũng có thông tin cho rằng
nông dân ở Bangka đang chuyển đổi vườn tiêu sang cao su vì lợi nhuận cao hơn.
Ở Hải Nam, giá tiêu trắng cũng giảm nhẹ từ tháng 10/2006 qua đến hết tháng 11/2006.
Mức giảm giá FOB từ 3.200 USD còn 3.000 USD/tấn. Giá địa phương giảm từ 3.000 USD
xuống 2.800 USD/tấn. Tại TP. Hồ Chí Minh, giá FOB tiêu trắng tháng 10 giảm nhẹ 1% so
với tháng 9. Qua tháng 11, giá giảm mạnh từ 3.700 USD xuống 3.200 USD/tấn.
B3 - 128 Thuỵ Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Tel: 84-4-7280493; Email: cap@ipsard.gov.vn
8
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
Hình 2. Giá FOB tiêu trắng theo tuần ở một số nguồn cung chính từ tháng 11/2005 –
12/2006, (Nguồn: IPC, VPA)
1.5. Tình hình xuất khẩu tiêu Việt Nam
Mặc dù cho đến thời điểm này, vẫn chưa có con số chính thức về xuất khẩu tiêu của Việt
Nam, nhưng đối chiếu từ các nguồn tin cậy, có thể xác định trong năm 2006 Việt Nam đã
xuất khẩu khoảng 116.000 tấn tiêu, đạt kim ngạch hơn 190 triệu USD. Trong đó, tiêu trắng
khoảng 12 ngàn tấn, chiếm 10,3% cơ cấu. So với năm 2005, tổng lượng tiêu xuất khẩu tăng
khoảng 20 ngàn tấn nhưng tiêu trắng giảm về cả lượng (giảm khoảng 2.400 tấn) và cả tỷ
trọng (10,3% so với 15%).
Với các số liệu trên, giá xuất khẩu tiêu Việt Nam (cả tiêu đen lẫn tiêu trắng) đạt trung bình
1.638 USD/tấn. So với giá tiêu đen xuất khẩu trung bình chỉ đạt 1.166 USD/tấn năm 2005
và 1.092 USD/tấn năm 2004.
Diễn biến giá FOB tiêu đen Việt Nam (nguồn IPC) và giá nội địa (nguồn VPA) cho thấy có
sự tương đồng về xu hướng. Nhìn chung, giá tăng rất nhanh từ đầu tháng 7/2006 và đạt
đỉnh cao vào khoảng giữa tháng 9/2006 (từ 23 ngàn đồng/kg đến 47 ngàn đồng/kg đối với
giá nội địa; từ 1.500 USD đến 2.800 USD/tấn đối với giá FOB HCMC). Mức giá đỉnh này
được duy trì trong 2-3 tuần rồi bắt đầu giảm từ giữa tháng 10/2006. Đến gần cuối tháng
12/2006, mức giá nội địa ở vào khoảng 34 ngàn đồng/kg; mức giá FOB HCMC ở vào
khoảng 2.200 USD/tấn (hình 3). Diễn biến giá FOB tiêu Việt Nam và giá nội địa cũng rất
phù hợp với diễn biến giá thị trường hồ tiêu thế giới (hình 1, 2).
B3 - 128 Thuỵ Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Tel: 84-4-7280493; Email: cap@ipsard.gov.vn
9
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
Đánh giá chung tình hình xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam năm 2006, có thể thấy các mặt
mạnh, yếu như sau:
Thứ nhất, Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế là nhà sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu số một
trên thế giới. Mặc dù trong những năm gần đây diện tích canh tác hồ tiêu ở Việt Nam đã ổn
định vào khoảng trên dưới 52 ngàn ha, nhưng nhờ năng suất cao nên vẫn đạt sản lượng
hàng năm trên dưới 100 ngàn tấn, cao nhất thế giới và chiếm khoảng 1/3 tổng sản lượng
tiêu trên thế giới. Về xuất khẩu, Việt Nam đứng số một và chiếm khoảng trên dưới 50%
lượng cung hạt tiêu trên thế giới. Theo ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch VPA, vị trí này là cơ hội
rất tốt cho ngành tiêu Việt Nam tạo ra ưu thế chi phối và quyết định giá trên thị trường hạt
tiêu thế giới.
Ưu thế thứ hai của ngành hồ tiêu Việt nam là sự ổn định về chất lượng và sản lượng. Mặc
dù một số nước sản xuất tiêu đã giảm lượng sản xuất do giá cả thấp trong vài năm gần đây,
Việt Nam vẫn duy trì được diện tích và sản lượng. Đồng thời, chất lượng hạt tiêu ngày
càng cao nhờ quan tâm và đầu tư nhiều hơn đến chế biến sau thu hoạch.
Cũng theo VPA, thế mạnh thứ ba của ngành hồ tiêu Việt Nam là khả năng giảm thiểu xuất
khẩu thông qua các nhà buôn trung gian, mà tăng cường xuất khẩu trực tiếp cho những nhà
cung ứng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gia vị ở các nước.
Tuy nhiên, mặt yếu của ngành hồ tiêu Việt Nam là chưa đạt được sự thống nhất và chuyên
nghiệp trong hoạt động xuất khẩu. Tình trạng tranh mua, tranh bán vẫn diễn ra mặc dù đã
có nhiều dự báo về giảm cung trên thế giới và đẩy giá lên cao ngay từ cuối năm 2005. Tình
trạng này đã làm cho giá tiêu xuất khẩu trung bình đạt không cao như có thể. Theo VPA,
có đến hơn 60% lượng hồ tiêu Việt Nam được xuất khi giá chỉ ở mức 1.200 USD/tấn. Khi
giá tăng từ 2.000 USD/tấn trở lên, lượng hàng của Việt nam chỉ còn khoảng 40%. Chính vì
thế, giá xuất khẩu trung bình chỉ đạt hơn 1.600 USD/tấn một ít.
Theo số liệu ghi nhận lượng tiêu xuất khẩu qua cảng TP. Hồ Chí Minh (bảng 3), lượng tiêu
xuất khẩu chủ yếu tập trung từ tháng 3-8/2006, lượng xuất mỗi tháng từ 10 đến 16 ngàn
tấn. So với diễn biến giá FOB tại cảng TP. Hồ Chí Minh (nguồn IPC) và giá nội địa tại thị
trường TP. Hồ Chí Minh (nguồn VPA) trình bày ở hình 3, đến hết tuần 23/6, giá xuất tiêu
chỉ vào khoảng 1.300 USD/tấn, đến 30/6 đạt 1.440 USD/tấn nhưng đến cuối tháng 6/06,
lượng tiêu đã xuất là 67 ngàn tấn; đến cuối tháng 9/2006, đã xuất qua cảng TP. Hồ Chí
Minh 95.303 tấn. Bắt đầu từ 1/9, giá xuất tiêu đen bắt đầu vượt qua mức 2.200 USD/tấn thì
lượng tiêu xuất trong tháng 9 chỉ là 6,1 ngàn tấn, tháng 10 là 4,5 ngàn tấn, tháng 11 là 2,7
ngàn tấn.
B3 - 128 Thuỵ Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Tel: 84-4-7280493; Email: cap@ipsard.gov.vn
10
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
Hình 4 cũng cho thấy khối lượng xuất khẩu hạt tiêu hàng tuần của Việt Nam cũng chủ yếu
tập trung từ tháng 2 đến tháng 5, mặc dù ngay từ đầu tháng 3/2006 (bản tin 9-10/06 ngày
12/3/06), VPA đã khuyến cáo các doanh nghiệp không nên chào bán một cách ồ ạt. Đến
cuối tháng 5, lại xảy ra một đợt bán hàng ồ ạt nữa. Hậu quả là qua đầu tháng 6/2006, dấu
hiệu thiếu hàng xuất khẩu bắt đầu xảy ra và qua tháng 7, tiêu nguyên liệu do nông dân dự
trữ hầu như đã cạn kiệt mặc dù giá lên rất cao.
Vấn đề này cho thấy ngành tiêu Việt Nam đã bỏ qua cơ hội nâng cao giá bán và kim ngạch
xuất khẩu vì sự cạnh tranh lẫn nhau, thiếu thống nhất và thiếu sự điều phối nhịp nhàng
trong thu mua nguyên liệu và xuất khẩu. Theo VPA, có hai nguyên nhân chính là thiếu
thông tin dự báo cung cầu trên thị trường và phương thức buôn bán theo kiểu mua đứt bán
đoạn, thiếu kế hoạch thu mua, dự trữ và xuất hàng. Ngoài ra, một nguyên nhân các tác
động lớn nữa là thiếu vốn, các doanh nghiệp khó có thể chủ động mua tiêu nguyên liệu và
dự trữ chờ giá bán cao.
Sự yếu kém trên đã làm cho kim ngạch xuất khẩu không đạt cao như đã có cơ hội, phần
lớn nông dân và doanh nghiệp đã phải bán tiêu lúc giá còn thấp, làm cho lợi nhuận chung
của ngành không đạt cao.
Bảng 3. Sản lượng hạt tiêu xuất khẩu của Việt Nam 9 tháng đầu năm 2006 qua Cảng
TP. Hồ Chí Minh
Tháng Lượng xuất khẩu (tấn)
1 4.693
2 5.249
3 16.632
4 13.166
5 15.457
6 11.895
Cộng 6 tháng đầu năm 67.092
7 11.728
8 10.365
9 6.118
Cộng 9 tháng đầu năm 95.303
10 4.534
11 2.763
12 (đến 22/12) 2.513
Cộng sơ bộ quý 4/2006 9.810
Cộng sơ bộ cả năm 2006 105.113
B3 - 128 Thuỵ Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Tel: 84-4-7280493; Email: cap@ipsard.gov.vn
11
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
Hình 3. Giá nội địa và giá FOB HCM của tiêu đen Việt Nam 500g/L từ tháng 01–
12/2006
(Nguồn: IPC, VPA)
Hình 4. Diễn biến khối lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2006 (Nguồn:
tổng hợp số liệu các bản tin tuần của VPA)
B3 - 128 Thuỵ Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Tel: 84-4-7280493; Email: cap@ipsard.gov.vn
12
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
Theo thông tin từ Bộ Thương mại, thị trường xuất khẩu chính của hạt tiêu Việt Nam là Mỹ,
CHLB Đức, Hà Lan, Ấn Độ. Trong đó, xuất sang Mỹ với số lượng lớn nhất 17.515 tấn, đạt
29.436.572 USD (chiếm 15,45% tổng lượng xuất khẩu và chiếm 16,12% tổng kim ngạch
xuất khẩu). Tiếp đó là các thị trường CHLB Đức (8,5% lượng xuất và 9,9% tổng kim
ngạch); Hà Lan (7,7% lượng xuất và 8,1% tổng kim ngạch). Xuất khẩu đến Ấn Độ và Tiểu
Vương quốc Ả Rập Thống nhất cũng khá quan trọng.
1.6. Nhận định chung và dự báo năm 2007
Sản lượng tiêu niên vụ 2006 ở các nước xuất khẩu chủ yếu giảm nhiều so năm 2005, mức
cung toàn thế giới giảm, và nguồn dự trữ rất hạn hẹp. Các nguồn cung chủ yếu đã xuất gần
hết nguồn hàng dự trữ hoặc mới thu hoạch. Do đó, giá tiêu bị đẩy cao đến mức kỷ lục
trong vài năm qua vào cuối quý 3/2006. Bước vào quý 4/2006, nhu cầu giao dịch giảm dần
và giá cũng giảm theo. Đến cuối tháng 12/2006, mặc dù nhu cầu mua hạt tiêu đã ngưng,
các giao dịch tại các thị trường tiêu chủ yếu đã tạm lắng đọng, giá tiêu vẫn còn được duy
trì ở mức khác cao so với cùng kỳ năm 2005. Theo dự báo của Hiệp hội Hồ tiêu VN, giá
hạt tiêu xuất khẩu trong năm 2007 sẽ tiếp tục ổn định ở mức cao, khoảng 2.200 -2.500
USD/tấn.
Mức giá cao hiện nay có thể khuyến khích nông dân Việt Nam tăng đầu tư và đẩy sản
lượng năm 2007 lên so với 2006, nếu không có các biến động bất ngờ về thời tiết và sâu
bệnh hại. Tuy nhiên, vẫn chưa có những đánh giá tin cậy về sản lượng tiêu Việt Nam năm
2007 dù có những lo ngại về hạn hán do El Nino quay lại và thiệt hại do dịch bệnh xảy ra.
Cũng có nguồn tin cho rằng vụ thu hoạch 2007 có thể sẽ giảm sản lượng 20% do bệnh hại.
Nhìn chung, các dự báo đều cho rằng sản lượng hạt tiêu thế giới năm 2007 dự kiến sẽ giảm
xuống thấp hơn so với năm 2005 và cả 2006. Vì thế, giá hồ tiêu trên thị trường thế giói và
thị trường Việt Nam năm 2007 vẫn sẽ ở mức cao so với giá năm 2005 và xoay quanh trục
giá năm 2006. Tuy nhiên, mức giá này sẽ còn biến động tùy thuộc vào độ tin cậy của các
dự báo về sản lượng tiêu dự báo và sản lượng thu hoạch thực tế của các nước sản xuất và
xuất khẩu tiêu chủ yếu trên thế giới như Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia và Malaysia.
1.7. Khuyến cáo chính sách
Trong tình hình giảm cung và giá phục hồi như hiện nay, ngành hồ tiêu Việt Nam nên tập
trung (1) giữ ổn định diện tích canh tác hồ tiêu, giúp nông dân giải quyết dịch hại để giữ ổn
định năng suất và sản lượng; (2) tiếp tục nâng cao công nghệ chế biến để đạt chất lượng
hạt tiêu xuất khẩu cao hơn; (3) có những hoạt động nhằm điều phối, thống nhất việc xuất
B3 - 128 Thuỵ Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Tel: 84-4-7280493; Email: cap@ipsard.gov.vn
13
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
khẩu tiêu giữa các doanh nghiệp để đạt được lợi ích chung cao nhất dựa trên các dự báo,
thông tin thị trường chính xác và (4) liên kết với hệ thống ngân hàng để có đủ vốn thu mua
và dự trữ nguyên liệu ngay từ đầu vụ tđể nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của toàn
ngành.
2. Ngành hàng Hạt điều nhân
2.1. Tình hình chung
Sản lượng hạt điều thế giới mấy năm qua liên tục tăng, phản ánh xu hướng sản lượng của
châu Phi và Việt Nam, mà nguyên nhân chính là tăng diện tích trồng điều. Theo số liệu của
FAO, diện tích điều cho thu hoạch năm 2004 của 20 nước có diện tích điều lớn nhất vào
khoảng 3,1 triệu ha so với 2,1 triệu ha trong năm 1993. Trong đó, năm nước có diện tích
điều đang thu hoạch lớn nhất là Ấn Độ (730 ngàn ha, 23,8%); Brazil (691 ngàn ha, 22,5%);
Nigeria (324 ngàn ha, 10,6%; Việt Nam (282 ngàn ha, 9,2%) và Indonesia (260 ngàn ha,
8,5%).
Trong vòng 10 năm qua, sản lượng điều thế giới tăng gấp hơn 2 lần, đạt gần 2 triệu tấn.
Trong đó, hai nước có sản lượng lớn nhất là Ấn Độ và Việt Nam. Việt Nam đang tiến sát
Ấn Độ về sản xuất điều. Sản lượng điều thô Ấn Độ tài khoá 2005/06 đạt 573.000 tấn, so
với 544.000 tấn tài khoá 2004/05 và 535.000 tấn tài khoá trước đó. Xuất khẩu nhân điều
Ấn Độ năm 2005/06 đạt 114.143 tấn, so với 126.667 tấn năm 2004/05. Trong khi đó, Việt
Nam bắt đầu vượt qua mức 100.000 tấn nhân điều xuất khẩu từ năm 2004 và đạt khoảng
109.000 tấn nhân điều xuất khẩu năm 2005. Khác biệt cơ bản là Việt Nam xuất khẩu hầu
hết nhân hạt điều sản xuất được trong khi Ấn Độ tự tiêu thụ gần một nửa sản lượng.
B3 - 128 Thuỵ Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Tel: 84-4-7280493; Email: cap@ipsard.gov.vn
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét