Chuyên đề thực tập
nhau tuỳ thuộc vào tập quán, trình độ phát triển của mỗi vùng, đặc biệt là thẻ có hạn
mức tín dụng cao (trên 5000USD) hơn thẻ thường.
Thẻ thường (standard card): Đây là loại thẻ căn bản nhất, là loại thẻ mang tính
chất phổ biến được hơn 142 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi ngày. Hạn mức tuỳ
thuộc vào mỗi ngân hàng quy định (thường khoảng 1000USD).
* Theo phạm vi sử dụng:
Thẻ nội địa: Thẻ do ngân hàng phát hành thẻ trong nước phát hành và sử dụng
thanh toán ở trong nước, giao dịch bằng đồng nội tệ.
Thẻ quốc tế: Thẻ do ngân hàng phát hành thẻ trong 粄 nước phát hành, được sử
dụng để thanh toán trong và ngoài lãnh thổ nước đó hoặc thẻ được phát hành ở nước
ngoài nhưng sử dụng thanh toán trong nước. Thẻ thanh toán bằng đồng ngoại tệ
mạnh.
* Theo công nghệ làm thẻ:
Thẻ khắc chữ nổi: Thẻ được làm trên kỹ thuật khắc chữ nổi, các thông tin cần
thiết đều được khắc nổi trên thẻ do đó lưu giữ được ít thông tin và thẻ dễ bị làm giả ,
hiện nay những loại thẻ này không còn được sử dụng nữa.
Thẻ băng từ: Thẻ có băng từ lưu giữ thông tin. Nhược điểm của nó là chứa đựng
ít thông tin, chỉ mang được những thông tin cố định, thông tin chưa được mã hoá do
vậy kém an toàn và dễ làm giả.
Thẻ thông minh: Thẻ có gắn chíp điện tử để lưu giữ thông tin, có thể lưu giữ tối
đa 200 giao dịch gần nhất, và có độ an toàn cao, khó làm giả do thông tin được mã
hoá.
*Theo tính chất thanh toán:
Thẻ tín dụng (credit card): còn gọi là thẻ ghi nợ hoãn hiệu hay chậm trả, trong đó
chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ, rút tiền mặt trong hạn mức
tín dụng được ngân hàng phát hành thẻ chấp thuận theo hợp đồng.
Thẻ ghi nợ (debit card): Thẻ này có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản
tiền gửi của chủ thẻ. Loại thẻ này khi mua hàng hoá, dịch vụ, giá trị những khoản
giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ và dồng thời ghi có
ngay vào tài khoản của đơn vị chấp nhận thẻ.Thẻ ghi nợ có 2 loại: thẻ online và thẻ
offline.
Sinh viên thực hiện: Trần Việt Anh Lớp Ngân hàng 45C
5
Chuyên đề thực tập
Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): là loại thẻ được dùng để rút tiền mặt tại các máy
rút tiền tự động ATM hoặc ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút
tiền, số tiền rút ra mỗi lần sẽ được trừ vào số tiền ký quỹ.
* Theo đối tượng chịu trách nhiệm thanh toán:
Thẻ cá nhân: Thẻ phát hành cho các cá nhân có nhu cầu và đáp ứng⺛đủ điều
kiện phát hành thẻ. Chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu trên thẻ
bằng nguồn tiền của bản thân minh và có thẻ phát hành thêm thẻ phụ.
Thẻ cá nhân do công ty uỷ quyền sử dụng: Thẻ phát hành cho cá nhân thuộc một
tổ chức, công ty đứng tên xin phát hành thẻ uỷ quyền cho cá nhân đó sử dụng thẻ và
chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu trên thẻ bằng nguồn tiền của tổ chức,
công ty đó.
1.1.2 Các chủ thể tham gia vào thị trường thẻ:
a. Chủ thẻ:
Là người có tên trên thẻ và được quyền sử dụng thẻ. Chủ thẻ có thể là một cá
nhân riêng lẻ, hay đại diện cho một tổ chức hay công ty nào đó có nhu cầu sử dụng
thẻ. Chủ thẻ có thể yêu cầu cấp thêm thẻ phụ cho người thân, một chủ thẻ có thể sở
hữu một hay nhiều thẻ và phaỉ trả phí cho Ngân hàng phát hành thẻ.
b. Ngân hàng phát hành thẻ:
Là thành viên chính thức của tổ chức thẻ và được phép phát hành thẻ. Ngân hàng
này có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý hồ sơ xin cấp thẻ, thiết kế phôi thẻ để đảm bảo an
toàn cho quá trình sử dụng thẻ, sau đó phát hành thẻ cho kháchh hàng, mở và quản lý
tài khoản thẻ, chịu trách nhiệm về thanh toán số tiền mà khách hàng trả cho người
bán hàng bằng thẻ.
c. Đơn vị chấp nhận thẻ:
Là đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ thanh toán bằng thẻ 욱 là đơn vị đoợc
ngân hàng uỷ quyền cung ứng tiền mặt cho chủ thẻ khi chủ thẻ có nhucầu rút tiền
mặt.
d. Ngân hàng thanh toán:
Khác với Ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán chỉ là tổ chức thực hiện
thanh toán thẻ, nếu chấp nhận thanh toán thẻ quốc tế thì phải là thành viên của tổ
chức thẻ quốc tê.
Sinh viên thực hiện: Trần Việt Anh Lớp Ngân hàng 45C
6
Chuyên đề thực tập
e. Ngân hàng đại lý thanh toán:
Là ngân hàng đợc ngân hàng thanh toán chọn thực hiện một số dịch vụ thanh
toán thẻ thông qua Ngân hàng đại lý thanh toán vưói cơ sở chấp nhận thẻ, ứng tiền
mặt cho chủ thẻ.
f. Tổ chức thẻ quốc tế:
Là hiệp hội các thành viên phát hành và thanh toán thẻ tín dụng quốc tế đồng
thời là trung tâm cấp phép và xử lý thanh toán của các thành viên.
1.1.3 Tiện ích của thẻ:
a. Đối với nền kinh tế:
Việc thanh toán qua thẻ đã tạo điều kiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ một
cách an toàn và có hiệu quả, chính xác, tin cậy và tiết kiệm nhiều thời gian, qua đó
tạo lập niềm tin của dân chúng vào hoạt động của hệ thống ngân hàng. Đặc biệt việc
thanh toán bằng thẻ làm giảm nhu cầu giữ tiền mặt, giảm lượng tiền mặt trong lưu
thông qua đó giúp giảm các chi phí vận chuyển, phát hành tiền, thậm chí chống việc
sử dụng tiền giả trong nền kinh tế.
Tăng cường hoạt động lưu thông tiền trong nền kinh tế, tăng cường vòng quay
của đồng tiền, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát khối lượng giao dịch thanh
toán của dân cư và của cả nền kinh tế, tạo tiền đề cho việc tính toán lượng tiền cung
ứng và điều hành, thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước có hiệu quả.
Hạn chế các hoạt động kinh tế ngầm như: rửa tiền, kiểm soát các hoạt động giao
dịch kinh tế giảm thiểu các tác động tiêu cực của các hoạt động kinh tế ngầm, tăng
cường tính chủ đạo của nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế và điều hành chính
sách kinh tế tài chính quốc gia.
b. Đối với chủ thẻ:
Sử dụng thẻ đem lại sự thuận tiện trong tiêu dùng. Với kích thước nhỏ gọn của
thẻ, khách hàng không phải mang theo một khối lượng tiền lớn mà vẫn thoải mái mua
sắm ở mọi nơi, kể cả trong nước hay nước ngoài. Ngoài ra với máy rút tiền tự động
24/24h được lắp đặt ở các nơi công cộng sẽ giúp họ linh hoạt trong việc tiêu dung.
Thẻ có thể rút tiền mặt bất kì lúc nào, ngay cả ngày lễ hay ngoài giờ làm việc. Đặc
biệt đối với thẻ tín dụng, chủ thẻ có thể mở rộng khả năng tài chính vượt khỏi giới
hạn thu nhập của mình.
Sinh viên thực hiện: Trần Việt Anh Lớp Ngân hàng 45C
7
Chuyên đề thực tập
c. Đối với cơ sở chấp nhận thẻ:
Khi tham gia thanh toán thẻ lợi ích mà các cơ sở chấp nhận thẻ sẽ lớn hơn rất
nhiều so với chi phí mà họ bỏ ra:
Thứ nhất, với việc chấp nhận thẻ, góp phần làm tăng doanh số bán hàng, tăng thu
nhập.
Thứ hai, việc chấp nhận thẻ thanh toán sẽ giúp cho các đơn vị đa dạng hoá
phương thức thanh toán, giảm các chi phí không cần thiết như: chi phí kiểm đếm tiền
mặt, kiểm tra tiền giả.
Thứ ba, được hưởng các chương trình chăm sóc khách hàng của ngân hàng, từ đó
tăng cường mối quan hệ mật thiết với khách hàng.
d. Đối với ngân hàng:
Dịch vụ thanh toán thẻ mang lại một nguồn thu lớn và ổn định cho ngân hàng
thông qua các khoản phí dịch vụ. Và thẻ ngân hàng còn có vai trò là một tấm đệm an
toàn khi nó bù đắp cho những hoạt động kém sinh lời như hoạt động kinh doanh trên
tài khoản vãng lai (current account). Đây có thể gọi là sự hỗ trợ chéo có hiệu quả cho
ngân hàng. Hơn nữa, sự ra đời của thẻ ngân hàng góp phần làm phong phú thêm các
loại dịch vụ thanh toán, đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất. Đặc biệt, khi
các ngân hàng nhận làm đại lý cho tổ chức quốc tế thì khi đó ngân hàng đã thực hiện
một bước hội nhập với cộng đồng tài chính ngân hàng quốc tế. Bên cạnh đó, số dư
tiền gửi trên tài khoản của khách hàng xin phát hành thẻ tạo cho ngân hàng có thêm
nguồn vốn huy động để cho vay.
1.2. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ
Tổng quan nghiệp vụ kinh doanh thẻ bao gồm hai nghiệp vụ cơ bản: phát hành
thẻ và thanh toán thẻ. Tuỳ vào đặc thù hoạt động và tình hình tài chính của mỗi tổ
chức phát hành thẻ nên quy trình nghiệp vụ chi tiết của mỗi loại thẻ là không giống
nhau, nhưng nhìn chung nó đều dựa trên những qui định chung như: khi thực hiện
nghiệp vụ phát hành thì phải thẩm định, khi thực hiện hạch toán sẽ ghi Nợ trước Có
sau.
Sinh viên thực hiện: Trần Việt Anh Lớp Ngân hàng 45C
8
Chuyên đề thực tập
1.2.1 Các nghiệp vụ kinh doanh thẻ:
a. Nghiệp vụ phát hành thẻ:
Việc phát hành thẻ của một ngân hàng đều phải dựa trên những cơ sở pháp lý của
Nhà nước sở tại, đồng thời phải tuân thủ theo những quy định của tổ chức thẻ quốc
tế. Bên cạnh đó, những quy tắc mà ban giám đốc ngân hàng phát hành đưa ra cũng
đóng vai trò quan trọng.
Phát hành thẻ có rất nhiều hình thức khác nhau nhưng nhìn chung có 2 loại là
phát hành thẻ mới và phát hành lại. Cả hai loại này đều được thực hiện theo quy trình
sau:
(1)Chủ thẻ gửi hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ đến chi nhánh phát hành thẻ.
(2)Sau khi thẩm định hồ sơ, trình giám đốc chi nhánh xét duyệt, gửi đến trung
tâm thẻ để yêu cầu phát hành.
(3)Sau khi kiểm tra 溯 ác dữ liệu nhận được trung tâm thẻ sẽ tiến hành mã hoá
các thông tin cần thiết, xác định mã số cá nhân của chủ thẻ, rồi gửi đến chi nhánh
phát hành.
(4a)Khi nhận được thẻ từ trung tâm thẻ, chi nhanh phát hành bản fax xác nhận đã
nhận đủ thẻ và mã số cá nhân.
(4b)Chi nhánh phát hành thông báo cho khách hàng đến nhận hoặc gửi bảo đảm
cho khách (nếu có yêu cầu từ phía khách hàng).
b. Nghiệp vụ thanh toán thẻ:
Nghiệp vụ thanh toán thẻ bắt đầu khi chủ thẻ tiến hành mua bán, giao dịch tại các
cơ sở chấp nhận thẻ, máy rút tiền tự động ATM và ngân hàng đại lý. Khác với nghiệp
Sinh viên thực hiện: Trần Việt Anh Lớp Ngân hàng 45C
9
Chủ thẻ
Chi nhánh
phát hành
Trung tâm thẻ
Chuyên đề thực tập
vụ phát hành chỉ do ngân hàng phát hành thực hiện, nghiệp vụ thanh toán thẻ có sự
tham gia của hầu hết các thành viên trên thị trường thẻ, gồm các bước sau:
Chủ thẻ dùng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các
cơ sở chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý.
Cở sở chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý khi nhận được thẻ từ khách hàng phải
kiểm tra tính hợp lệ của thẻ như: logo, biểu tượng của thẻ quốc tế, băn chữ ký, ký
hiệu đặc biệt, thời hạn hiệu lực, các yếu tố in nổi trên thẻ, nếu hợp lệ cơ sở chấp nhận
thẻ sẽ cung cấp hàng hoá dịch vụ cho khách hàng.
Cơ sở chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý gửi hoá đơn thẻ cho ngân hàng thanh
toán.
Ngân hàng thanh toán tổng hợp toàn bộ các giao dịch phát sinh từ thẻ và truyền
dữ liệu về tổ chức thẻ quốc tế (trong trường hợp thẻ quốc tế).
Tổ chức thẻ quốc tế ghi Có cho ngân hàng thanh toán.
Tổ chức thẻ quốc tế báo Nợ cho ngân hàng phát hành.
Ngân hàng phát hành thanh toán Nợ cho Tổ chức thẻ quốc tế.
Ngân hàng phát hành gửi sao kê cho chủ thẻ.
Chủ thẻ thanh toán Nợ cho ngân hàng phát hành; hoặc ngân hàng phát hành sẽ
ghi nợ vào tài khoản của chủ thẻ trong trường hợp chủ thẻ có tài khoản mở tại ngân
hàng phát hành.
Sinh viên thực hiện: Trần Việt Anh Lớp Ngân hàng 45C
10
Chủ thẻ Ngân hàng phát hành
Cơ sở chấp nhận thẻ
Ngân hàng thanh toán
Tổ chức thẻ quốc tế
Chuyên đề thực tập
Quy trình này áp dụng cho thẻ quốc tế, còn đối với thẻ nội địa quy trình thanh
toán cũng tương tự như vậy nhưng không có sự tham gia của tổ chức thẻ quốc tế.
1.2.2 Rủi ro trong kinh doanh thẻ:
a. Rủi ro trong nghiệp vụ phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ:
Đơn phát hành thẻ với các thông tin giả mạo: Đơn xin phát hành thẻ của khách
hàng có các thông tin giả mạo hoặc không đầy đủ, khi thẩm định nếu ngân hàng
không phát hiện ra sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng khi chủ thẻ sẻ dụng thẻ
mà không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán.
Thẻ giả: Những thẻ này được làm căn cứ vào các thông tin có được từ chứng từ
giao dịch thẻ, hoặc từ thẻ bị mất cắp, thẻ bị thất lạc. Đây là loại rủi ro nguy hiểm nhất
mà các tổ chức thẻ rất quan tâm và có khả năng gây tổn thất cho ngân hàng phát hành
vì theo tổ chức thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ phải chịu trách nhiệm với mọi
giao dịch mang mã số ngân hàng phát hành thẻ.
Thẻ mất cắp, thất lạc: thẻ bị mất cắp, thất lạc mà chủ thẻ chưa kịp thông báo cho
Ngân hàng phát hành để khoá thẻ sẽ gặp rủi ro nếu tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng
và Ngân hàng phát hành không chịu trách nhiệm.
Chủ thẻ không nhận được thẻ do Ngân hàng phát hành thẻ gửi: Ngân hàng phát
hành thẻ đã gửi thẻ cho chủ thẻ qua đường bưu điện, nhưng thẻ bị đánh cắp trên
đường đi, do vậy thẻ bị sử dụng mà chủ thẻ thực không biết. Rủi ro này Ngân hàng
phát hành phải chịu.
Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng: Ngân hàng phát hành thẻ nhận được thông
báo thay đổi địa chỉ của chủ thẻ và được yêu cầu gửi thẻ mới về địa chỉ này. Rủi ro
xảy ra khi thẻ bị sử dụng mà chủ thẻ đích thực không biết. Mọi tổn thất do giao dịch
phát sinh trên thẻ này Ngân hàng phát hành phải chịu.
Thanh toán hàng hoá, dịch vụ bằng thẻ qua thư, điện thoại: Rủi ro xảy ra khi Đơn
vị chấp nhận thẻ cung cấp hàng hoá dịch vụ theo yêu cầu qua thư, fax dựa trên các
thông tin giả mạo như: loại thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu lực.
Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ in nhiều hoá đơn thanh toán của một thẻ: khi
thực hiện giao dịch, nhân viên của đơn vị chấp nhận thẻ cố tình in nhiều hoá đơn
thanh toán nhưng chỉ giao một hoá đơn cho chủ thẻ kí. Sau đó nhân viên này giả mạo
chữ kí của chủ thẻ và nộp những hoá đơn đó cho Ngân hàng thanh toán đòi tiền.
Sinh viên thực hiện: Trần Việt Anh Lớp Ngân hàng 45C
11
Chuyên đề thực tập
Sao chép, tạo băng từ giả:Các tổ chức tội phạm lấy cắp thông tin trên băng từ của
thẻ thật được sử dụng tại các đơn vị chấp nhận thẻ, chúng mã hoá tạo ra các thẻ giả.
Cách thực này khá tinh vi, rất khó phát hiện và gây tổn thất lớn cho ngân hàng phát
hành thẻ.
Rủi ro tín dụng: Rủi ro xảy ra khi thẻ được sử dụng nhưng không được thanh
toán.
Ngoài những rủi ro nêu trên còn có các rủi ro do: lộ PIN, hệ thống máy móc bị
trục trặc, Đơn vị chấp nhận thẻ vượt quá hạn mức giao dịch mà không xin phép.
b. Rủi ro về môi trường pháp lý:
Nhìn chung rủi ro này thường chỉ xảy ra đối với những quốc gia đang phát triển
và mới tham gia vào lĩnh vực hoạt động thẻ do hệ thống băn bản pháp luật còn chưa
hoàn chỉnh. Nhất là khi luật trong nước chưa thống nhất với thông luật quốc tế, các
quy định cũng chưa có chuẩn mực chung dẫn đến việc các ngân hàng sẽ rất lúng túng
khi áp dụng và rủi ra xảy ra là điều khó tránh khỏi.
c. Rủi ro về kinh tế:
Thu nhập của người dân chưa cao và chưa ổn định, các chính sách về thu nhập
cũng như các chính sách về thuế nhập khẩu thường có những thay đổi, đã làm ảnh
hưởng đến khả năng chi trả và khả năng hoàn trả của chủ thẻ cũng như hiệu quả của
việc đầu tư, đổi mới trang thiết bị ngành thẻ.
d. Rủi ro về chính trị:
Các hệ thống chính trị khác nhau sẽ có tác động đến hệ thống kinh tế khác nhau
dẫn đến khả năng có thẻ xảy ra rủi ro, đặc biệt là mối quan hệ với nước ngoài hoặc
các tổ chức quốc tế. Bất cứ một lệnh cấm nào có hiệu lực đối với nước có liên quan
đều ảnh hưởng và có thể gây ra rủi ro.
e. Rủi ro về xã hội:
Đây là rủi ro rất khó khắc phục bởi nó là vấn đền trình độ dân trí và khả năng
nhận thức của người dân như: vấn đề bảo mật thông tin thẻ, bảo quan thiết bị giao
dịch tự động đặt tại các nơi công cộng. Đặc biệt về phía ngân hàng, do chưa nhận
thức hết được trách nhiệm, quyền hạn cũng như trình độ xử lý nghiệp vụ kém thì việc
dẫn đến sai sót, vi phạm cố tình hay vô ý là khó tránh khỏi.
f. Rủi ro về kĩ thuật và công nghệ:
Sinh viên thực hiện: Trần Việt Anh Lớp Ngân hàng 45C
12
Chuyên đề thực tập
Rủi ro ngày càng trở nên phức tạp theo trình độ phát triển của khoa học công
nghệ. Bất kì một sự cố trục trặc nào của thiết bị đều gây ra những tổn thất to lớn, rồi
sẽ gây ra hiệu ứng đôminô bởi nó có thể làm nghẽn mạch cả hệ thống. Và càng
nghiêm trọng khi mạng thanh toán được kết nối toàn cầu thì mức độ ảnh hưởng của
nó không thể lường được.
Mục tiêu hàng đầu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận. Mà rủi ro lại luôn tồn
tại song với lợi nhuận. Vì vậy để gia tăng hiệu quả kinh doanh thẻ thỉ phải có những
giải pháp hữu hiệu nhằm hạn chế rủi ro tối đa để có sự ổn định trong kinh doanh và
cơ hội phát triển.
1.2.3 Hiệu quả hoạt động kinh doanh thẻ đối với ngân hàng thương mại:
a. Đối với hoạt động của ngân hàng thương mại nói riêng:
Việc phát hành và chấp nhận thẻ thanh toán mang lại rất nhiều lợi ích không chỉ
cho ngân hàng, cho sự phát triển của xã hội mà đặc biệt là cho sự thuận tiện của
khách hàng. Với nhu cầu đòi hỏi tất yếu của khách hàng, của thị trường, việc đáp ứng
dịch vụ ngân hàng bán lẻ này là phương tiện mang lại sự phát triển thành công và bền
vững cho ngân hàng.
Kinh doanh thẻ - Một hình thức dịch vụ đem lại hiệu quả cao.
Với những đặc điểm của thị trường và thực trạng thị trường Việt Nam hiện nay,
các ngân hàng vẫn chưa khai thác hết được tiềm năng do: dân chúng vẫn chưa thay
đổi thói quen dùng tiền mặt trong thanh toán, giao dịch. Khi việc thanh toán bằng thẻ
phát triển, thay thế thói quen dùng tiền mặt thì thị trường thẻ sẽ phát triển rất nhanh.
Đây là cơ hội để các ngân hàng tham gia và phát triển hoạt động kinh doanh thẻ.
Kinh doanh thẻ- Tạo hình ảnh tốt về một ngân hàng hiện đại, phù hợp với xu thế
phát triển của thương mại điện tử.
Sự phát triển của thương mại điện tử có tác động rất lớn đến hoạt động kinh
doanh ngân hàng. Thương mại điện tử đặt ra những yêu cầu cấp thiết về sự hiện đại
hoá hoạt động ngân hàng. Có một thực tế là: với sự lớn mạnh của Internet, sự phát
triển vũ bão của công nghệ thông tin, cùng những bước tiến nhanh của thương mại
điện tử, các ngân hàng truyền thống đang đứng trước thách thức cạnh tranh bởi việc
áp dụng thương mại điện tử của các tổ chức phi tài chính như hệ thống siêu thị, cửa
hàng, thậm chỉ cả những nhà sản xuất cũng bắt đầu đưa ra các sản phẩm tài chính
Sinh viên thực hiện: Trần Việt Anh Lớp Ngân hàng 45C
13
Chuyên đề thực tập
như thẻ mua hàng tín dụng, mua hàng trả chậm, bán bảo hiểm. Các công ty này có lợi
thế về mạng lưới phân phối sản phẩm đến tận tay khách hàng, giá cả tín dụng cạnh
tranh do bù vào lợi nhuận bán hàng mà có, đồng thời thủ tục cấp tín dụng cũng đơn
giản và linh hoạt hơn nhiều so với hệ thống ngân hàng truyền thống.
Tại Việt Nam, xu thế phát triển của thương mại điện tử đã bắt đầu đặt hệ thống
ngân hàng trước một nhu cầu mới. Các ngân hàng trong nước sẽ phải phát huy mọi
nội lực, tích cực nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ để tiếp cận với xu thế
mới mẻ này. Các ngân hàng cần phải tối ưu hoá hoạt động nghiệp vụ, kinh doanh
truyền thống đồng thời phải hiện đại hoá để có thể đứng vững, phát triển và đáp ứng
được yêu cầu của thương mại điện tử. Một trong những lĩnh vực không thể thiếu
trong thanh toán điện tử chính là dịch vụ thẻ ngân hàng.
Kinh doanh thẻ - Thu hút được một lượng khách hàng lớn.
Với mạng lưới hoạt động khá rộng lớn, trên toàn quốc: năm thành phố lớn và các
tỉnh thành trong cả nước. Các ngân hàng sẽ thu hút thêm được một lượng khách hàng
lớn nếu triển khai dịch vụ thẻ. Hiện nay, khi mở tài khoản các nhân để hoạt động, rất
nhiều khách hàng đã đề cập đến dịch vụ thẻ, coi đó như một nội dung thiết yếu để
thuyết phục khách hàng. Sự hài lòng thuận tiện cho khách hàng hiện có là nhân tố
thúc đẩy việc thu hút thêm khách hàng mới. Thông qua dịch vụ thẻ, khách hàng sẽ
biết đến các dịch vụ khác của ngân hàng và như vậy lượng khách hàng tiềm năng của
các sản phẩm quan trọng khác sẽ lớn hơn.
Kinh doanh thẻ - Mở rộng mạng lưới dịch vụ trong toàn quốc cũng như trên thế
giới.
Thông qua việc phát hành thẻ sẽ giúp ngân hàng mở rộng mạng lưới dịch vụ
khắp trên toàn quốc cũng như trên thế giới. Với những phương thức phục vụ khách
hàng tiên tiến như dịch vụ gửi tiền một nơi rút ở nhiều nơi (qua hình thức Debit Card,
ATM) hay dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại các cơ sở chấp nhận thẻ. Như
vậy, bằng việc phát hành và thanh toán thẻ đã giúp mở rộng địa bàn hoạt động của
ngân hàng, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững của các ngân
hàng.
Kinh doanh thẻ - Hiệu quả về mặt kinh tế.
Sinh viên thực hiện: Trần Việt Anh Lớp Ngân hàng 45C
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét