Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn bao gồm cả việc nuôi trồng, khai thác và
đánh bắt.
- Cũng giống như các thị trường hàng hoá khác, thị trường thuỷ sản bao
gồm nhiều cấp: cấp cơ sở, cấp địa phương, cấp trong nước và cấp nước
ngoài.
- Thị trường sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu nước ta những năm gần đây
rất phát triển và sôi động. Nhiều sản phẩm thuỷ sản chiếm được vị thế trên
thị trường thế giới, nhất là EU, Mỹ, Nhật… và kim ngạch tăng liên tục. Như
vậy thuỷ sản của Việt Nam có vị thế khá cao trong thương mại thuỷ sản thế
giới nhưng còn nhiều khó khăn và rào cản.
- Thị trường sản phẩm thuỷ sản nước ta vừa mang tính phân tán rộng lại
vừa có tính tập trung quy mô lớn.
- Thị trường sản phẩm thuỷ sản phát triển không đồng đều giữa các
vùng và giữa các khu vực trong cả nước.
- Quan hệ cung - cầu sản phẩm thuỷ sản trên thị trường từng bước ổn
định hơn.
2. Cơ cấu thị trường thuỷ sản xuất khẩu
Cơ cấu mặt hàng chế biến thuỷ sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
bao gồm:
Cá tươi và đông lạnh: được xuất khẩu sang thị trường chính như:
Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản… nhưng khối lượng xuất khẩu không lớn.
Cá và tôm là hai mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất bao gồm cá tra, cá ba
sa, cá thu có thị trường chính là Mỹ. cá ngừ chiếm 5% tổng giá trị xuất khẩu.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tôm đông lạnh: tỷ trọng xuất khẩu tôm của Việt Nam lớn nên nhà
nước cần có biện pháp và phương hướng đối với việc nuôi trồng tôm và các
thuỷ hải sản khác để giảm bớt rủi ro.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chương II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
I. Thị trường thuỷ sản EU
1. Xu hướng tiêu dùng ở EU
Hiện nay EU là thị trường rộng lớn, gồm 27 quốc gia. Thị trường EU
tổng hợp nhiều đặc điểm tiêu dùng của mỗi quốc gia làm cho nhu cầu tiêu
dùng hết sức phong phú mang đặc điểm của từng vùng lãnh thổ.
• Về mặt hàng tiêu thụ
Các sản phẩm chế biến được tiêu thụ phổ biến ở EU gồm các mặt
hàng tươi, cắt khúc, luộc, tẩm bột, đóng hộp hay hun khói. Thị trường EU
chia thành hai khu vực chính: Các nước Tây Bắc Âu và các nước Địa Trung
Hải. Các nước Tây Bắc Âu ưa chuộng các loài nước lạnh (cá trích, cá thu, cá
minh thái, cá bơn, cá hồi). Khu vực Địa Trung Hải ưa chuộng nhuyễn thể
chân đầu, nhuyễn thể hai mảnh vỏ và cá tuyết. Cá ngừ, cá hồi, cá bơn và tôm
là loài thủy sản được ưa chuộng ở khắp châu Âu.
• Về xu hướng tiêu thụ
EU là khu vực chủ yếu nhập khẩu ròng thủy hải sản do sản lượng sản
xuất không đáp ứng đủ nhu cầu. Tiêu thụ thủy hải sản bình quân đầu người ở
EU rất cao, đứng thứ hai thế giới sau Nhật Bản. Tổng mức tiêu thụ ở thị
trường EU mỗi năm vào khoảng 10 triệu tấn, bằng 12% tổng mức tiêu thụ
của thế giới. Tây Ban Nha, Pháp, Italia là những thị trường tiêu thụ hải sản
lớn nhất ở châu Âu.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nếu như ở Pháp loại cá tươi và cá phi lê được bán nhiều hơn cá
nguyên con thì ở Ba Lan lại chuộng loại mặt hàng này hơn. Đặc biệt người
Pháp còn ưa chuộng các loại động vật thân mềm, đặc biệt là hến. Ở thị
trường Đức, đến 90% các sản phẩm thủy hải sản tiêu thụ lại là cá. Những
động vật có vỏ (trai, sò, tôm, cua…) lại không được tiêu thụ mạnh. Không
giống như các nước ở khu vực Địa Trung Hải, hầu hết người tiêu dùng ở
Đức quan tâm đến những sản phẩm thủy hải sản được bảo quản và chế biến
sẵn. Ở Tây Ban Nha, cá tươi là mặt hàng tiêu thụ nhiều nhất. Tuy nhiên
động vật thân mềm, loài giáp xác (tôm, cua) và đặc biệt là mực ống cũng
được người tiêu dùng ưa chuộng. Ở Italia, phần lớn hải sản được bán dưới
dạng tươi hoặc ướp lạnh, động vật thân mềm đặc biệt phổ biến. Italia cũng là
một thị trường quan trọng đối với mực phủ, hiện nay sức tiêu thụ tôm càng
và hến có mức tăng trưởng đáng kể.
Người tiêu dùng châu Âu đang chuyển hướng mạnh sang tiêu thụ tôm
biển loại nhỏ và tôm pandan nước ấm. Xu hướng này có thể nhận thấy ở hầu
hết các nước châu Âu, ngoại trừ Đức. Hiện nay một số loài cá đang được
tiêu thụ rất mạnh ở châu Âu như cá tra, cá basa của Việt Nam và cá rô Sông
Nile với khối lượng tăng lên nhanh chóng. Những loài thủy hải sản mới này
được người tiêu dùng châu Âu ưa chuộng do có mùi vị trung tính và giá
thấp.
Hướng tới các sản phẩm có lợi cho sức khoẻ: Người tiêu dùng ngày
càng thích ứng với dạng sản phẩm an toàn. Họ thích các sản phẩm ít béo và
có giá trị dinh dưỡng cao. Thuỷ sản có hàm lượng prôtêin, các vitamin và
chất khoáng cao thích hợp cho nhu cầu này. Ngoài ra, các sản phẩm thuỷ sản
có chất lượng thường đóng vai trò chống lại các nguy cơ về sức khoẻ. Một
trong những trường hợp rõ nét nhất là dầu cá, được biết đến như axít béo
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ômega - 3 có tác dụng tích cực trong việc phòng tránh các bệnh tim mạch.
Tuy nhiên, thuỷ sản không chỉ hoàn toàn có lợi cho sức khoẻ. Chẳng hạn,
một số cảnh báo chính thức đã được đưa ra cho người tiêu dùng, đặc biệt là
phụ nữ mang thai cần phải hạn chế một số loài thuỷ sản như cá ngừ và cá
kiếm vì hàm lượng thuỷ ngân quá cao. Bên cạnh đó, việc sử dụng các chất
kháng sinh trong nuôi tôm và cá đã dẫn đến hàm lượng các chất này trong
các sản phẩm cao, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của thuỷ sản.
Hướng tới sự thuận tiện: Trong những thập kỷ gần đây, thời gian dành
cho mua sắm và chế biến món ăn đã bị rút ngắn. Vai trò của phụ nữ trong xã
hội ngày càng tăng, nhiều hộ gia đình bận rộn với công việc. Vì vậy, nhu cầu
về các sản phẩm tiêu dùng và dễ chế biến sẵn cũng tăng lên. Với xu hướng
này thì các sản phẩm thuỷ sản dường như phù hợp hơn cả vì chúng được chế
biến dễ dàng và nhanh chóng. Một số dạng sản phẩm thích nghi với xu
hướng này như :
- Phi lê cá: nhiều người tiêu dùng muốn mua sản phẩm làm sẵn.
- Ðóng gói theo khẩu phần ăn: tiện lợi hơn khi chia khẩu phần.
- Ðã qua sơ chế: để giảm thời gian nấu.
- Dễ dàng chế biến và nấu: giảm thời gian nấu.
- Mùi vị trung tính: dễ dàng kết hợp với các món khác.
• Về mức tiêu thụ.
Tiêu thụ thuỷ sản theo đầu người của EU-15 rất cao với 26,3 kg/người
năm 2002, cao hơn 10 kg so với mức trung bình của thế giới (16,3 kg/người)
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
và cao hơn mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân ở Mỹ (21,3 kg /người), Song
tiêu thụ thuỷ sản của các nước trong khối EU rất khác nhau. Các nước vùng
Ðịa Trung Hải và Xcăngđinavơ là những nước tiêu thụ thuỷ sản chính. Tây
Ban Nha và đặc biệt là Bồ Ðào Nha có mức tiêu thụ theo đầu người cao
nhất. Tây Ban Nha là nước đông dân cư và cũng là một thị trường quan
trọng đối với các sản phẩm thuỷ sản. Tiêu thụ thuỷ sản ở Pháp đạt trên mức
trung bình của EU, đứng sau Tây Ban Nha. Ðức và Áo là hai nước xếp sau
cùng về mức tiêu thụ thuỷ sản với 14,9 kg và 14,7 kg. Các nước khu vực
trung tâm châu Âu có truyền thống tiêu thụ ít thuỷ sản hơn.
Đối với yếu tố giá: khoảng 2 năm trở lại đây, một số nước (Hà Lan,
Anh và Pháp) đã trải qua thời kỳ gọi là chiến tranh về giá giữa các nhà bán
lẻ. Ðức luôn được xem là thị trường quan tâm tới giá cả. Giá cả tăng khiến
người tiêu dùng chuyển sang tiêu thụ các sản phẩm có giá thấp hơn. Trong
môi trường cạnh tranh, nhu cầu cho các sản phẩm đơn giản và giá rẻ được
thể hiện rõ nét và thành công của các sản phẩm cá vược sông Nile, cá rô phi
và cá tra, ba sa của Việt Nam. Những loài này thường có giá rất hấp dẫn
Bên cạnh đó, người tiêu dùng EU có xu hướng tiêu dùng có trách
nhiệm với xã hội: Với tư cách là những công dân, người tiêu dùng ở những
nước châu Âu thể hiện mối quan tâm của mình về các hoạt động liên quan
đến môi trường và xã hội của các công ty sản xuất thực phẩm. Những người
này thường thúc ép chính phủ và các công ty quan tâm đến các vấn đề này.
Một số vấn đề họ quan tâm đến nhiều nhất là:
- Sự khai thác quá mức các ngư trường, sự suy thoái trữ lượng thuỷ
sản và sự cạnh tranh giữa các hoạt động khai thác và bảo tồn thiên
nhiên.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Các vấn đề về vệ sinh và môi trường khi nuôi như sử dụng kháng
sinh, ô nhiễm nguồn nước, sử dụng cá làm thức ăn động vật.
- Các khía cạnh xã hội trong nuôi trồng và khai thác như vấn đề về
giới, vị thế của các nhà sản xuất thủ công.
Trên thị trường EU hình thành 3 nhóm tiêu dùng chính. Nhóm có khả
năng thanh toán cao chiếm 20% dân số nên xu hướng tiêu dùng của nhóm
này là thích những hàng hoá có chất lượng tốt, hiếm. nhóm có khả năng
thanh toán trung bình chiếm 68% dân số nên xu hướng tiêu dùng những sản
phẩm có chất lượng thấp hơn. Nhóm còn lại có khả năng thanh toán thấp nên
xu hướng tiêu thụ những mặt hàng có chất lượng thấp nhất.
II. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường EU
1. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường
EU
Từ năm 1996 – 1999, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
sang EU tăng rất nhanh với tốc độ trung bình hàng năm 54,92%. Theo số
liệu thống kê của EU, năm 1996 kim ngạch nhập khẩu thuỷ sản từ Việt Nam
đạt 26,9 triệu USD, năm 1997 - 65,0 triệu USD, năm 1998 tăng lên 92,5
triệu USD. Theo số liệu thống kê của Trung tâm Tin học Bộ Thuỷ sản, kim
ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU năm 1999 đạt 89,1 triệu.
Trong những năm 2000 – 2002, hoạt động xuất khẩu bị chững lại và có xu
hướng giảm sút, sau khi EU tăng cường kiểm tra dư lượng các chất kháng
sinh và hạ thấp ngưỡng phát hiện dư lượng các chất này trong sản phẩm.
Nhờ những nỗ lực khắc phục của các cơ quan quản lý, nhờ sự nỗ lực cải tiến
và quản lý chất lượng, quy trình và điều kiện sản xuất thuỷ sản của các
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
doanh nghiệp và nông ngư dân Việt Nam, từ năm 2003, kim ngạch xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng trở lại. Năm 2003,
kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang EU đạt 116, 7 triệu đôla, năm
2004 - 231,5 triệu đôla, năm 2005 - 367,3 triệu đôla. Hàng thủy sản hiện là
mặt hàng có kim ngạch đứng thứ tư trong số các mặt hàng Việt Nam xuất
khẩu vào thị trường EU. Tuy nhiên, cho đến nay, tỷ trọng nhập khẩu thủy
sản từ Việt Nam hàng năm chỉ bằng 0,3-0,4% trị giá nhập khẩu thủy sản của
toàn EU. Khối lượng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam vào EU năm 2005
mới đạt gần 120 nghìn tấn, trị giá 367,3 triệu USD, chiếm 7% kim ngạch
xuất khẩu thủy sản cả nước.
Năm 2006 thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam chiếm 2,05% nhu cầu
nhập khẩu thuỷ sản của EU. Thêm vào đó các doanh nghiệp của Việt Nam
đang được các nhà nhập khẩu EU đánh giá cao về chất lượng sản phẩm.
10 tháng đầu năm 2007, xuất khẩu thuỷ sản của cả nước tới EU đạt
226,8 nghìn tấn với kim ngạch đạt 761 triệu USD, tăng 25,63% về lượng và
27% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2006, chiếm 30,20% về lượng và
23,69% về kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
Trong đó, những nhóm hàng sau là có lượng và kim ngạch tăng so với
cùng kỳ năm 2006:
Cá đông lạnh tăng 41,38% về lượng và 41,92% về kim ngạch.
Mực đông lạnh tăng 43,49% về lượng và 70,65% về kim ngạch.
Chả cá tăng 81,33% về lượng và 83,32% về kim ngạch.
Cá khô tăng 164,65% về lượng và 102,19% về kim ngạch.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Các mặt hàng có lượng và kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm 2006
là:
Nghêu đông lạnh giảm 21,80% về lượng và 28,28% về kim ngạch.
Sò đông lạnh giảm 26,66% về lượng và 29,15% về kim ngạch.
Cồi điệp giảm 79,72% về lượng và 77,36% về kim ngạch.
Như vậy, cá đông lạnh vẫn là mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam được
EU nhập khẩu lớn nhất. Lượng nhập khẩu đạt 166 nghìn tấn với kim ngạch
đạt 477,5 triệu USD, tăng 41,4% về lượng và 41,9% về kim ngạch so với
cùng kỳ năm 2006, chiếm 73,17% về lượng và 63,49% về kim ngạch xuất
khẩu thuỷ sản của Việt Nam tới EU.
Tiếp theo là tôm đông lạnh với lượng xuất khẩu đạt 17,6 nghìn tấn với
trị giá đạt 133 triệu USD, giảm 2,1% về lượng và 1,24% về kim ngạch so
với cùng kỳ năm 2006, chiếm 7,8% về lượng và 17,68% về kim ngạch. Mực
đông lạnh chiếm 6,93% về lượng và 7,36% về kim ngạch, nghêu đông lạnh
chiếm 3,04% về lượng và 2,03% về kim ngạch. Sau đó là bạch tuộc đông
lạnh, chả cá, cá đóng hộp… là những mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt
Nam tới EU 10 tháng qua.
Khối lượng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tới EU trong năm 2007
đạt 274,7 nghìn tấn với kim ngạch đạt 912,24 triệu USD, tăng 26,53% về
lượng và 27,88% về kim ngạch so với năm 2006.
EU đang là khu vực nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất của thế giới, năm
2006 EU (25 quốc gia) nhập khẩu khoảng 38,9 tỉ USD, tăng 10,7% so với
năm 2005. Ba nhà cung cấp thuỷ sản lớn nhất của thị trường EU hiện nay là
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nauy chiếm 9,57%, Trung Quốc chiếm 3,9%, Aixơlen chiếm gần 3,9%…,
Việt Nam chiếm 2,05%. Ngoài Mỹ, Marốc, Achentina là những đối thủ cạnh
tranh khá lớn của Việt Nam tại thị trường này hiện nay.
Thời gian qua, đồng USD liên tục giảm mạnh tới mức kỷ lục so với
những đồng tiền mạnh như Euro, bảng Anh, đô la Canada, Frăng Thuỵ Sĩ,
Yên Nhật và Nhân dânt ệ. Trong khi tỉ giá của VND so với USD lại không
đổi. Do đó, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tới khu vực thị trường không
dùng đồng USD sẽ có lợi cho doanh nghiệp về quy đổi tỉ giá. Đặc biệt là
EU, khu vực có nhiều đồng tiền mạnh (Bảng Anh, Frăng Thuỵ Sĩ, Euro) và
không dùng đồng USD. Nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản của khu vực EU vẫn
đang trong xu hướng tăng trong thời gian tới.
Dự báo, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tới EU năm
2008 sẽ đạt trên 1 tỉ USD và tiếp tục là khu vực xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất
của Việt Nam.
2. Kết quả xuất khẩu thuỷ sản
Kể từ năm 2000 trở lại đây, xuất khẩu thuỷ sản của VN sang EU có xu
hướng tăng rất mạnh, gấp 6,5 lần về khối lượng từ mức 20.290 tấn năm 2000
lên 130.277 tấn năm 2005, tương tự tăng gấp 6 lần về giá trị xuất khẩu. Từ
tháng 9/2001, VN cùng một số nhà sản xuất tôm châu á (Trung Quốc,
Inđônêxia, Thái Lan) bắt đầu phải đối phó với việc EU áp dụng các chính
sách nghiêm ngặt về kiểm soát dư lượng kháng sinh, nhất là
chloramphenicol trong sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu từ các nước này vào
EU. Ðó là nguyên nhân chính dẫn đến kim ngạch xuất khẩu của VN vào
khối thị trường này đã giảm sút trong năm 2002. Từ năm 2003, nhờ sự nỗ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét