5
mình, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh và
tăng lợi nhuận. Để việc hạch tốn chi phí kinh doanh đạt được hiệu quả, các
doanh nghiệp cần nắm bắt rõ và sâu sắc bản chất kinh tế của chi phí sản xuất
kinh doanh cũng như phân loại nó theo những cách thức và mục đích nhất định.
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của tồn bộ lao động
sống và lao động vật hố mà doanh nghiệp bỏ ra liên quan đến hoạt động sản
xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, q, năm). Nói cách khác,
chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của tồn bộ hao phí mà doanh
nghiệp phải tiêu dùng trong một thời kỳ để thực hiện q trình sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm. Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn-dịch chuyển giá trị của
các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá thành (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ).
2.2.Kết cấu, nội dung chi phí sản xuất
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất khơng chỉ
đơn thuần thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn thực hiện các hoạt
động dịch vụ thương mại khác (như mua bán hàng hố, xúc tiến thương mại…).
Như vậy, khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì các doanh
nghiệp này phải bỏ ra những chi phí nhất định, bao gồm :
Chi phí sản xuất sản phẩm gồm có :
+ Chi phí ngun vật liệu trực tiếp: Là các chi phí về ngun liệu, vật liệu,
nhiên liệu được sử dụng trực tiếp vào việc chế tạo sản phẩm, hàng hố, dịch vụ.
+ Chi phí nhân cơng trực tiếp: Là các khoản trả cho người lao động trực
tiếp sản xuất như tiền cơng, tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí cơng đồn của cơng nhân trực tiếp sản
xuất.
+ Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí chung phát sinh ở các phân
xưởng như tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho nhân viên phân xưởng.
Chi phí bán hàng: Gồm các khoản chi phí phát sinh trong q trình tiêu
thụ sản phẩm, hàng hố, dịch vụ như tiền lương, các khoản phụ cấp có tính chất
lương trả cho nhân viên bán hàng, tiếp thị đóng gói, vận chuyển, bảo quản…,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
khấu hao tài sản cố định, chi phí vật liệu bao bì, dụng cụ, chi phí bảo hành sản
phẩm, chi phí quảng cáo…
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Gồm có các khoản chi cho bộ máy quản
lý và điều hành doanh nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động chung của
doanh nghiệp như chi phí về lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho
bộ máy quản lý- điều hành doanh nghiệp, các chi phí phát sinh ở phạm vi tồn
doanh nghiệp như chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, lãi vay vốn kinh doanh,
vốn đầu tư tài sản cố định, dự phòng…
Như vậy, chi phí sản xuất kinh doanh là tổng hợp từ ba chi phí bộ phận là:
Chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và được khái
qt theo cơng thức sau:
CPSXKD = CPSXSP + CPBH + CPQLDN
Trong đó: CPSXKD : Là chi phí sản xuất kinh doanh
CPSXSP : Là chi phí sản xuất sản phẩm
CPQLDN : Là chi phí quản lý doanh nghiệp
Do hoạt động chính của doanh nghiệp là sản xuất sản phẩm hàng hố nên
chi phí sản xuất sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên tỷ trọng giữa các yếu tố chi phí trong tổng
chi phí sản xuất kinh doanh là khơng giống nhau giữa các doanh nghiệp và ngay
cả trong bản thân doanh nghiệp. Sở dĩ có sự khác nhau này là do đặc điểm sản
xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp và của cả ngay doanh nghiệp đó trong
các giai đoạn sản xuất khác nhau thì kết cấu về chi phí cũng thay đổi. Tỷ trọng
chi phí này còn phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật của doanh nghiệp, điều kiện tự
nhiên, loại hình sản xuất, trình độ tổ chức quản lý của mỗi doanh nghiệp.
Việc nghiên cứu kết cấu chi phí sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất quan
trọng, khơng những cho ta biết tỷ trọng các loại chi phí trong tổng số chi phí sản
xuất kinh doanh mà còn biết được đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cũng như trình độ cơng nghệ, trình độ quản lý của doanh nghiệp. Kết cấu
chi phí sản xuất kinh doanh còn là tiền đề để kiểm tra giá thành sản phẩm, xác
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
định phương hướng cụ thể cho việc phấn đấu hạ giá thành, mà làm được điều đó
thì doanh nghiệp phải biết tiết kiệm bất kỳ một loại chi phí nào.
2.3. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, có nội dung kinh
tế, mục đích, cơng dụng khác nhau. Tuỳ thuộc vào u cầu quản lý người ta tiến
hành phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo những tiêu thức thích hợp.
Phân loại chi phí là việc xắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng
nhóm theo những đặc trưng nhất định. Xét về mặt lý luận cũng như thực tế, có
nhiều cách phân loại chi phí khác nhau, tuy nhiên lựa chọn tiêu thức phân loại
chi phí nào là phải dựa vào u cầu của cơng tác quản lý và hạch tốn. Ta có thể
tiến hành phân loại chi phí xuất kinh doanh theo một số tiêu thức phân loại chủ
yếu sau:
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế
Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung kinh tế và tính chất của chi
phí để chia ra thành các yếu tố chi phí, mỗi yếu tố chi phí có cùng nội dung kinh
tế khơng phân biệt chi phí đó phát sinh từ lĩnh vực nào, ở đâu, mục đích, tác
dụng của chi phí như thế nào. Cách phân loại này giúp cho việc
xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như lập, kiểm tra và phân
tích dự tốn chi phí. Theo quy định hiện hành thì tồn bộ chi phí được chia
thành các yếu tố sau:
- Chi phí ngun liệu, vật liệu: Gồm tồn bộ giá trị ngun vật
liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, cơng cụ dụng cụ…sử dụng vào sản
xuất kinh doanh (loại trừ giá trị khơng dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu
hồi).
- Tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Là tồn bộ tiền lương và phụ
cấp có tính chất lương mà doanh nghiệp phải trả cho cơng nhân viên chức trong
kỳ.
- Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí cơng đồn: Đây là
khoản chi phí được trích lập theo tỷ lệ % tính theo lương và quy định hiện hành
thì chiếm 19% trên tổng lương.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là tồn bộ số tiền trích khấu hao
trong kỳ của các loại tài sản cố định trong doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngồi: Là các khoản chi về điện, nước, điện thoại,
tiền trả hoa hồng đại lý, uỷ thác và mơi giới xuất-nhập khẩu, quảng cáo và các
dịch vụ mua ngồi khác.
- Chi phí khác bằng tiền: Là tồn bộ các chi phí bằng tiền chi cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngồi các khoản chi phí đã kể trên.
Cách phân loại này rất cần thiết cho cơng tác kế tốn, nó có ưu điểm là
cho biết được kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra
trong kỳ để làm căn cứ để lập thuyết minh báo cáo tài chính phần: “Chi phí sản
xuất kinh doanh theo yếu tố” phục vụ cung cấp thơng tin cho quản trị doanh
nghiệp và phân tích tình hình thực hiện dự tốn chi phí trong doanh nghiệp.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích cơng dụng
Cơ sở của phương pháp này là dựa vào cơng dụng kinh tế của chi phí, địa
điểm phát sinh cũng như mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng. Theo quy
định, giá trị tồn bộ của sản phẩm bao gồm các yếu tố sau :
- Chi phí ngun vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các loại ngun
vật liệu chính, ngun vật liệu phụ, nhiên liệu…sử dụng trực tiếp vào việc sản
xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các cơng việc lao vụ, dịch vụ. Khơng tính
vào khoản mục này những chi phí ngun vật liệu dùng vào mục đích phục vụ
nhu cầu sản xuất chung hay cho những hoạt động ngồi lĩnh vực sản xuất.
- Chi phí nhân cơng trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp
phải trả và các khoản trích BHXH, BHYT và KPCĐ, trích trước tiền lương nghỉ
phép trên tiền lương của cơng nhân trực tiếp sản xuất theo quy định. Khơng tính
vào khoản này khoản tiền lương phụ cấp và các khoản trích trên tiền lương của
nhân viên phân xưởng, nhân viên bán hàng, nhân viên quản lý doanh nghiệp hay
nhân viên khác.
- Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dùng vào việc quản lý và phục vụ
sản xuất chung tại bộ phận sản xuất (phân xưởng, đội trại…); bao gồm các điều
khoản sau:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
+ Chi phí nhân viên phân xưởng: Gồm các chi phí về tiền lương, phụ cấp
phải trả và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương của nhân viên
quản lý, nhân viên thống kê, nhân viên bảo vệ…tại phân xưởng sản xuất theo
quy định.
+ Chi phí vật liệu: Gồm vật liệu các loại sử dụng cho nhu cầu sản xuất
chung của phân xưởng (đội, trại …) sản xuất, như dùng để sửa chữa tài sản cố
định, dùng cho cơng tác quản lý tại phân xưởng.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Chi phí về các loại cơng cụ, dụng cụ dùng
cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng sản xuất như khn mẫu, dụng cụ,
giá lắp, dụng cụ cầm tay…
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm số khấu hao của tài sản cố
định hữu hình, tài sản vơ hình và tài sản cố định th tài chính sử dụng ở phân
xưởng sản xuất như khấu máy móc thiết bị sản xuất, khấu hao nhà xưởng…
+ Chi phí dịch vụ mua ngồi: Bao gồm các khoản chi về dịch vụ mua
ngồi, th ngồi để sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng sản
xuất như chi phí về điện, nước, điện thoại, th sửa chữa tài sản cố định.
+ Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm các khoản chi bằng tiền ngồi các
khoản chi đã kể trên, sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng sản
xuất.
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, cơng dụng kinh tế có tác dụng
phục vụ cho việc quản lý chi phí theo định mức; là cơ sở cho kế tốn tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục; là căn cứ để phân tích
tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức cho kỳ sau.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với khối
lượng sản phẩm, cơng việc, lao vụ
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất kinh doanh với khối lượng
hoạt động (tính theo sản lượng hàng hố hoặc doanh thu), người ta chia chi phí
làm loại :
- Chi phí khả biến hoặc biến phí: Là các khoản chi phí thay đổi tỷ lệ
thuận với khối lượng sản xuất ra. Sự thay đổi này chỉ đúng khi ta xét về tổng thể
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
chi phí trên khối lượng tổng sản phẩm hàng hố sản xuất ra nhưng nếu tính cho
một đơn vị sản phẩm thì lại khơng đổi. Những chi phí thuộc về chi phí khả biến
gồm có: Chi phí ngun vật liệu trực tiếp, nhiên liệu, động lực, tiền lương cơng
nhân trực tiếp sản xuất, hoa hồng đại lý và các khoản chi phí khác.
- Chi phí bất biến (hay còn gọi là định phí): Là các khoản chi phí khơng
đổi khi khối lượng sản phẩm sản xuất ra thay đổi trong một phạm vi nhất định
nào đó. Ngược lại, chi phí bất biến tính về tổng thể (trong phạm vi giới hạn khối
lượng sản phẩm sản xuất ra) là khơng đổi nhưng chi phí bất biến tính cho một
đơn vị sản phẩm sẽ giảm đi khi khối lượng sản phẩm sản xuất ra tăng lên và
ngược lại. Những chi phí thuộc về biến phí bao gồm : Chi phí khấu hao tài sản
cố định, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, tiền lương bộ phận quản lý doanh
nghiệp, tiền th nhà xưởng, đất đai máy móc, chi phí bảo hiểm…
- Chi phí hỗn hợp: Là các khoản chi phí vừa thể hiện đặc tính định phí
vừa thể hiện đặc tính của biến phí. Thuộc loại chi phí này bao gồm: Chi phí về
tiền điện, điện thoại, fax, chi phí sửa chữa thường xun tài sản cố định.
Việc phân loại chi phí theo phương pháp này có ý nghĩa lớn đối với cơng
tác quản lý doanh nghiệp. Qua việc xem xét mối quan hệ giữa khối lượng sản
xuất với chi phí bỏ ra giúp các nhà quản lý tìm ra những biện pháp quản lý thích
hợp với từng loại chi phí để tiến tới hạ thấp giá thành sản phẩm. Đồng thời việc
phân loại này có tác dụng xây dựng các mơ hình chi phí trong mối quan hệ với
sản lượng và lợi nhuận, xác định điểm hồ vốn và phục vụ các quyết định quan
trọng khác trong q trình sản xuất kinh doanh.
* Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí
trực tiếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí trực tiếp: Là chi phí liên quan trực tiếp đến việc sản xuất một
loại sản phẩm, một cơng việc, lao vụ hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất
định và hồn tồn có thể hạch tốn , quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, cơng việc
lao vụ, dịch vụ đó.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
- Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm,
cơng việc lao vụ, dịch vụ, nhiều đối tượng khác nhau nên phải tập hợp, quy nạp
cho từng đối tượng bằng cách phân bổ gián tiếp.
Cách phân loại này có ý nghĩa thuần t đối với kỹ thuật hạch tốn,
trường hợp có phát sinh chi phí gián tiếp bắt buộc phải áp dụng phương pháp
phân bổ, lựa chọn tiêu thức phân bổ phù hợp. Mức độ chính xác của chi phí gián
tiếp tập hợp cho từng đối tượng phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu
chuẩn phân bổ chi phí. Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp phải hết sức quan
tâm đến việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí nếu muốn có thơng tin chuẩn
mực về chi phí và kết quả lợi nhuận từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng loại hoạt
động doanh nghệp.
Ngồi các cách phân loại chi phí trên, người ta còn phân loại chi phí sản
xuất theo các tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên việc lựa chọn tiêu thức phân loại
nào là tuỳ thuộc vào tính chất, địa điểm, ngành nghề kinh doanh và mục tiêu
quản lý.
3. Giá thành sản phẩm
3.1. Khái niệm, bản chất và nội dung của giá thành sản phẩm
* Khái niệm
Sự vận động của q trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp sản xuất
bao gồm hai mặt đối lập nhau nhưng có liên quan mật thiết với nhau. Một là chi
phí mà doanh nghiệp bỏ ra, mặt khác là kết quả sản xuất mà doanh nghiệp thu
được. Những sản phẩm, cơng việc, lao vụ nhất định đã hồn thành phục vụ cho
nhu cầu tiêu dùng của xã hội cần được tính giá thành.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí về lao
động sống và lao động vật hố có liên quan đến khối lượng cơng tác, sản phẩm,
lao vụ đã hồn thành trong kỳ (tháng, q, năm). Những khoản chi phí nào phát
sinh (bao gồm cả kỳ trước chuyển sang và phát sinh trong kỳ) và chi phí trích
trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm dịch vụ trong kỳ sẽ tạo nên giá
thành sản phẩm. Hay nói cách khác bản chất của giá thành sản phẩm là tập hợp
các chi phí sản xuất nhưng được kết tinh trong sản phẩm đã hồn thành. Do đó
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
khi muốn xác định giá thành của sản phẩm thì ta phải xác định và tập hợp chi
phí được một cách chính xác các khoản chi phí sản xuất đã phát sinh từ đó tiến
hành quy nạp các chi phí.
* Chức năng của giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa quan trọng
đối với cơng tác quản lý doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Tính tổng hợp của chỉ tiêu này được biểu hiện ở chỗ thơng qua nó người
ta có thể đánh giá được hiệu quả của q trình sản xuất, chứng minh được khả
năng phát triển và sử dụng các yếu tố vật chất đã thực sự tiết kiệm và hợp lý
chưa.
Tính tổng hợp còn được biểu hiện ở chỗ thơng qua nó người ta có thể
đánh giá được tồn bộ các biện pháp kinh tế, tổ chức kỹ thuật mà doanh nghiệp
đã đầu tư trong q trtình sản xuất kinh doanh.
Do tính chất quan trọng như vậy nên chỉ tiêu giá thành ln được xem là
một trong những chỉ tiêu cần được xác định một cách chính xác, trung thực để
giúp các doanh nghiệp có căn cứ xem xét, đánh giá, kiểm tra và đề xuất các biện
pháp thích ứng đối với hoạt động kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể. Những
tính chất đó của giá thành được biểu hiện thơng qua các chức năng vốn có của
nó.
- Chức năng thước đo bù đắp chi phí
Giá thành sản phẩm là biểu hiện những hao phí vật chất mà các doanh
nghiệp đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm. Những hao phí vật chất này cần được bù
đắp một cách đầy đủ kịp thời để đảm bảo u cầu tái sản xuất. Như vậy, việc tìm
căn cứ để xác định mức bù đắp những chi phí mà mình đã bỏ ra để tạo nên sản
phẩm và thực hiện được giá trị của sản phẩm là một u cầu khách quan trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thơng qua chỉ tiêu giá thành được xác
định một cách chính xác, các doanh nghiệp sẽ đảm bảo được khả năng bù đắp
chi phí.
Bù đắp hao phí sản xuất là vấn đề quan tâm đầu tiên của các doanh nghiệp
bởi hiệu quả kinh tế được biểu hiện ra trước hết ở chỗ doanh nghiệp có khả năng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
bù đắp lại những gì mà mình đã bỏ ra hay khơng-đủ bù đắp chi phí
là khởi điểm của hiệu quả và được coi là yếu tố đầu tiên để xem xét hiệu quả
kinh doanh.
- Chức năng lập giá
Sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất ra là các sản phẩm hàng hố được
thực hiện giá trị trên thị trường thơng qua giá cả.
Giá sản phẩm được xác định trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết
biểu hiện mặt giá trị cuả sản phẩm. Khi xác định giá cả u cầu đầu tiên là giá cả
phải có khả năng bù đắp hao phí vật chất để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đảm
bảo cho các doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất bình thường cũng có thể bù
đắp được hao phí để thực hiện tái sản xuất và sản xuất mở rộng. Để thực hiện
được u cầu bù đắp hao phí vật chất này, thì khi xác định giá cả phải căn cứ
vào giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên giá thành sản phẩm khơng phải là căn cứ duy nhất để doanh
nghiệp xác định giá cả sản phẩm của mình mà còn phải căn cứ vào giá thành
bình qn của ngành, tính hợp lý của chi phí và q trình sản xuất.
Giá cả là biểu hiện mặt giá trị của sản phẩm chứa đựng trong nó nội dung
bù đắp hao phí vật chất dùng để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên việc lấy giá
thành làm căn cứ lập giá là u cầu khách quan, vốn có trong nền sản xuất hàng
hố và được biều hiện đầy đủ trong nền kinh tế thị trường mọi sự thốt ly cơ sở
lập giá thành sẽ làm cho giá cả khơng còn tính chất đòn bẩy để phát triển sản
xuất kinh doanh mà sẽ kìm hãm sản xuất, gây ra những rối loạn trong sản xuất
và lưu thơng hàng hóa.
- Chức năng đòn bẩy
Doanh lợi của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào giá
thành sản phẩm. Hạ thấp giá thành sản phẩm là biện pháp cơ bản để tăng doanh
lợi tạo nên tích luỹ để tái sản xuất và mở rộng sản xuất.
Cùng các phạm trù kinh tế như giá cả, lãi, chất lượng, thuế…giá thành sản
phẩm thực tế đã trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy các doanh nghiệp
tăng cường hiệu quả kinh doanh phù hợp với ngun tắc hạch tốn kinh doanh.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường tính chất đòn bẩy kinh tế của giá thành
đặt ra u cầu cho từng bộ phận sản xuất và phải có biện pháp hữu hiệu vừa tiết
kiệm được chi phí vừa sử dụng một chi phí một cách hợp lý nhất đối với từng
loại hoạt động, từng khoản chi phí cụ thể.
3.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng các u cầu về quản lý, kế tốn và kế hoạch hố giá thành
cũng như u cầu xây dựng giá bán hàng hố, giá thành được xem xét dưới
nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính tốn khác nhau. Ta có hai cách phân loại chủ
yếu sau :
* Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
Căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành, giá thành sản phẩm
được chia thành 3 loại :
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí
sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch do bộ
phận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu
q trình sản xuất. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp,
là căn cứ để so sánh, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá
thành sản phẩm của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các
định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Việc tính giá thành
định mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành sản xuất. Giá thành định mức
là cơng cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác
định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động sản xuất, giúp cho doanh nghiệp
đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện
trong q trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu
chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như sản
lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ. Chỉ tiêu này được xác định khi kết
thúc q trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu
kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét