Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Chế định về quyền SHTT liên quan đến TM của WTO và việc hoàn th0iện các quy định tương ứng của VN

2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bộ máy thực thi
bảo hộ quyền SHTT
73
3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về cơ chế giải
quyết tranh chấp và xử lý vi phạm về bảo hộ quyền SHTT
75
Kết luận
79
Tài liệu tham khảo
80
5
Lời nói đầu
Ngày nay, SHTT đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của
hầu hết các quốc gia trên thế giới. Bảo hộ quyền SHTT là một việc làm không
thể thiếu đợc trong các hoạt động pháp lý kinh tế, thơng mại, khoa học, công
nghệ trong giai đoạn hiện nay.
ở Việt nam, trong lĩnh vực SHTT, kể từ năm 1989 đến nay cơ chế điều
chỉnh pháp luật về quyền SHTT đã có những bớc phát triển đáng kể. Đặc biệt là
trong Bộ luật Dân sự (1995) lần đầu tiên đã có những quy định khá cụ thể, chi
tiết về quyền SHTT nhằm bảo hộ cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nớc
đang có hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt nam.
Kể từ khi Bộ luật Dân sự chính thức có hiệu lực (từ ngày 01/07/1996),
việc đăng ký bảo hộ các đối tợng của quyền SHTT ở Việt nam ngày càng tăng.
Số lợng các tổ chức, cá nhân Việt nam đăng ký bảo hộ các đối tợng SHTT xấp
xỉ bằng số lợng đơn của các tổ chức, cá nhân nớc ngoài, đặc biệt là ở các thành
phố lớn nh: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng. Tuy nhiên,
các hoạt động đăng ký và bảo hộ pháp lý quyền SHTT ở Việt nam còn có nhiều
hạn chế thể hiện ở các mặt sau đây:
6
Luật về bảo hộ quyền SHTT hiện nay còn cha hoàn toàn phù hợp với các
quy định của Tổ chức Thơng mại thế giới (Hiệp định Trips), một số quy định
về bảo hộ quyền SHTT còn thiếu. Điều này gây khó khăn cho các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nớc trong việc xin đăng ký bảo hộ quyền SHTT. Điều đó
thể hiện qua việc số lợng đơn xin đăng ký bảo hộ quyền SHTT trong thời gian
qua còn thấp so với nhịp độ phát triển của nền kinh tế Việt nam và còn thấp so
với các nớc khác trong khu vực (Số lợng đơn chỉ xấp xỉ bằng 10% số lợng đơn
đăng ký hàng năm của một nớc ASEAN).
Tổ chức bộ máy thực thi pháp luật về quyền SHTT của nớc ta còn cồng
kềnh, kém hiệu quả, nhất là sự phối hợp không đồng bộ giữa các Bộ, ngành hữu
quan. Hiệu quả của việc bảo hộ quyền SHTT cho các đối tợng đã đợc Nhà nớc
công nhận còn rất thấp. Nhiều trờng hợp vi phạm không đợc giải quyết dứt điểm
dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật kéo dài.
Cha thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền pháp luật về bảo hộ
quyền SHTT đến các tổ chức và cá nhân trong nớc. Việc tiếp cận với các thông
tin về quyền SHTT trên thế giới của các đơn vị trong nớc còn nhiều hạn chế.
Với tình hình thực tế nh trên, để tìm hiểu một cách đầy đủ hơn nữa các
quy định về quyền SHTT của Tổ chức Thơng mại thế giới đồng thời góp phần
hoàn thiện thêm các quy định tơng ứng của Việt nam trong lĩnh vực này, tác giả
chọn đề tài "Chế định về quyền SHTT liên quan đến thơng mại của WTO và
việc hoàn th0iện các quy định tơng ứng của Việt nam" làm đề tài khoá luận tốt
nghiệp.
Khoá luận đợc thực hiện trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra, khoá luận còn sử dụng phơng pháp
so sánh, tổng hợp, kết hợp lý luận với thực tiễn.
Nội dung của khoá luận đợc chia làm các phần cơ bản sau:
7
* Chơng I. Nội dung cơ bản của chế định về quyền SHTT liên quan đến
thơng mại theo các hiệp định của WTO.
* Chơng II. Thực trạng pháp luật Việt nam về SHTT liên quan đến thơng
mại, so sánh với các quy định tơng ứng của WTO.
* Chơng III. Hoàn thiện pháp luật Việt nam về SHTT tiến tới gia nhập
WTO.
Do thời gian nghiên cứu có hạn và vấn đề SHTT còn khá mới mẻ ở nớc
ta, vì vậy trong quá trình nghiên cứu không thể tránh khỏi những hạn chế và
thiếu sót về lý luận cũng nh phong cách ngôn ngữ khoa học. Do đó tác giả
mong nhận đợc sự góp ý quý báu, chân thành của thầy cô giáo và các bạn sinh
viên để những vấn đề khoá luận nêu ra đợc giải quyết thuyết phục hơn.
Để hoàn thành bản khoá luận này, tác giả đã nhận đợc sự chỉ dẫn trực
tiếp của PGS.TS Hoàng Ngọc Thiết - Trờng Đại học Ngoại Thơng Hà Nội. Qua
đây tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Hoàng Ngọc Thiết và
tới các tác giả có các công trình nghiên cứu đã đợc sử dụng trong quá trình
hoàn tất bản khoá luận này.
8
Chơng I
Nội dung cơ bản của chế định về quyền SHTT liên quan đến th-
ơng mại theo các hiệp định của WTO
I ) Khái niệm về quyền SHTT và các điều ớc quốc tế về quyền SHTT
1. Khái niệm quyền SHTT
Hiện nay SHTT là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm rất lớn
của các quốc gia trên thế giới. Sở dĩ nh vậy là vì lĩnh vực SHTT đã và đang
khẳng định mạnh mẽ vai trò của mình trong nền kinh tế và thơng mại thế giới,
tỷ trọng trí tuệ trong sản phẩm công nghiệp, dịch vụ và thơng mại ngày càng
tăng, tăng trởng kinh tế ngày càng phụ thuộc hơn vào khoa học công nghệ.
Từ trớc đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về SHTT.
Quan điểm thứ nhất coi các sản phẩm sáng tạo trí tuệ nh các sản phẩm
lao động khác, do đó ngời tạo ra các sản phẩm này có quyền t hữu, Nhà nớc bảo
hộ các quyền t hữu trí tuệ đó.
Quan điểm thứ hai lại coi các sản phẩm sáng tạo trí tuệ là thuộc toàn xã
hội, không thừa nhận quyền t hữu trí tuệ. Ngời tạo ra sản phẩm trí tuệ đợc Nhà
nớc thừa nhận có một số quyền nhất định và đợc thởng công hoặc ghi công.
9
Quan điểm thứ ba không phủ nhận quyền t hữu đối với sản phẩm trí tuệ
nhng cũng không công khai thừa nhận quyền đó, nhất là các trờng hợp sản
phẩm đợc tạo ra ở nớc ngoài có giá trị đối với kinh tế trong nớc.
Các nớc phát triển trên thế giới chấp nhận quan điểm thứ nhất, còn các n-
ớc đang phát triển chấp nhận quan điểm thứ hai, trong đó có Việt nam. Tuy
nhiên tình hình này đã thay đổi nhiều ở Việt nam, đặc biệt từ khi các quy định
pháp luật về quyền SHTT và chuyển giao công nghệ tạo thành một chơng độc
lập trong Bộ luật Dân sự nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam.
Sở hữu trí tuệ là loại hình sở hữu liên quan đến những mẩu thông tin có
thể kết hợp chặt chẽ với nhau trong những vật thể hữu hình xuất hiện trong cùng
một thời gian với số lợng bản sao không giới hạn ở những địa điểm khác nhau
trên thế giới. Quyền sở hữu trong trờng hợp này không phải là quyền sở hữu bản
thân các bản sao mà chính là các thông tin chứa đựng trong các bản sao đó.
Giống nh quyền sở hữu động sản hay bất động sản, quyền sở hữu trí tuệ cũng bị
những hạn chế nhất định nh hạn chế về thời hạn, hiệu lực, lãnh thổ.
Sở hữu trí tuệ đợc chia thành hai lĩnh vực : Sở hữu công nghiệp và Quyền
tác giả.
1.1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp
Ban đầu thuật ngữ "Sở hữu công nghiệp" xuất hiện từ các nớc công
nghiệp phát triển, nhng cho đến nay thuật ngữ này đã đợc sử dụng rộng rãi ở
các nớc trên thế giới, trong sách báo cũng nh trong các văn bản pháp luật. Nó
chủ yếu đề cập tới các vấn đề bảo vệ quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích,
nhãn hiệu (nhãn hiệu hàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ), kiểu dáng công nghiệp,
tên gọi xuất xứ hàng hoá , hạn chế cạnh tranh thái quá, chống lại các hoạt
động ngợc lại với sự hành nghề trung thực trong công nghiệp.
10
Trong tiếng Anh, quyền sở hữu công nghiệp là "Industrial Property". Chữ
này đợc hợp bởi hai từ : Industrial (công nghiệp) và Property (quyền sở hữu).
Nh vậy quyền sở hữu công nghiệp thờng đợc định nghĩa là "quyền sở hữu đối
với các đối tợng là sản phẩm sáng tạo phục vụ cho mọi lĩnh vực sản xuất công
nghiệp". Tuy nhiên, quyền "sở hữu công nghiệp" ở đây phải đợc hiểu theo nghĩa
rộng nhất, không chỉ áp dụng cho công nghiệp và thơng mại theo đúng nghĩa
của chúng mà còn cho cả các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai
thác và tất cả các sản phẩm công nghiệp và sản phẩm tự nhiên nh rợu, ngũ cốc,
hoa quả, gia súc, khoáng sản
Theo chơng VIII, Luật Thơng mại Pháp năm 1993, quyền sở hữu công
nghiệp đợc định nghĩa nh sau: "Sở hữu công nghiệp là độc quyền khai thác của
những ngời có những quyền phi vật chất trong công nghiệp đã đợc Nhà nớc
công nhận".
Theo Bộ luật Dân sự Nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, "Quyền
sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải
pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, quyền sử dụng đối
với tên gọi xuất xứ hàng hoá và quyền sở hữu khác do pháp luật quy định".
Điều đó có nghĩa rằng khi một ngời có những đối tợng đợc pháp luật bảo
hộ thì anh ta có quyền sản xuất, sử dụng và bán các đối tợng đó. Nh vậy, quyền
sở hữu công nghiệp có thể đợc hiểu là khả năng của các sở hữu chủ tự mình
thực hiện những hành vi nhất định để thoả mãn lợi ích của bản thân và những
khả năng đó đợc bảo đảm bởi Nhà nớc, thể hiện ở quyền làm chủ, chi phối đối
tợng sở hữu công nghiệp. Chủ sở hữu công nghiệp có thể tự khai thác lợi ích vật
chất hoặc cho phép ngời khác sử dụng, khai thác thông qua hợp đồng.
ở các nớc khác nhau, quyền sở hữu công nghiệp đợc định nghĩa khác
nhau, nhng nhìn chung quyền sở hữu công nghiệp đợc hiểu theo hai nghĩa.
11
Theo nghĩa khách quan, quyền sở hữu công nghiệp là tổng thể các quy
phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong qua trình
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các đối tợng sở hữu công nghiệp đợc Nhà nớc
bảo hộ.
Theo nghĩa chủ quan, quyền sở hữu công nghiệp là các quyền dân sự cụ
thể của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các đối tợng
của sở hữu công nghiệp.
Quyền sở hữu công nghiệp có những đặc điểm sau: Quyền sở hữu công
nghiệp là một loại quyền nhân thân phi tài sản mang tính giới hạn bởi không
gian và thời gian. Theo pháp luật của các nớc trên thế giới, quyền sở hữu công
nghiệp chỉ phát sinh trên cở sở văn bằng bảo hộ do cơ quan có thẩm quyền của
Nhà nớc cấp và chỉ có hiệu lực trong lãnh thổ của Nhà nớc đó. Quyền sở hữu
công nghiệp cũng bị giới hạn bởi thời gian theo thời hạn hiệu lực của văn bằng
bảo hộ. Đó là một khoảng thời gian hợp lý đủ đảm bảo quyền lợi của các sở hữu
chủ phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia.
Quyền sở hữu công nghiệp là loại quyền dân sự tuyệt đối. Khi một chủ sở
hữu đợc Nhà nớc công nhận và cấp bằng bảo hộ độc quyền thì cũng có nghĩa là
ngời đó có đợc toàn quyền trong việc khai thác, sử dụng đối tợng đó vào sản
xuất kinh doanh. Ngời chủ sở hữu đối tợng công nghiệp có quyền thực hiện các
hành vi ngăn chặn ngời khác tiến hành sản xuất, sử dụng hoặc bán đối tợng sở
hữu công nghiệp. Đồng thời mọi cá nhân, tổ chức khác đều có nghĩa vụ phải
kiềm chế không đợc thực hiện các hành vi xâm hại tới các quyền của chủ sở
hữu công nghiệp.
12
ở Việt nam, quyền sở hữu công nghiệp là một khái niệm tơng đối mới.
Khái niệm này lần đầu tiên xuất hiện tại Việt nam năm 1957 trong Luật 12/57
ngày 01/08/1957 và Luật 13/57 ngày 01/08/1957, tiếp sau đó là Luật số 14/59
ngày 11/06/1959 về chống sản xuất hàng giả của luật nguỵ quyền miền Nam.
Từ sau giải phóng hoàn toàn miền Nam 04/1975 và thống nhất đất nớc vào
07/1976, việc bảo hộ pháp lý các đối tợng sở hữu công nghiệp tại Việt nam tạm
thời bị gián đoạn. Trong những năm 1980, các đối tợng sở hữu công nghiệp nh
sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, giải pháp hữu ích lần lợt
đợc bảo hộ. Tuy nhiên việc bảo hộ các đối tợng trên mới chỉ dựa trên các văn
bản pháp lý do Chính phủ ban hành.
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới mở rộng không ngừng, sự phụ thuộc
giữa các ngành kinh tế ngày càng tăng lên. Ngày nay không một nớc nào có thể
phát triển mà đóng cửa không quan hệ với các nớc khác. Để đảm bảo cho sự
phát triển của nền kinh tế, các nớc phải mở của giao lu hợp tác với nhau, đặc
biệt là các nớc đang phát triển, trong đó có Việt nam. Con đờng nhanh nhất và
hiệu quả nhất để đạt đợc mục đích đó là hợp tác kinh tế và hợp tác công nghệ.
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là một công cụ quan trọng thúc đẩy sự phát
triển công nghệ và giảm xung đột thơng mại giữa các nớc.
Nhận thức sâu sắc vai trò và vị trí của việc bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp, năm 1995, các quy định pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đã
chính thức đợc đa vào Bộ luật Dân sự, và Việt nam cũng đã tham gia vào các
Hiệp ớc quốc tế quan trọng sau đây về quyền sở hữu công nghiệp, đánh dấu bớc
quan trọng trong lĩnh vực bảo hộ sở hữu công nghiệp tại Việt nam:
Công ớc Pari về bảo hộ sở hữu công nghiệp (từ 08/03/1949)
Thoả ớc Madrid về đăng ký quốc tế các nhãn hiệu hàng hoá (từ
08/03/1949)
13
Công ớc Stockholm về việc thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (từ
02/07/1976)
Hiệp ớc hợp tác Patent (PCT) (từ 10/03/1993)
Việc đa các quy định về bảo hộ sở hữu công nghiệp vào Bộ luật Dân sự
và tham gia các điều ớc quốc tế thể hiện quyết tâm lớn của Việt nam trong việc
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hoà nhập kinh tế Việt nam với kinh tế thế
giới.
Các quan hệ sở hữu công nghiệp là các quan hệ xã hội phát sinh trong
lĩnh vực sáng tạo, khai thác, ứng dụng các đối tợng sở hữu công nghiệp đợc Nhà
nớc bảo hộ vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Chủ thể trong quan hệ sở hữu công nghiệp có thể là các cá nhân, các tác
giả, đồng tác giả không hạn chế về độ tuổi cùng sáng tạo ra các đối tợng sở hữu
công nghiệp bằng chính sức lao động sáng tạo của mình đợc đứng tên tác giả
trong văn bằng bảo hộ. Các chủ sở hữu công nghiệp nớc ngoài c trú ở nớc ngoài
đợc Nhà nớc Việt nam cấp văn bằng bảo hộ theo các điều ớc quốc tế Việt nam
đã ký kết hoặc tham gia. Các sở hữu chủ công nghiệp nớc ngoài là cá nhân hoặc
pháp nhân nớc ngoài có cơ sở kinh doanh hoặc thờng trú tại Việt nam đợc Nhà
nớc Việt nam cấp văn bằng bảo hộ cho các đối tợng sở hữu công nghiệp của
mình hoặc đợc chuyển giao hợp pháp quyền sở hữu.
Đôi khi chủ thể trong quan hệ sở hữu công nghiệp cũng có thể là Nhà n-
ớc. Tuy nhiên Nhà nớc là một chủ thể đặc biệt luôn đợc hởng các quyền miễn
trừ trong lĩnh vực tố tụng dân sự. Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Nhà nớc
không chỉ tham gia với t cách là chủ thể quản lý mà trong nhiều trờng hợp còn
tham gia với t cách chủ thể quan hệ dân sự, ví dụ Nhà nớc có thể tham gia vào
quan hệ thừa kế một đối tợng sở hữu công nghiệp nào đó.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét