Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB Bank)

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các loại thẻ Mastercard, Visa, Amex, JCB, Diners’Club dang duợc sử dụng
rộng rãi trên toàn cầu và cùng phân chia những thị truờng rộng lớn.
1.1.2. Khái niệm và phân loại thẻ ngân hàng
1.1.2.1. Khái niệm
Thẻ thanh toán hay thẻ Ngân hàng là phương tiện thanh toán hiện đại và
tiên tiến nhất trong thế giới ngày nay, ra đời và phát triển gắn liền với sự ra
đời và phát triển của ngành Ngân hàng và việc ứng dụng công nghệ tin học
trong lĩnh vực Ngân hàng. Thẻ là phương tiện thanh toán không dùng tiền
mặt, do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán
tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hay
các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư của tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức
tín dụng được ký kết giữa NH phát hành thẻ và chủ thẻ. Hoá đơn thanh toán
thẻ chính là giấy nhận nợ của chủ thẻ đối với cơ sở chấp nhận thẻ. Cơ sở chấp
nhận thẻ và đơn vị cung ứng dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thông qua
NH phát hành thẻ và NH thanh toán thẻ.
Như vậy sẽ có 3 hoặc 4 thành viên tham gia vào một giao dịch thẻ: Chủ
thẻ (Khách hàng), Cơ sở chấp nhận thẻ (nơi cung ứng hàng hoá, dịch vụ), NH
phát hành và NH thanh toán.
1.1.2.2. Phân loại
Hiện nay trên thế giới có khá nhiều loại thẻ do các NH Đại lý của các tổ
chức thẻ quốc tế ban hành. Có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, cụ
thể là:
Theo công nghệ sản xuất: có 3 loại
*Thẻ khắc chữ nổi (Embossed Card):
Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết.
Ngày nay, loại thẻ này không còn được sử dụng nữa vì kỹ thuật của nó quá
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thô sơ, dễ bị lợi dụng, làm giả, mà kết hợp với những kỹ thuật mới như băng
từ hoặc chíp thông minh.
*Thẻ băng từ (Magnetic Strip):
Thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật những thông tin của thẻ và chủ thẻ
được mã hoá trên băng từ ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến
trong vòng 20 năm trở lại đây nhưng có thể bị lợi dụng để lấy cắp tiền do có
một số nhược điểm như thông tin ghi trên thẻ hẹp và mang tính cố định nên
không thể áp dụng kỹ thuật mã hoá an toàn, có thể đọc được dễ dàng bằng
thiết bị gắn với máy vi tính.
*Thẻ thông minh (Smart Card):
Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn
vào thẻ một “chip” điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Thẻ
có tính an toàn và bảo mật rất cao. Tuy vậy, do là một công nghệ mới và có
nhiều ưu điểm nên giá thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận loại thẻ này
cũng đắt nên sử dụng còn chưa phổ biến như thẻ từ. Việc phát hành và chấp
nhận thanh toán loại thẻ này mới chỉ phổ biến ở các nước phát triển dù các tổ
chức thẻ quốc tế vẫn đang khuyến khích các ngân hàng thành viên đầu tư để
phát hành loại thẻ này nhằm giảm tỷ lệ rủi ro giả mạo thẻ. Trên thực tế, tổ
chức thẻ VISA quốc tế quy định các ngân hàng phát hành phải đưa vào sử
dụng loại thẻ này vào năm kể từ năm 2008.
Theo chủ thể phát hành
*Thẻ do Ngân hàng phát hành (Bankcard):
Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh
động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng số tiền do ngân hàng cấp
tín dụng.
Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, không chỉ trong phạm
vi một quốc gia mà còn trên phạm vi toàn cầu. Ví dụ như: VISA,
MASTERCARD, JCB…
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
*Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành:
Đây là loại thẻ du lịch, giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn, hoặc
cũng có thể là thẻ do các công ty xăng dầu, các cửa hiệu lớn phát hành…Ví
dụ như : Diners’Club, Amex
*Thẻ liên kết (Co- Branded Card):
Đây là sản phẩm thẻ của một ngân kết hợp với tổ chức kinh tế-xã hội như
hãng hàng không, tập đoàn siêu thị…nhằm tạo ra nhiều ưu đãi cho khách
hàng trung thành. Thông thường tên, nhãn hiệu và lôgô của tổ chức kinh tế
này cũng đồng thời xuất hiện trên tấm thẻ. Ngoài những đặc điểm sẵn có của
một thẻ ngân hàng, loại thẻ này còn có thêm những lợi ích phụ trội do tổ chức
kinh tế cung ứng. Ví dụ như thẻ liên kết do Ngân hàng Standard Chartered và
tập đoàn thời trang Espirit phát hành, thẻ do Ngân hàng DBS( Singapore) và
Liên đoàn bóng đá thế giới liên kết phát hành…hay Goden Plus của Việt
Nam( liên kết giữa Vietcombank với VietnamAirline)
Theo tính chất thanh toán:
*Thẻ tín dụng (Credit card):
Thẻ tín dụng thực chất là một dịch vụ tín dụng thanh toán với hạn mức
chi tiêu nhất định được ngân hàng phát hành thẻ cung cấp cho khách hàng căn
cứ vào khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp. Đây là một
dạng tín dụng tuần hoàn dành cho khách hàng để thanh toán tiền hàng hoá,
dịch vụ, rút tiền mặt từ các điểm cung ứng hàng hoá (điểm chấp nhận thẻ)
hoặc các điểm rút tiền tự động. Thực chất đây là việc ngân hàng phát hành
cho chủ thẻ vay tiền để mua hàng hoá, dịch vụ trước và thanh toán sau một
chu kỳ nhất định mà không tính lãi trong thời hạn tín dụng do Ngân hàng quy
định.
*Thẻ thanh toán (Payment Card):
Đây là loại thẻ dùng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền
mặt trong phạm vi số dư trên tài khoản tiền gửi của chủ thẻ tại Ngân hàng
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phát hành thẻ. Như vậy, muốn sử dụng loại thẻ này, khách hàng phải ký gửi
tiền vào một tài khoản tại Ngân hàng và chỉ đựơc sử dụng thẻ trong phạm vi
số tiền đã gửi. Sau mỗi lần sử dụng thẻ để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền
hàng thì số dư trên tài khoản thẻ giảm dần.
*Thẻ ghi nợ (Debit Card):
Đây là loại thẻ mà chủ thẻ có thể thực hiện thanh toán tiền mua hàng hoá,
dịch vụ dựa trên số dư tài khoản tiền gửi tiết kiệm hoặc tiền gửi thanh toán
của mình tại Ngân hàng phát hành thẻ. Cũng như thẻ thanh toán, thẻ ghi nợ
cũng không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện có trên tài
khoản của chủ thẻ. Số tiền chủ thẻ chi tiêu sẽ được khấu trừ ngay từ tài khoản
của chủ thẻ thông qua các thiết bị điện tử đặt tại cơ sở chấp nhận thẻ.
Trong thẻ ghi nợ còn gồm hai loại cơ bản là thẻ Online và thẻ Offline.
Thẻ Online là thẻ mà những thông tin về giao dịch được kết nối trực tiếp từ
thiết bị điện tử tại cơ sở chấp nhận thẻ hoặc điểm rút tiền mặt tới Ngân hàng
phát hành thẻ. Giá trị các giao dịch được hạch toán và khấu trừ trực tiếp vào
tài khoản của chủ thẻ. Thẻ Offline là loại thẻ mà thông tin giao dịch được lưu
lại trên máy tính điện tử của CSCNT và sẽ chuyển đến ngân hàng phát hành
muộn hơn. Việc hạch toán và khấu trừ do đó cũng không được thực hiện trực
tiếp mà sau đó vài ngày.
Theo phạm vi lãnh thổ:
*Thẻ nội địa:
Là thẻ mà phạm vi sử dụng giới hạn trong lãnh thổ một quốc gia. Do vậy,
đồng tiền sử dụng đối với thẻ nội địa phải là đồng nội tệ của nước đó. Hoạt
động của loại thẻ này cũng khá đơn giản, chỉ do một Ngân hàng hay một tổ
chức điều hành từ việc phát hành đến xử lý trung gian và thanh toán. Hạn chế
của loại thẻ này là phạm vi sử dụng nhỏ hẹp chỉ trong một quốc gia có thể sẽ
gây kém hiệu quả trong việc kinh doanh, đặc biệt trong thời điểm kinh tế hôi
nhập mạnh mẽ như hiện nay.
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
*Thẻ quốc tế:
Ngược với thẻ nội địa, thẻ quốc tế là loại thẻ mà chủ thể có thể sử dụng
dể tiêu dùng tại bất kỳ cơ sở chấp nhận thẻ nào có biểu trưng của loại thẻ chủ
thẻ đang sử dụng. Tiền tệ sử dụng giao dịch đối với thẻ quốc tế là các loại
ngoại tệ mạnh, được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu. Thẻ được hỗ trợ quản
lý trên toàn thế giới bởi các tổ chức tài chính lớn như Mastercard, Visa….
Thẻ quốc tế rất được ưa chuộng vì tính an toàn và tiện lợi của nó.
Tóm lại, mặc dù thẻ được phân ra thành nhiều loại khác nhau, nhưng
chúng đều có một đặc điểm chung là dùng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch
vụ nên được gọi chung là thẻ thanh toán. Mỗi loại thẻ đều có những tiện ích
nhất định, chúng không ngừng được các tổ chức phát hành thẻ bổ sung nhiều
tiện ích mới nhằm đắp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Vì thế, theo ước
tính tại Mỹ một người đang làm việc trung bình sử dụng tới 8 loại thẻ khác
nhau.
1.1.3. Thẻ tín dụng
1.1.3.1. Khái niệm
Là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trong hạn mức tín dụng
tuần hoàn được cấp và chủ thẻ phải thanh toán toàn bộ các khoản dư nợ phát
sinh theo quy định
Thẻ tín dụng thực chất là một dịch vụ tín dụng thanh toán với hạn mức
chi tiêu nhất định được ngân hàng phát hành thẻ cung cấp cho khách hàng căn
cứ vào khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp. Đây là một
dạng tín dụng tuần hoàn dành cho khách hàng để thanh toán tiền hàng hoá,
dịch vụ, rút tiền mặt từ các điểm cung ứng hàng hoá (điểm chấp nhận thẻ)
hoặc các điểm rút tiền tự động. Thực chất đây là việc ngân hàng phát hành
cho chủ thẻ vay tiền để mua hàng hoá, dịch vụ trước và thanh toán sau một
chu kỳ nhất định mà không tính lãi trong thời hạn tín dụng do Ngân hàng quy
định.
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.3.2. Đặc điểm và phân loại thẻ tín dụng
 Đặc điểm thẻ tín dụng
Đặc trưng của Thẻ tín dụng quốc tế là một phương tiện thanh toán không
dùng tiền mặt với hạn mức chi tiêu không hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng
thế chấp của quý khách hàng. Chi tiêu trước, trả tiền sau, có thể thanh toán
toàn bộ hay một phần khoản chi vào ngày đến hạn thanh toán. Không tính lãi
nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ dư nợ vào đúng ngày thanh toán ghi trên sao
kê.
Thẻ tín dụng (Credit Card) thực chất là bằng chứng của một mối quan hệ vay
nợ giữa người cầm thẻ (Cardholder) và ngân hàng. Ngân hàng đồng ý cho
Cardholder vay tiền đến một mức tối đa nào đó (gọi là credit limit), thường là
khoảng 2 lần thu nhập hàng tháng của Cardholder. Thỏa thuận như vậy tức là
Cardholder có một "line of credit" sẵn sàng để dùng khi cần. Tất cả các khoản
thanh toán mà Cardholder thực hiện sẽ được ghi nợ (debit) vào tài khoản của
Cardholder tại ngân hàng. Đến một ngày nhất định mỗi tháng, ngân hàng sẽ
gửi Statement đến cho Cardholder, thống kê tổng số tiền đã chi trong tháng
trước đó. Cardholder có thể chọn thanh toán toàn bộ số tiền trước thời hạn ghi
trong Statement, khi đó Cardholder không phải trả lãi (interest). Nếu không
Cardholder có thể trả số tiền tối thiểu (Minimum Payment), thường là khoảng
5% số tiền nợ, phần còn lại có thể trả từ từ, tất nhiên là ngân hàng sẽ tính lãi,
thường là từ 12% đến 24% một năm, tiền lãi tính từng ngày.
Vậy việc thanh toán bằng thẻ tín dụng xảy ra thế nào? Giả sử bạn có thẻ
VISA. Một lần bạn đến một cửa hàng (Merchant) thấy có logo của VISA thể
hiện cửa hàng nhận thanh toán bằng thẻ VISA, bạn mua hàng và yêu cầu
thanh toán bằng thẻ của mình. Cửa hàng sẽ quẹt (swipe) thẻ của bạn vào một
chiếc máy đọc (gọi là EDCT - Electronic Data Capture Terminal). EDCT đọc
các thông tin về thẻ của bạn ghi trên băng từ và contact ngân hàng của cửa
hàng (Merchant's Bank) thông qua modem, đường điện thoại hoặc ISDN line,
gửi kèm theo yêu cầu về số tiền cần thanh toán, ngân hàng này kiểm tra trong
CSDL của VISA xem thẻ của bạn có phải là thẻ hết hạn hoặc bị mất cắp hay
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
không, số tiền bạn muốn trả có vượt quá hạn mức không, nếu không, ngân
hàng sẽ báo lại ngay trong vài giây về EDCT là giao dịch được phê duyệt
(approved), khi đó EDCT sẽ in ra một tờ giấy nhỏ ghi rõ số tiền, mã số giao
dịch để bạn ký vào đó (Sale Slip). Bạn được giữ bản chính của sale slip,
Merchant sẽ giữ bản sao và gửi về ngân hàng để nhận tiền sau này. Nhận
được sale slip Merchant's bank sẽ ghi có (credit) ngay số tiền giao dịch vào tài
khoản của Merchant đồng thời gửi thông báo qua mạng của VISA yêu cầu
ngân hàng của bạn (Cardholder's Bank) thanh toán số tiền. Cardholder's bank
sẽ thanh toán tiền cho Merchant's Bank và debit số tiền vào tài khoản của bạn.
Chi tiết về giao dịch sẽ được ghi trong Statement kế tiếp gửi đến cho bạn. Giả
sử có người ăn cắp thẻ của bạn, giả mạo chữ ký của bạn thì trong thời hạn
nhất định (thường là 2 tuần) bạn có thể liên hệ với ngân hàng của bạn để đòi
lại tiền. VISA đảm bảo rằng nếu ngân hàng của bạn chứng minh được chữ ký
không phải là chữ ký của bạn thì họ sẽ trả lại tiền cho bạn ngay. Merchant's
bank sẽ lấy lại tiền từ tài khoản của Merchant còn việc tranh chấp là gánh
nặng của Merchant đi theo bạn đòi tiền nếu họ muốn. Trường hợp này gọi là
Chargeback.
Trường hợp bạn thanh toán online, Merchant không có điều kiện swipe
thẻ của bạn, cũng không nhìn thấy bạn. Nhưng bạn cung cấp tên, ngày hết hạn
và số thẻ (16 số in trên mặt trước thẻ) thì họ cũng kiểm tra được tương tự như
làm qua EDCT. Để bảo vệ thêm cho Merchant, phía sau thẻ có một dãy số dài
in trên cùng dải băng nơi có chữ ký của bạn. Đa số các Merchant yêu cầu bạn
cung cấp 3-4 số cuối trong dãy số này, gọi là security code, trước khi nhận
thanh toán. Tuy vậy bạn thấy rõ rằng giao dịch này không hoàn toàn an toàn
100%, một người có bản photocopy cả 2 mặt thẻ của bạn là có thể thanh toán
online rồi. Đừng lo, rủi ro là ở phía Merchant, nếu bạn phát hiện giao dịch
không đúng trên Statement của mình, hãy đến ngay ngân hàng của bạn yêu
cầu chargeback. Nếu bạn chứng minh được giao dịch không phải do bạn thực
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hiện (e.g. bạn ở Hàn Quốc mà giao dịch lại do ai đó thực hiện từ máy tính ở
Mỹ) hoặc bạn claim là chẳng nhận được hàng gì cả, thì ngân hàng của bạn có
cơ sở để đòi lại số tiền cho bạn ngay. Cuối cùng, chỉ tội nghiệp ông Merchant
có thể đã gửi hàng đi mà chẳng được trả tiền, nếu có muốn kiện bạn thì bạn ở
quá xa xôi, chi phí pháp lý thì cao, đành chấp nhận ngậm bồ hòn làm ngọt
vậy. Không ít người đã sử dụng kẽ hở này để thực hiện các giao dịch không
trung thực trên internet.
Để chống lại hiện tượng này các tổ chức thanh toán quốc tế có vài giải pháp.
Các thẻ xảy ra rắc rối sẽ được ghi lại trên CSDL, lần sau sẽ khó có approval
cho giao dịch hơn. Thẻ gây ra quá nhiều giao dịch thì cảnh sát có thể bí mật
điều tra về Cardholder, và người đó có thể bị bắt, bị tù vì tội lừa đảo. Về phía
các Merchant, họ tự vệ bằng cách từ chối nhận thanh toán bằng các loại thẻ
phát hành từ các quốc gia mà ngân hàng của họ không với tới được, các quốc
gia mà hệ thống bảo vệ pháp luật, cưỡng chế thi hành kém, thậm chí thẻ do
các ngân hàng nhỏ và lạ phát hành. Một số Merchant lớn, họ có biện pháp an
toàn gần như 100% là yêu cầu bạn điền thông tin vào một tờ khai, in ra, ký
tên và gửi lại cho họ qua fax. Như đã nói ở trên, một khi giao dịch đã có chữ
ký của bạn, thì khó lòng có thể Chargeback được, và nếu chữ ký giả mạo, thì
từ chữ ký đó và số fax, thời gian, người ta có thể lần tìm ra được kẻ lừa đảo.
Người thiệt thòi trong trường hợp này, có thể nói chính là Cardholder không
được chấp nhận thanh toán, như các bạn ở Hàn Quốc chẳng hạn, trong khi thẻ
của các bạn có biểu tượng của VISA, MasterCard hẳn hoi, tiền phí thì ngân
hàng vẫn thu, mà công dụng thì không có.
 Phân loại thẻ tín dụng
 Phân loại theo hạn mức tín dụng: có 2 loại là thẻ chuẩn và thẻ Vàng
 Phân loại theo phạm vi sử dụng: Bao gồm Thẻ tín dụng quốc tế và thẻ
nội địa
• Thẻ tín dụng Quốc tế gồm: MASTERCARD, VISA, AMEX, DINNER
CLUB
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Thẻ tín dụng nội địa gồm: Ngân hàng Nông Nghiệp, ACB,
SACOMBANK…
1.1.4. Các bên tham gia hoạt động thẻ tín dụng
Hoạt động kinh doanh thẻ diễn ra theo một chu trình khép kín, bao gồm
nhiều chủ thể tham gia. Có thể khái quát chung lại các chủ thể tham gia vào
hoạt động kinh doanh thẻ gồm:
 Chủ thẻ ( Card- holder )
Là người được NHPH cho phép sử dụng thẻ theo hạn mức tín dụng được
cấp hoặc theo số dư trên tài khoản thẻ. Các thông tin về chủ thẻ được in nổi
hoặc mã hoá trên thẻ
 Đơn vị chấp nhận thẻ ( DVCNT )
CSCNT là các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ…và chấp nhận thẻ
làm phương tiện thanh toán. CSCNT là khách hàng trực tiếp của NHTT nên
phải có hợp đồng với NHTT. CSCNT cũng có quyền đòi hỏi NHTT cung cấp
máy móc, thiết bị phục vụ việc kiểm tra và thanh toán bằng thẻ. Số lượng các
điểm chấp nhận thẻ quyết định quy mô của hoạt động thanh toán thẻ, nó tác
động đến tiện ích và hiệu quả của việc thanh toán bằng thẻ của khách hàng.
 Ngân hàng phát hành thẻ ( NHPH )
Ngân hàng phát hành thẻ (NHPH) là thành viên chính thức của tổ chức
thẻ quốc tế, đồng thời được NHTW cho phép thực hiện nghiệp vụ phát hành.
Ngân hàng phát hành thẻ tham gia vào quá trình thanh toán với tư cách là chủ
nợ của chủ thẻ và là người chịu trách nhiệm thanh toán lại cho các Ngân hàng
thanh toán và các điểm chấp nhận thẻ. NHPH được quyền đưa ra các điều
kiện về phát hành và thanh toán thẻ mà chủ thẻ và các NH đại lý thanh toán,
cơ sở chấp nhận thẻ phải chấp hành.
 Ngân hàng thanh toán thẻ ( NHTT )
Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTT) là thành viên chính thức hoặc thành
viên liên kết của tổ chức thẻ quốc tế, hoặc các ngân hàng được các NHPH uỷ
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quyền thực hiện việc thanh toán thẻ. NHTT đảm nhiệm hoạt động thanh toán
chứ không liên quan đến công tác phát hành thẻ. Vì vậy, đối tượng quản lý
của NHTT là các CSCNT. Riêng thẻ quốc tế Visa và Master thì NHTT phải là
thành viên chính thức của các tổ chức này. Trên thực tế, nhiều Ngân hàng vừa
là NHPH, vừa là NHTT.
 Tổ chức thẻ Quốc Tế ( TCTQT )
Là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng tham gia phát hành và thanh
toán thẻ quốc tế. Tổ chức thẻ quốc tế có mạng lưới hoạt động rộng khắp và
làm trung tâm xử lý, cấp phép, thông tin giao dịch thanh toán của các ngân
hàng thành viên trên toàn thế giới. Tên của mỗi tổ chức thẻ quốc tế đều được
in trên sản phẩm của họ. Khác với Ngân hàng thành viên, tổ chức thẻ quốc tế
không có quan hệ trực tiếp với chủ thẻ hay CSCNT mà chỉ có trách nhiệm về
uy tín của snr phẩm thẻ của mình cũng như cung cấp một mạng lưới viễn
thông toàn cầu phục vụ cho quá trình thanh toán hay cấp phép của các ngân
hàng thành viên một cách nhanh chóng. Hiện tại các có các tổ chức thẻ VISA,
MASTERCARD, AMEX, JCB…
 Trung tâm dịch vụ thẻ
Trung tâm dịch vụ thẻ trực thuộc Ngân hàng phát hành thẻ, là đại diện
trực tiếp của ngân hàng trong quan hệ đối ngoại về phát hành, cấp phép, tra
soát, thanh toán thẻ và quản lý rủi ro. Trung tâm dịch vụ thẻ thường đứng ra
ký hợp đồng sử dụng thẻ, cung cấp thẻ và các dịch vụ kèm theo cho người sử
dụng thẻ, đồng thời giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động của thẻ.
Ngoài ra, trung tâm dịch vụ thẻ còn đảm nhận việc cung cấp các thiết bị
chuyên dùng cho các CSCNT để phục vụ cho hoạt động thanh toán thẻ.
1.2. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TÍN DỤNG
1.2.1. Lợi ích thẻ tín dụng
 Chủ thẻ
 An toàn, thuận tiện
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét