Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thanh toán điện tử tại NHCT Hai Bà Trưng


tợng mất ổn định tiền tệ có thể dẫn đến lạm phát, song việc đảm bảo an toàn tài
chính rất khó khăn vì có thể xảy ra mất cắp
Để khắc phục đợc những mặt tồn tại trên, phơng thức thanh toán không
dùng tiền mặt ra đời. Nó không những giúp giải quyết các khoản nợ trong nền
kinh tế quốc dân một cách dễ dàng mà còn đem lại hiệu quả to lớn cho nền kinh
tế - xã hội.
2.2. ý nghĩa của thanh toán không dùng tiền mặt
Trong thực tế, nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển thì việc thanh
toán, chi trả bằng tiền mặt ngày càng ít đi và thay thế là quá trình thanh toán
không dùng tiền mặt, ở các nớc có nền kinh tế phát triển thì tỷ lệ thanh toán
không dùng tiền mặt là rất lớn, hầu hết mọi giao dịch đều đợc tập trung thông
qua ngân hàng để thanh toán, chính vì vậy thanh toán không dùng tiền mặt có ý
nghĩa rất lớn.
Thanh toán không dùng tiền mặt giúp ngân hàng và các tổ chức tài chính
có thể phát huy đợc khả năng huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế
để cho vay phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, tăng cờng nguồn vốn cho ngân
hàng.
Việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt góp phần thực hiện tốt
chính sách tiền tệ của nhà nớc.
Tạo điều kiện giảm chi phí lu thông tiền mặt, tiết kiệm lao động xã hội,
tăng cờng độ an toàn và phòng ngừa rủi ro.
II. Vai trò, ý nghĩa, nguyên tắc thanh toán và các phơng thức
thanh toán giữa các ngân hàng
1. Vai trò
Thanh toán qua lại giữa ngân hàng thể hiện chức năng tập trung thanh
toán của ngân hàng đối với nền kinh tế và điều hoà vốn trong nội bộ ngân hàng.
Thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán giữa các ngân hàng chính là thực hiện
đợc yêu cầu của công tác thanh toán không dùng tiền mặt đó là: nhanh chóng,
kịp thời, chính xác, an toàn tài sản, tăng nhanh vòng quay vốn góp phần tiết
giảm chi phí lu thông do không phải in ấn vận chuyển tiền mặt từ nơi này sang
nơi khác.
Để thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán qua lại giữa các ngân hàng thì đòi
hỏi ngân hàng phải cải tiến thể lệ, chế độ thanh toán không dùng tiền mặt cho
phù hợp với yêu cầu của việc trao đổi thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ của toàn
xã hội, tăng cờng trang thiết bị kỹ thuật phục vụ thanh toán nhanh chóng chính
xác, cải tiến việc điều hành và quản lý vốn trong ngân hàng.
2. ý nghĩa
Thanh toán vốn giữa các ngân hàng là hoạt động nghiệp vụ nhằm thực
hiện đầy đủ chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng và góp phần thực
hiện các chức năng cơ bản khác nhau của ngân hàng.
Là nghiệp vụ tạo nên mối liên hệ nối liền các cơ sở Ngân hàng thành một
hệ thống chặt chẽ, tạo điều kiện thu hút vốn nhàn rỗi vào Ngân hàng.
Có tác động qua lại và ảnh hởng đến bản chất của các công cụ hiện có
trên thị trờng tiền tệ, tác động đến mức dự trữ của các ngân hàng, từ đó có tác
động đến cơ chế truyền động của chính sách tiền tệ.
3. Các nguyên tắc
Tổ chức tốt công tác thanh toán giữa các ngân hàng trong nền kinh tế đợc
nhanh chóng, chính xác từ đó góp phần tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn.
Tăng cờng quá trình kiểm soát các nghiệp vụ thanh toán, hạn chế di
chuyển tiền mặt giữa các địa phơng từ đó hạ chế các hiện tợng tham ô, lợi dụng
và tiết kiệm đáng kể chi phí lu thông.
Phát huy vai trò của ngân hàng trong việc tập trung công tác thanh toán
của nền kinh tế, tăng cờng nguồn vốn cho hoạt động ngân hàng.
Coi quá trình thanh toán giữa các ngân hàng là một khâu của quá trình
thanh toán không dùng tiền mặt.
Để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trờng, đất nớc càng phát triển, đời
sống của ngời dân không ngừng tăng lên, sản xuất lu thông hàng hoá ngày càng
phát triển, việc thanh toán giữa các tổ chức, đơn vị kinh tế đợc thực hiện dới
hình thức không dùng tiền mặt, còn với hình thức đa dạng không chỉ ở cùng
một ngân hàng mà họ còn mở tài khoản ở các ngân hàng khác nhau, chính vì
vậy việc tổ chức thanh toán qua lại giữa các ngân hàng là một yêu cầu cần thiết
và khách quan.
Trong thanh toán không dùng tiền mặt: Ngời trả tiền và ngời thụ hởng
đều có tài khoản ở một ngân hàng thì thanh toán chỉ đơn giản là trích chuyển
tiền trên các tài khoản ở cùng một ngân hàng. Nhng nếu ngời trả tiền và ngời
thụ hởng ở các ngân hàng khác nhau thì đòi hỏi phải có ít nhất 2 ngân hàng
tham gia thực hiện thanh toán, thông qua nghiệp vụ thanh toán qua lại giữa các
ngân hàng. Thanh toán giữa các ngân hàng còn do nhu cầu của việc tập trung và
điều hoà vốn thuộc ngân sách nhà nớc, của các ngành, các tổ chức kinh tế.
Ngoài ra, xuất phát từ các nghiệp vụ ngân hàng từ yêu cầu của công cuộc
điều hoà vốn trong từng hệ thống ngân hàng cũng đòi hỏi phải tổ chức nghiệp
vụ thanh toán giữa các ngân hàng.
4. Các phơng thức thanh toán giữa các ngân hàng
Do cơ cấu tổ chức của hệ thông ngân hàng Việt Nam hiện nay, mỗi hệ
thống độc lập về vốn, mỗi NHTM đợc tổ chức thành lập từ trung ơng đến cơ sở.
Vì vậy thanh toán giữa các đơn vị ngân hàng đợc thực hiện theo các phơng thức
sau:
- Phơng thức thanh toán liên hàng
- Phơng thức thanh toán bù trừ
- Phơng thức thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN hoặc qua tài
khoản tiền gửi tại tổ chức tín dụng khác.
- Phơng thức thanh toán uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ.
III. Phơng thức thanh toán điện tử (TTĐT) ở ngân hàng công thơng
1. Các quy định chung
Quy trình thanh toán điện tử thay thế quy trình thanh toán liên hàng qua
máy vi tính hiện hành là quy trình hạch toán quản lý điều hành vốn tập trung
trong hệ thống Ngân hàng Công thơng Việt Nam.
- Mọi khách hàng giao dịch với Ngân hàng Công thơng Việt Nam đều đ-
ợc tham gia hệ thống thanh toán điện tử theo cơ chế thanh toán qua ngân hàng
ban hành theo quyết định số 22/QĐ-NH1 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc và
các văn bản hớng dẫn của Tổng giám đốc Ngân hàng Công thơng Việt Nam.






Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét