Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Mở rộng hoạt động cho vay tại chi nhánh Ngân Hàng Công Thương Cửa Lò

không, có dấu hiệu thua lỗ hay lừa đảo không Nếu các thông tin phản ánh chiều hướng
tốt cho thấy chất lượng tín dụng đang được đảm bảo, ngược lại thì NH cần tiến hành các
biện pháp ngăn chặn kịp thời nguy cơ xảy ra rủi ro như thu hồi nợ trước hạn, ngừng giải
ngân, yêu cầu KH bổ sung thêm TS thế chấp, giảm số tiền vay… trong từng trường hợp
cụ thể. Thực hiện đúng quy trình tín dụng tạo điều kiện để NH có thể đáp ứng tốt nhu cầu
của KH đồng thời tạo được mối quan hệ tín dụng lâu dài.
2) Sàng lọc và giám sát.
Một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến sự vỡ nợ cho các NHTM đó là lựa
chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Lựa chọn đối nghịch xảy ra trước khi giao dịch được
thực hiện, khi những người đi vay có khả năng để lại hậu quả không mong muốn nhất
(tức là không trả được nợ) lại là những người tích cực tìm vay nhất và do vậy có nhiều
khả năng được lựa chọn để cho vay nhất. Rủi ro đạo đức xảy ra trong khi thực hiện giao
dịch, khi người đi vay thực hiện những hoạt động không đúng với ý đồ của NH và ít có
khả năng hoàn trả khoản vay. Lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức là do tình trạng
thông tin bất đối xứng gây ra.
Sàng lọc: Nhằm thực hiện việc sàng lọc một cách có hiệu quả, các NHTM phải tập
hợp thông tin tin cậy về những KH triển vọng, tiến hành phân tích, thẩm định một cách có
hiệu quả. KH là một yếu tố biến thiên trong mọi đề nghị cho vay. Với một KH cá nhân,
NH đặc biệt xem xét các khoản cho vay trong quá khứ có hoàn trả đúng thoả thuận hay
không. Với KH DN, bên cạnh việc quan tâm tới lịch sử các tài khoản, NH cần đảm bảo
KH là những người có kinh nghiệm trong công việc, có trình độ quản lý cần thiết để điều
hành DN và tái đầu tư lợi nhuận vào DN. Tuy rằng mọi đề nghị vay vốn đều phải “tự
mình đứng vững” - tức là phải đủ tốt để không cần một sự đảm bảo nào nhưng NH vẫn
thường yêu cầu KH phải thực hịên các biện pháp bảo đảm tiền vay.
Giám sát: Khi nhận được tiền vay của NH, người vay có thể sử dụng khoản tiền
cho vay vào những hoạt động KD mạo hiểm dẫn đến mất khả năng thanh toán. Chính vì
thế NH thường đưa ra các hợp đồng tín dụng trong đó quy định rõ những điều khoản
nhằm hạn chế người vay sử dụng tiền vay vào những hoạt động rủi ro. Trường hợp người
5
Luận văn tốt nghiệp Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
5
vay không tuân thủ những điều khoản ghi trong hợp đồng thì NH có thể thực hiện cưỡng
chế theo những điều khoản đã ghi trong hợp đồng.
3) Quan hệ khách hàng.
Một trong những nguyên lý quan trọng của việc quản lý NH đó là quan hệ lâu dài
với KH từ đó nắm bắt thông tin về KH một cách chính xác hơn. Nếu một KH có nhu cầu
vay tiền đã có một tài khoản hoặc các khoản cho vay khác với NH trong một thời gian
dài, thì NH sẽ dễ dàng biết nhiều thông tin về họ. Những số dư trong tài khoản séc hay
tiết kiệm sẽ cho NH biết về tiềm năng TC của KH hay việc hoàn trả các khoản vay cũ cho
NH biết được tư cách của KH. Quan hệ KH lâu dài không chỉ giúp NH giảm chi phí thu
thập thông tin cũng như chi phí giám sát mà còn giúp KH giảm chi phí lãi vay. Vì vậy KH
luôn cố gắng tránh những hoạt động rủi ro để không làm phật lòng NH. Như vậy, quan hệ
với KH lâu dài giúp NH có thể đối phó với những bất ngờ về rủi ro đạo đức không thể
lường trước được.
Các NHTM cũng xây dựng mối quan hệ lâu dài và tập hợp thông tin bằng cách
đưa ra hạn mức tín dụng cho KH. Việc cấp cho KH một hạn mức tín dụng vừa tạo điều
kiện thuận lợi trong hoạt động KD cho KH có nhu cầu vay vốn thường xuyên vừa giúp
NH có thể kịp thời đưa ra quyết định ngừng giải ngân nếu thấy có những dấu hiệu có thể
làm mất khả năng thanh toán của KH, đảm bảo an toàn cho khoản tín dụng mới. Lợi ích
của việc này đối với NH là ở chỗ, hạn mức tín dụng sẽ đưa đến một mối quan hệ lâu dài
và tạo điều kiện dễ dàng cho việc tập hợp thông tin.
4) Thế chấp tài sản và số dư bù.
Như đã nói ở trên, mọi đề nghị vay vốn đều phải “tự mình đứng vững”, nhưng
trong nhiều trường hợp NH vẫn yêu cầu KH phải có TSĐB khi nhận tín dụng, bởi vì KH
luôn phải đối mặt với rủi ro trong KD, có thể mất khả năng trả nợ cho NH. Những biến cố
không mong đợi có thể gây cho NH những tổn thất lớn. Yêu cầu TSĐB, NH muốn có
được nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn thứ nhất là thu nhập từ hoạt động KD không đảm
bảo trả được nợ. Có 3 yêu cầu đối với bất cứ loại đảm bảo nào để được NH chấp nhận đó
là: dễ định giá, dễ cho NH quyền được sở hữu hợp pháp, dễ tiêu thụ hay thuận tiện cho
việc tiêu thụ và nếu giá trị vật đảm bảo tăng lên theo thời gian thì càng tốt. Thông thường
6
Luận văn tốt nghiệp Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
6
NH chia TSĐB thành hai loại: TS thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của KH hoặc bảo
lãnh của bên thứ ba cho KH; TS được hình thành từ chính nguồn tài trợ của NH.
Những bắt buộc về TSĐB đối với khoản tiền vay là một trong những công cụ quan
trọng để hạn chế rủi ro, làm giảm bớt hậu quả lựa chọn đối nghịch do nó có thể giảm các
tổn thất của người vay không trả được nợ. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng TSĐB chỉ
mang tính bảo hiểm chứ không phải NH dựa vào đó để cho KH vay. Thông thường khi rủi
ro xảy ra, NH phải tiến hành phát mại TS, nhưng TS phát mại thường khó bán trên thị
trường vì nhiều lý do và thủ tục để được phát mại TS cũng phức tạp, mất nhiều thời gian.
Hơn nữa, một NH nếu đăng báo phát mại TS nhiều cũng làm giảm uy tín của NH đó trên
thị trường, KH sẽ nhận thấy khả năng quản lý yếu kém của NH, hình ảnh của NH đó sẽ bị
mờ đi, hoạt động huy động vốn vì thế mà sẽ không thu hút được KH và ảnh hưởng đến
hoạt động cho vay của NH. Thông thường, NH phải đứng trước lựa chọn là một DA có
tính khả thi nhiều khi không có đủ TSĐB nhưng một DA có đủ TSĐB nhiều khi lại không
khả thi. Như vậy, lựa chọn bất kỳ một DA nào cũng có nguy cơ xảy ra rủi ro cho NH. Do
đó NH phải xác định được mức độ rủi ro mà mình có thể chấp nhận để lựa chọn DA thích
hợp.
Trong một số trường hợp NH không đòi hỏi đảm bảo dưới hình thái hàng hoá hay
bảo lãnh. Các loại đảm bảo này đều gắn liền với thủ tục phức tạp, không có lợi cho NH
lẫn KH. Hơn nữa, NH dự tính, nếu rủi ro xảy ra cho KH thì tổn thất cũng chỉ chiếm một
phần giá trị của món vay. Trong trường hợp này NH có thể yêu cầu đảm bảo bằng tiền gửi
ký quỹ (số dư bù). Đảm bảo bằng ký quỹ thủ tục đơn giản, tuy nhiên lại làm đọng vốn
của KH và trong trường hợp món vay lớn, ngân quỹ của KH nhỏ hoặc cần thiết để lưu
chuyển, tỷ lệ ký quỹ cao hơn thì hình thức này lại không phù hợp.
5) Hạn chế tín dụng.
Một phương pháp giúp cho các NHTM đối phó với lựa chọn đối nghịch và rủi ro
đạo đức là hạn chế tín dụng. Hạn chế tín dụng có 2 dạng: thứ nhất diễn ra khi NH từ chối
bất kỳ một yêu cầu vay vốn nào của KH, thứ hai diễn ra khi NH sẵn lòng cho vay nhưng
hạn chế dưới mức mà KH mong muốn.
6) Vốn ngân hàng và tính tương hợp.
7
Luận văn tốt nghiệp Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
7
Trong các nguyên tắc đã đề cập ở trên, tất cả chỉ nhằm hạn chế rủi ro cho bản thân
các NHTM. Song trên thực tế thì ngay cả NH cũng có thể gây ra rủi ro cho người gửi tiền.
Do vậy, làm thế nào để những người gửi tiền có thể tin rằng NH – nơi họ gửi tiền sẽ trả
tiền lãi, vốn hoặc các dịch vụ mà NH đã hứa. Để giải quyết vấn đề này có 3 cách:
Thứ nhất: Vốn tự có của NHTM. NH sẽ mất mát nhiều hơn khi xảy ra phá sản nếu
lượng vốn tự có lớn và do vậy NH sẽ phải cố gắng thực hiện những hoạt động thích hợp
để có lợi nhuận và thanh toán đủ cho người gửi tiền. NH thực hiện cung cấp những thông
tin như những người gửi tiền mong đợi và những người có tiền sẵn lòng gửi tiền vào NH
như NH mong muốn.
Thứ hai: Đa dạng hoá. Bất kỳ hoạt động KD nào cũng chứa đựng rủi ro nhất là
trong lĩnh vực KD tiền tệ như các NHTM. Chính vì thế mà NH muốn thu hút được KH
gửi tiền phải chứng minh cho họ thấy được độ rủi ro hợp lý trong các hoạt động KD của
mình bằng cách đa dạng hoá danh mục cho vay. Việc đa dạng hoá là một nguyên lý quan
trọng của việc quản lý NH bởi vì nó làm cho quan hệ giữa NH với những người gửi tiền
trở thành tương hợp ý muốn. Tuy vậy, NH cần phải cân đối các lợi ích và chi phí giữa
việc đa dạng hoá và chuyên môn hoá.
Thứ ba: Việc điều hành của Chính phủ. Để bảo vệ lợi ích của người gửi tiền,
Chính phủ thường đưa ra các quy định buộc NHTM phải tiến hành đa dạng hoá và quy
định tỷ lệ tối đa mà NHTM có thể nhận tiền gửi dựa trên vốn tự có của nó. Đồng thời,
Chính phủ cũng đặt ra quy định về tỷ lệ tối thiểu mà NH có thể cho vay so với số tiền gửi
huy động được. Việc điều hành của Chính phủ là một phương cách khiến cho mối quan
hệ của một KH với những người gửi tiền trở thành tương hợp ý muốn. Tuy nhiên sự điều
hành của Chính phủ chỉ ở tầm vĩ mô để đảm bảo quyền tự chủ cho các NHTM.
1.2. Vai trò của cho vay.

Đối với ngân hàng.
Tiền vay là khoản nợ đối với người vay nhưng là TS đối với NH và nó mang lại
thu nhập cho NH. So với các TS khác, nhìn chung tiền cho vay kém lỏng hơn bởi vì
chúng không thể chuyển thành tiền mặt trước khi các khoản cho vay mãn hạn. Các khoản
tiền cho vay cũng có xác suất vỡ nợ cao hơn so với những TS khác. Do thiếu tính lỏng và
8
Luận văn tốt nghiệp Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
8
khả năng vỡ nợ cao nên các NHTM thu được nhiều lợi nhuận nhất từ các khoản cho vay.
Như vậy, ta có thể thấy cho vay là khoản mục có khả năng mang lại nhiều thu nhập nhất
nhưng cũng chứa đựng nhiều nguy cơ rủi ro nhất cho các NHTM.
Rủi ro từ hoạt động cho vay là rất lớn chính vì thế nó có vai trò quyết định đối với
sự tồn tại và phát triển của các NHTM. Rủi ro nếu xảy ra sẽ làm giảm thu nhập dự tính và
có thể gây thua lỗ thậm chí là dẫn đến sự phá sản của NH. Cho vay ảnh hưởng rất lớn đến
chiến lược hoạt động của NH như dự trữ, đầu tư…

Đối với nền kinh tế.
Nguồn vốn của NH là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối
với sự phát triển của bản thân các DN mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự
hoạt động và phát triển của các công ty, các DN đều gắn liền với các dịch vụ TC do các
NHTM cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng. Có thể nói rằng,
không có một DN nào hoạt động tốt, muốn tồn tại vững chắc trên thương trường mà
không phải vay vốn NH. Trong quá trình hoạt động, các DN thường vay NH để đảm bảo
nguồn TC cho các hoạt động SXKD, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các DA mở rộng
hoặc đầu tư chiều sâu của DN. Nguồn vốn của NH giúp DN có thể đa dạng hoá nguồn
vốn huy động cho hoạt động SXKD của mình. Bên cạnh đó, nguồn vốn vay NH còn có
ưu thế so với vốn cổ phần đó là lãi vay NH sẽ được tính vào chi phí, có thể giúp DN tiết
kiệm thuế.
Đối với KH là cá nhân, hộ gia đình không chỉ được NH cung cấp nguồn vốn phục
vụ cho nhu cầu tiêu dùng, phục vụ đời sống hàng ngày như mua sắm, xây dựng nhà cửa,
phương tiện đi lại, đi du học… mà các hoạt động SXKD cũng được NH hỗ trợ rất lớn.
Trong giai đoạn hiện nay, với lợi thế quy mô nhỏ bé nên dễ thay đổi, dễ thích nghi với
những biến động của thị trường cũng như những thay đổi, tiến bộ nhanh chóng của khoa
học công nghệ, khu vực kinh tế dân doanh cũng đang có những bước phát triển mới góp
phần không nhỏ vào sự phát triển của kinh tế đất nước. Chính vì nhận thức được điều này
nên nhiều NHTM đã rất quan tâm để hỗ trợ về vốn cho khu vực này mặc dù chưa thể đáp
ứng được nhu cầu về vốn của họ. Đối với KH là cá nhân, hộ gia đình thì các NH thường
9
Luận văn tốt nghiệp Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
9
áp dụng đa dạng các hình thức cho vay hơn so với các đối tượng khác, tạo điều kiện để
những KH này có thể tiếp cận nguồn vốn NH dễ dàng hơn.
Nguồn vốn vay của NH là một bộ phận không thể thiếu của thị trường TC, là kênh
huy động vốn quan trọng của các DN. Trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay khi mà thị
trường vốn còn chưa thực sự phát triển, thị trường chứng khoán mới bắt đầu đi vào hoạt
động thì có thể nói nguồn vốn tín dụng là nguồn vốn quan trọng hàng đầu đối với các DN
cũng như các cá nhân thực sự muốn phát triển KD bền vững. Chính vì thế thị trường tín
dụng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với không chỉ sự phát triển của nền kinh tế đất
nước mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường TC vốn đang có nhiều yếu
kém của nước ta.
2. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại.
Có nhiều cách để phân loại các hình thức cho vay nhưng ở đây ta chỉ xét
cách phân loại cho vay theo thời gian (bao gồm cho vay ngắn hạn, cho vay trung
và dài hạn) và phân loại theo yêu cầu có đảm bảo hay không (bao gồm cho vay có
đảm bảo và cho vay không có đảm bảo).
2.1. Cho vay ngắn hạn.
Cho vay ngắn hạn là nghiệp vụ tín dụng có thời hạn cho vay dưới 12 tháng, nhằm
tài trợ cho TS lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, DN, hộ sản
xuất. Nghiệp vụ này được các NH áp dụng trong những trường hợp sau:
- tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước bằng cách mua trái phiếu do kho bạc
phát hành. Đây là hình thức cho vay khá an toàn bới vì khả năng hoàn trả của Nhà nước là
rất cao.
- đáp ứng nhu cầu thanh khoản đối với các tổ chức tín dụng như các NH, các công
ty TC, quỹ tín dụng… bắng cách cho vay trực tiếp trên thị trường liên NH hoặc cho vay
gián tiếp thông qua nắm giữ chứng khoán. Các khoản cho vay này chủ yếu dựa trên uy tín
của người vay, số ít dựa trên bảo lãnh của bên thứ ba hoặc dựa trên cầm cố chứng khoán
thanh khoản cao.
10
Luận văn tốt nghiệp Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
10
- tài trợ nhu cầu vốn tăng thêm cho SXKD của các DN. Đây là đối tượng KH
chiếm số lượng đông nhất và là đối tượng KH chiến lược mà tất cả các NHTM đều hướng
tới. Phần lớn các khoản vay này đều phải có đảm bảo bằng thế chấp hoặc cầm cố TS.
Các DN, các công ty và hộ sản xuất muốn được vay vốn đều phải làm đơn trình
bày với NH kế hoạch sử dụng tiền vay. Qua đó, NH tiến hành phân tích tín dụng, xác định
hiệu quả sử dụng vốn vay, rủi ro, khả năng và nguồn trả nợ cùng các điều khoản có liên
quan. Trong trường hợp người vay không lập kế hoạch từ trước, NH sẽ tính toán nhu cầu
cho vay cho từng phương án để tính số tiền cần vay. Nếu trường hợp NH không phân tích
được phương án vay do thông tin không đầy đủ, không chính xác hoặc rủi ro lớn thì NH
có thể quyết định số tiền cho vay dựa trên TSĐB.
Đối với nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, NH có thể áp dụng nhiều hình thức khác
nhau như cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn mức, có hoặc
không cần đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển.
2.2. Cho vay trung và dài hạn.
Cho vay trung và dài hạn là nghiệp vụ tín dụng có thời hạn cho vay lần lượt là từ
12 đến 60 tháng và trên 60 tháng. Các NHTM thường thực hiện cho vay trung và dài hạn
trong những trường hợp sau:
- tài trợ cho nhu cầu mua sắm trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mua công
nghệ… của các DN. Hiện nay với tốc độ phát triển nhanh của khoa học công nghệ, để tồn
tại và phát triển nhu cầu vốn trung và dài hạn của các DN ngày càng có xu hướng tăng
nhanh.
- phục vụ cho hoạt động đầu tư phát triển của Nhà nước. Hoạt động đầu tư phát
triển của Nhà nước ngày càng có vai trò quan trọng, tạo điều kiện để xây dựng cơ sở hạ
tầng, hỗ trợ các DN phát triển.
- tài trợ cho nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà cửa, phương tiện
vận chuyển… của người tiêu dùng.
NH có thể áp dụng các hình thức cho vay sau:

Mua trái phiếu: nhằm tài trợ cho quá trình hình thành TS cố định của các DN,
NH mua trái phiếu trung và dài hạn của DN. Khi mua trái phiếu, NH tính toán đến các
11
Luận văn tốt nghiệp Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
11
yếu tố như kỳ hạn và khả năng chuyển đổi của trái phiếu, lãi suất trái phiếu, tình hình TC
của DN, các kế hoạch tương lai…

Cho vay theo DA:
Khi KH có kế hoạch mua sắm, xây dựng TSCĐ… nhằm thực hiện DA nhất định
thì có thể xin vay NH. Khi đó NH yêu cầu KH phải xây dựng DA, thể hiện mục đích, kế
hoạch đầu tư cũng như quá trình thực hiện DA. Phân tích và thẩm định DA là cơ sở để
NH quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả của DN.
DA bao gồm nhiều yếu tố như phân tích thị trường, nguồn nhân lực, địa điểm.
công nghệ, quy trình sản xuất, phân tích TC… trong đó phân tích TC là mối quan tâm
hàng đầu của NH. NH còn đặc biệt quan tâm tới thời gian và các nguồn có thể dùng để trả
nợ cho NH nên trong những trường hợp không phải là DA mới, NH luôn phân tích TC
người vay kết hợp với phân tích DA. Một DN có tình hình TC lành mạnh là cơ sở quan
trọng để NH quyết định cho vay bởi vì các nguồn thu khác của người vay có thể sẽ trở
thành nguồn trả nợ cho NH bên cạnh nguồn thu của DA.
Trong trường hợp quy mô tín dụng lớn, nếu NH là người cấp tín dụng duy nhất thì
rủi ro sẽ rất cao. Vì thế, việc có nhiều bên tham gia cấp tín dụng sẽ san sẻ rủi ro cho NH.
Đây gọi là hình thức cho vay đồng tài trợ, tuy có thể san sẻ rủi ro cho NH nhưng lại đòi
hỏi NH phải phân tích kỹ các nguồn và chủ tài trợ.
Việc cho vay theo DA thường được kết hợp với các hình thức cấp tín dụng khác
như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hợp đồng… Các DA thường cần nguồn vốn lớn, NH
cần có thời gian huy động vốn và trả lãi huy động, do vậy NH thường yêu cầu KH phải
trả phí trong trường hợp trả trước hạn, phí cam kết trả một phần chi phí huy động vốn của
NH trong trường hợp đã ký hợp đồng tín dụng nhưng thực tế lại không vay.

Cho vay tiêu dùng: nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền
như nhà cửa, phương tiện vận chuyển… Do nhu cầu tiêu dùng ngày càng gia tăng mạnh
mẽ, người tiêu dùng có thu nhập đều đặn, ổn định bên cạnh đó nhiều công ty TC cạnh
tranh với NH trong cho vay làm cho thị phần cho vay các DN của NH bị giảm sút nên NH
buộc phải mở rộng thị trường cho vay tiêu dùng để tăng thu nhập.
12
Luận văn tốt nghiệp Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
12
NH có thể cho vay trực tiếp đối với người mua hoặc thông qua tài trợ cho các DN
bán lẻ hàng lâu bền, các công ty xây dựng để các DN này bán hàng trả góp.
Tuy nhiên, cho vay tiêu dùng có rủi ro rất cao do người vay có thể gặp những rủi
ro bất ngờ không thể lường trước như ốm đau, mất việc… Vì thế đây là loại cho vay có
mức lãi suất cao nhất và NH thường yêu cầu người vay phải mua một số loại bảo hiểm
nhất định.
2.3. Cho vay có đảm bảo.
KH luôn phải đối đầu với rủi ro trong KD, có thể mất khả năng trả nợ cho NH, gây
ra những tổn thất lớn cho NH. Chính vì thế, phần lớn các khoản vay của NH đều phải có
TSĐB. TSĐB có thể thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của KH hay của bên bảo lãnh,
hoặc TS được hình thành từ nguồn tài trợ của NH. NH có thể chấp nhận các loại TS sau
để làm đảm bảo cho các khoản vay:
- đảm bảo bằng hàng hóa trong kho như nguyên, nhiên vật liệu, sản phẩm… Khi
nhận các TS này, NH phải tính đến khả năng kiểm soát hàng hóa đảm bảo, tính thị trường
của hàng hóa đảm bảo, khả năng bảo quản, định giá hàng hóa đảm bảo và hàng hóa phải
được bảo hiểm.
- đảm bảo bằng TSCĐ như nhà máy, trang thiết bị sản xuất, quyền sử dụng đất…
Các nhân tố tác động tới việc chấp nhận TS làm đảm bảo cho các khoản tài trợ: quyền sở
hữu hợp pháp hoặc quyền thuê lâu dài, tính thị trường của TSĐB và bảo hiểm cho TS cố
định.
- đảm bảo bằng các hợp đồng chi trả của người thứ ba. Khi nhận loại TS này làm
đảm bảo, NH tính đến các nhân tố: khả năng chi trả của người thứ ba, khả năng thực hiện
hợp đồng với người thứ ba của KH và các cam kết có khả năng chuyển nhượng.
- đảm bảo bằng chứng khoán: quản lý chứng khoán thuận tiện đối với NH nhưng
NH phải xét đến tính an toàn cũng như tính thanh khoản của chứng khoán.
- đảm bảo bằng bảo lãnh của bên thứ ba phải dựa vào uy tín và TSĐB của người
bảo lãnh.
- đảm bảo bằng số dư bù: là loại đảm bảo có lợi cho cả NH lẫn KH do thủ tục khá
đơn giản.
13
Luận văn tốt nghiệp Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
13
Có hai nghiệp vụ đảm bảo là cầm cố và thế chấp:
- cầm cố là hình thức mà người vay phải chuyển quyền kiểm soát TSĐB sang cho
NH trong thời gian cam kết. Cầm cố thích hợp với những TS mà NH có thể kiểm soát và
bảo quản tương đối chắc chắn nhưng không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của người
vay. NH thường yêu cầu khi xét thấy việc KH nắm giữ TSĐB là không an toàn cho NH,
đó là những TS mà KH dễ bán, dễ chuyển nhượng.
- thế chấp: là hình thức mà người vay chỉ phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở
hữu hoặc sử dụng các TSĐB cho NH nắm giữ trong thời gian cam kết. Đây là hình thức
phổ biến hơn, đặc biệt là đối với DN và người tiêu dùng.
2.4. Cho vay không có đảm bảo.
Là hình thức cho vay dựa trên uy tín của bản thân KH tuy nhiên nó chiếm tỷ lệ rất
nhỏ trong hoạt động cho vay của các NHTM. Như đã nói ở trên, bất kỳ một DN nào cũng
luôn phải đối mặt với rủi ro trong KD nhất là trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay
gắt giữa các DN như hiện nay, chính vì thế NH thường chỉ áp dụng cho vay không có
đảm bảo đối với các KH lớn, có uy tín và có quan hệ lâu dài với NH.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
3.1. Nhân tố từ phía ngân hàng.
Thứ nhất: Chính sách tín dụng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản nhất, giữ vị trí quan trọng nhất và có quy
mô lớn trong hoạt động của NH. Với tầm quan trọng và quy mô lớn, hoạt động này được
thực hiện theo một chính sách rõ ràng, được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều năm, đó là
chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng là cơ sở cho hoạt động tín dụng của NH. Chính
sách tín dụng phản ánh cương lĩnh cho vay của một NH, và là tài liệu hướng dẫn chung
cho cán bộ tín dụng và nhân viên NH, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín
dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng, nhằm hạn chế rủi ro và tăng khả
năng sinh lời. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tín dụng: nhu cầu tín dụng của KH;
khả năng sinh lời và rủi ro tiềm ẩn của KH; các chính sách của Chính phủ và NHNN như
chính sách ưu đãi, chính sách tỷ giá…; quy mô, kết cấu, tính ổn định của các khoản tiền
gửi, khả năng vay mượn của NH, quy mô chủ sở hữu…
14
Luận văn tốt nghiệp Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét