như hương vị của các sản phẩm trên đều giảm và có trường hợp còn bị ám khói và bụi bẩn.
Do thiếu thiết bị phù hợp, việc sử dụng công nghệ nhuộm trong quá trình chế biến không
được áp dụng làm ảnh hưởng lớn đến giá trị kinh tế của sản phẩm chế biến. Việc nghiên cứu
các kỹ thuật và cung cấp trang thiết bị nhằm giải quyết các vấn
đề trên nhằm nâng cao chất
lượng lương thực thực phẩm đã được thực hiện song còn rất xa nữa mới có thể đáp ứng mong
muốn của nhà sản xuất. Hiện nay, Chính phủ Việt nam cũng đã có những chính sách và các
giải pháp cụ thể nhằm cải thiện tình hình cũng như giao trách nhiệm cho các cơ quan hữu
quan giải quyết những vấn đề trên.
Tất cả những vấn
đề trên cũng là nững thách thức đối với ngành kỹ thuật nông nghiệp. Để
giảm thất thu và tăng cường hiệu quả kinh tế và chất lượng của các nông sản chính của Việt
Nam như lúa gạo, cà phê, hạt điều, hoa quả tươi (như vải, cam, nhãn, dừa vv ) cũng như đưa
các sản phẩm chế biết đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế, và yêu cầu ngày càng cao về chất
lượng của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, cần phải cải tiến kỹ thuật và công nghệ
trong lĩnh vực trên càng sớm càng tốt nhằm thực hiện thành công những mục tiêu về phát
triển đất nước trong những năm tới.
Liên quan đến vấn đề đào tạo, một hệ thống các trường đại học, các trường trung học chuyên
nghiệp và kỹ thuật đào tạo các kỹ s
ư, nhân viên kỹ thuật đã được hình thành. Dưới cơ chế
quản lý đổi mới của nền kinh tế thị trường, hầu hết các máy móc nông nghiệp đều thuộc tài
sản của nông dân và các đơn vị sản xuất cá thể. Cùng với việc cơ giới hoá mạnh mẽ và đa
dạng trong nông nghiệp, hệ thống đào tạo hiện nay đã không được thực hành đủ và tương
xứng. Hiệ
n nay, các kỹ sư, nhân viên kỹ thuật và người vận hành máy móc tại các đơn vị sản
xuất trong ngành nông nghiệp không có nhiêu cơ hội được tiếp thu những công nghệ mới và
vận hành các thiết bị ngoại nhập. Đặc biệt, việc đào tạo và cải thiện các vấn đề về an toàn, bảo
hộ lao động và môi trường trong quá trình sản xuất bị bỏ mặc hoặc không được quan tâm
thích đáng. Tỷ lệ tai n
ạn trong việc vận hành máy móc nông nghiệp và giao thông vẫn còn rất
cao và ngày càng tăng. Để giải quyết vấn đề trên và hỗ trợ nông dân, những người chuyên vận
hành máy móc cũng như các kỹ sư làm việc tại các đơn vị sản xuất địa phương, các tổ chức,
cần phải thành lập một trung tâm đào tạo để nâng cao hiểu biết trong kỹ thuật nông nghiệp.
2. Các chủ trương chính sách của nhà nước
Kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm 1996 – 2000 đã chỉ ra những khó khăn và nhiệm
vụ đối với Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2000. Hiện nay một kế hoạch 5 năm 2001 – 2005
và mười năm 2001 - 2010 cũng đã được xây dựng.
Nhận thức rõ về các vấn đề trên, Nhà nước đã ra những văn bản quan trọng sau nhằm cải
thiện tình hình liên quan:
a. Nghị quyết của Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ 8 (1996) chỉ rõ:
- “Cần đặc biệt chú trọng tới việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong lãnh vực nông nghiệp
và nông thôn nhằm khai thác triệt để các tiềm năng trong nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư
nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gial phát triển các nguồn nguyên liệu với số lượng
lớn, chất lượng cao, giá thành giảm, đáp ứng tiêu chuẩn của công nghiệp chế biến; tạo ra
công
ăn việc làm và thu nhập cho người lao động; phân phối lại lao động xã hội, thành lập
các cụm nông nghiệp gắn với đô thị hoá…’
b. Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 9 (Tháng Tư năm 2001) đã tiếp tục
khẳng định chiến lược phát triển kinh tế xã hội trên và đề ra những mục tiêu cụ thể của chiến
lược giai đoạn 2001 – 2010 như
sau:
5
“Phấn đấu đến năm 2010, GDP sẽ ít nhất gấp đôi so với GDP năm 2000 trong các ngành
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ với các tỷ lệ thứ tự là 16-17%, 40 –41% và 42-43%. Tỷ
lệ lao động trong nông nghiệp giảm xuống 50%.”
Về Phương hướng phát triển kinh tế trong Nông, Lâm và Ngư nghiệp, Nghị quyết đã chỉ rõ:
“Nhanh chóng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp đáp ứng các
tiêu chuẩn tiên tiến trong khu vực và thu nhập; nâng cao năng suất lao động và chất lượng
sản phẩm…”
“Nhanh chóng áp dụng công nghệ mới trong sản xuất, thu hoạch, bảo quản vận chuyển và
tiếp thị nông sản. Ứng dụng công nghệ sạch đối với việc trồng trọt và chế biến rau quả và
thực phẩm.”
c. Quyết định Số 03/2000ND-CP đề tháng Hai năm 2000 của Chính phủ về kinh t
ế trang
trại đã đưa ra các chính sách nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi hơn đáp ứng sự
phát triển mạnh mẽ của kinh tế trang trại trong thời gian tới. “Chính phủ sẽ hỗ trợ kinh phí,
khoa học – công nghệ, chế biến, bán nông sản, xây dựng cơ sở hạ tầng và tạo ra những điều
kiện thuận lợi để phát triển bền v
ững kinh tế trang trại”
d, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã thành lập đề án về “Công nghiệp hoá và hiện
đại hoá trong nông nghiệp và nông thôn giai đoạn 2001 – 2010” theo đó đã có 6 chương trình
của dự án được thực hiện. Có ba chương trình khác là Hiện đại hoá nông nghiệp, phát triển
công nghiệp chế biến nông sản và Cơ khí hoá và điện khí hoá nông thôn. Để hoàn thành
những mục tiêu của đề án, cần phải tập trung vào các giải pháp chính sau:
a. Tăng cường nghiên c
ứu và đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện đầu tư tập trung nhằm hiện
đại hoá các trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chế biến trong kỹ thuật nông
nghiệp…. Ưu tiên hỗ trợ nhập khẩu kỹ thuật công nghệ, các mẫu máy móc tiên tiến nhằm
nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất. Phát triển việc ứng dụng nghiên cứu về phần mềm
và tự động học.
b. Chính phủ
khuyến khích nông dân mua và sử dụng các loại máy móc bằng cách cho vay
không tính lãi hoặc với lãi suất thấp. Tăng cường cung cấp thông tin và đề nghị cho nông
dân mua máy móc và các trang thiết bị cơ giới. Thành lập các chương trình thí điểm về cơ
giới hoá để nhân rộng trong sản xuất. Miễn thuế kinh doanh và sản xuất máy móc nông
nghiệp. Thúc đẩy các dịch vụ khuyến mại hàng máy nông nghiệp.
Về lĩnh vực kỹ thuật nông nghiệp, trong hai năm 2000, 2001, có hai cuộ
c hội thảo về “Kỹ
thuật nông nghiệp phục vụ Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá: và “Kỹ thuật nông nghiệp tại
các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long” lần đầu tiên được tổ chức tại miền Bắc và miền Nam
Việt Nam. Tại cả hai cuộc hội thảo trên, tình hình thực tế và các vấn đề đã được đưa ra và bàn
luận nhằm tìm giải pháp cũng như thúc đẩy các hoạt
động trên lĩnh vực kỹ thuật nông nghiệp
tại Việt Nam. Tháng 12/2001, một hội nghị chuyên đề quốc tế với tiêu đề “Cơ khí hoá nông
nghiệp tại Việt Nam - Những vấn đề cần ưu tiên trong thế kỷ mới” đã được VIAEP tổ chức tại
Hà Nội với mục đích trao đổi và thảo luận các vấn đề được coi ưu tiên hàng đầu của các nước
phát triển và Việ
t Nam” (xem phụ lục 2&3)
3. Một số dự án và kế hoạch/chính sách phát triển cấp quốc gia
Gần đây, có một số chương trình quốc gia và dự án đã được thành lập như:
- Vào ngày 24 tháng 5 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ra Quy định số
82/2001/QĐ-TTg về phương hướng, mục tiêu và những nhiệm vụ khoa học công nghệ và
6
chương trình cấp nhà nước trong giai đoạn 2001 – 2005. Ngoài ra còn có chương trình “Khoa
học và Công nghệ phục vụ công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn” mã
số KC-07. Chương trình trên bao gồm 17 đề tài nghiên cứu. VIAEF được chọn làm đơn vị
đầu mối của chương trình quốc gia này và Giám đốc của VIAEF được cử làm chủ nhiệm
chương trình. Nhiều viện nghiên cứu, đại học và các cơ quan trên toàn quốc cũng tham gia
chương trình này.
- Dự án về công nghiệ
p hoá và hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn giai
đoạn 2001 – 2010 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện trong đó có hai
chương trình nhỏ nghiên cứu về “Chương trình cơ khí hoá và điện khí hoá nông thôn” và
“Bảo quản và Chế biến nông sản”. VIAEF chịu trách nhiệm về các chương trình trên.
Chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch là nhu cầu cấp thiết giúp đẩy mạnh chuyển
giao cơ cấu kinh tế và cải tiến công nghệ sản xu
ất nông nghiệp. Chỉ với việc ứng dụng máy
móc và trang thiết bị phù hợp và công nghệ, năng suất lao động và chất lượng nông sản mới
được cải thiện, sản xuất và thất thoát trong chế biến giảm sẽ giúp tạo ra một nền sản xuất
nông nghiệp hàng hoá. Đặc biệt, thực hiện tốt các hoạt động chế biếtn nông nghiệp và sau thu
hoạch có thể cải tiến được ch
ất lượng sống của người nghèo tại các địa phương vốn bị ảnh
hưởng bởi bão lụt như Tỉnh Quảng Ngãi.
4. Phương hướng ưu tiên phát triển kỹ thuật nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
trong 10 năm tới.
1. Cơ khí hoá về gieo trồng và sản xuất giống
- Tăng cường cơ khí hoá việc chế biến giống
- Phát triển kỹ thuật sản xuất kỹ
thuật gieo mạ, công nghiệp hoá việc cấy lúa
2. Phát triển các thiết bị và kỹ thuật trữ nước cho trồng trọt cây công nghiệp, cây ăn quả và
lương thực
3. Phát triển máy cấy, máy gieo.
4. Phát triển máy gặt, kết hợp máy gặt lúa và ngô. Ứnp dụng nghiên cứu về thu hoạch mía và
bông
5. Cung cấp máy các loại sấy khô đáp ứng nhu cầu của các nông sản cần sấy khô
6. Ứng dụng nhanh các thiết bị và công nghệ mới trong các giai
đoạn thu hoạch, sơ chế, bảo
quản và chế biến nông sản. Ứng dụng công nghệ sạch đối với canh tác và chế biến rau quả và
thực phẩm.
Để hoàn thành những mục tiêu trên, ngành nông nghiệp Việt Nam cần sự hỗ trợ của Chính
phủ và các tổ chức quốc tế. Một trong những tổ chức quốc tế lớn hỗ trợ nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam là Cơ
quan phát triển quốc tế Úc (AusAID). Riêng chương trình
phát triển nông thôn Quảng Ngãi, AusAID đã hỗ trợ 33 triệu USD tương đương với 264 tỷ
đồng.
7
GIỚI THIỆU CHUNG TỈNH QUẢNG NGÃI
Nằm ở vùng ven biển phía nam, Quảng Ngãi giáp với các tỉnh Quảng Nam ở phía bắc, Bình
Định ở phía Nam, Kon Tum ở phía Tây và phía đông giáp Biển Đông với đường biển dài
130km. Trong thời kỳ Bắc thuộc, bộ tộc người Chàm đã thành lập Vương quốc Champa,
trong đó Quảng Ngãi là một phần và sau đó sát nhập vào Đại Việt dưới triều nhà Hồ. Tỉnh
Quảng Ngãi được thành lậ
p năm 1831 với thủ phủ là Thị xã Quảng Ngãi cách Thủ đô Hà Nội
883km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 855km.
Địa hình Quảng Ngãi dốc từ Tây xuống Đông, gồm núi, rừng, đồng bằng, trung du và hải đảo.
Vùng núi nằm ở phía tây của tỉnh. Vùng đồng bằng duyên hải nằm dọc biển nhỏ hẹp. Vịnh
Dung Quất có diện tích 7km
2
với dân số 187.000 người. Quảng Ngãi có nhiều sông lớn như
Trà Bồng, Trà Khúc, Trà Cầu và Sông Vệ. Những con sông trên bắt nguồn từ vùng núi ở phía
tây và đổ ra biển qua 5 cửa sông là Sa Cần, Sa Kỳ, Cổ Luỹ, Mỹ Á và Sa Huỳnh. Đó là lý do vì
sao những dòng sông này ngắn đốc, chảy xiết thường gây ra lũ lụt vào mùa mưa và hạn hán
vào mùa khô.
Quảng Ngãi có nền văn hoá Sa Huỳnh được hình thành cách đây 2000 năm. Quảng Ngãi là
trung tâm của Vương quốc Champa với di chỉ
còn lại là thành cổ Châu Sa. Đến Quảng Ngãi,
du khách có thể thăm nhiều danh lam thắng cảnh như Núi Thạch Bích Tà Dương; Núi Thiên
Bút Phê Vân; Núi Thiên An Niêm Hạ vốn đã từng được ghi vào sách “Danh Sơn Đất Việt”
dưới triều Vua Tự Đức và được công nhận là di tích cấp quốc gia năm 1990.
Diện tích đất tự nhiên của Quảng Ngãi là 5135,2km
2
. Trong năm 2001, dân số Quảng Ngãi là
1.204.000 người, mật độ dân số là 234,9 người/km
2
. Theo cuộc điều tra dân số bắt đầu từ
ngày 1/1/1999, Quảng Ngãi có 26 dân tộc trong đó người Kinh chiếm 88,4%, H’re chiếm
8,7%; Cơ - 1,9%; Xơ Đăng - 1% vv. Hiện nay, Quảng Ngãi có 13 đơn vị hành chính với 217
xã và thị trấn gồm Thị xã Quảng Ngãi, các huyện Bình Sơn, Trà Bồng, Sơn Tịnh, Sơn Tây,
Sơn Hạ, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Minh Long, Mộ Đức, Đức Phổ, Ba Tơ và Huyện đảo Lý
Sơn.
Dân cư sống ch
ủ yếu bằng nghề nông nghiệp và thu nhập vẫn còn thấp (xem Phụ lục 4); vì
vậy, tỉnh rất cần sự giúp đỡ của cả nước cũng như của các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp
nhằm tìm ra những biện pháp hữu hiệu để tăng năng suất nông nghiệp và cải thiện chất lượng
sống của người lao động.
Để phần nào đáp
ứng việc sản xuất nông nghiệp, Chương trình Phát triển Nông thôn
(RUDEP) đã mời nhiều nhà tư vấn đến chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức nhằm đẩy nhanh các
chương trình hoạt động do AusAID và các cơ quan liên quan phía Việt Nam chuẩn bị.
BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ VỀ CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÀ CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
(Tư vấn quốc gia – Ngày 8/10/2003)
1. Mục tiêu và các mẫu đánh giá
Đánh giá về tình hình chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch tại tỉnh Quảng Ngãi
được hai ông Bede Evans và Mark Hoey – hai chuyên gia tư vấn về phát triển của Úc cùng
với ông Nguyễn Thái Dương - Chuyên gia tư vấn của VIAEP, Hà Nội và với một số cán bộ
của RUDEP thực hiện.
8
Bản đánh giá được thực hiện thông qua việc thăm và thảo luận với các quan chức của Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ngãi, các cán bộ chương trình của xã, huyện và
các hộ gia đình. Mục đích của bản đánh giá nhằm:
• Khái quát về phạm vi chế biến nông sản và các hoạt động sau thu hoạch (lương thực, rau
quả vv ) do người dân nghèo tại các xã sản xuất và một số vấn đề liên quan
• Định ước tiềm năng đối với việc chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch quy mô
nhỏ.
• Cung cấp giới thiệu về những điều kiện cần thiết đối với các hộ gia đình (ví dụ việc đào
tạo và trang thiết bị vv ) và chương trình để thực hiện các hoạt động trên với sự xác định
đầu ra của hàng hoá;
• Xác định rõ tiềm năng c
ủa các hoạt động giản đơn sau thu hoạch đối với các loại cây trồng
phổ biến như lúa gạo, ngô và sắn và giới thiệu về những điều kiện cần thiết đối với các hộ
gia đình (ví dụ việc đào tạo và trang thiết bị vv…) cùng với chương trình thực hiện các
hoạt động trên tại các xã vùng dân tộc thiểu số;
• Xác định rõ việc xây dựng khả n
ăng và kỹ năng cần thiết đối với cán bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn cấp tỉnh và huyện để phát triển các công nghệ sau thu hoạch và chế
biến nông sản đã được chuyển giao và tập huấn cho các hộ gia đình;
• Cung cấp thông tin về các chương trình của Chính phủ và các nhà tài trợ liên quan đến
công nghệ sau thu hoạch và chế biến nông sản mà RUDEP có thể phối hợp thực hiện với
các nhóm hoạt động cấ
p hộ gia đình trong chương trình xã.
Có tổng số 7 điểm đến thăm gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 06 xã có chương
trình dự án là Đức Phong, Phổ Châu, Hạnh Phước, Tĩnh Thọ, Nghĩa Thọ và Sơn Hải với
nhiều hộ gia đình. Quy trình phỏng vấn và thảo luận được thực hiện bằng cách đưa ra bảng
câu hỏi (xem Phục lục 5 và 6)
2. Trình bày
Cuộc họp giữa Sở Nông nghi
ệp và Phát triển nông thôn Tỉnh và nhóm công tác của RUDEP
Các cá nhân phụ trách:
Phía Sở NN&PTNN
1. Ông Dương - Phó Giám đốc Sở phụ trách cơ chế
2. Ông Long - Kỹ sư/chuyên gia
Phía nhóm công tác RUDEP
1. Ông Bede Evans – Chuyên gia tư vấn phát triển Úc
2. Ông Nguyễn Ngọc Huy – Chuyên gia tư vấn phát triển Chương trình của Việt Nam
3. Ông Nguyễn Thái Dương – Tư vấn quốc gia, VIAEP, Hà Nội
2.1 Sản xuất nông nghiệp
1
Về sản xuất lúa gạo: Hiện nay, tổng diện tích đất trồng lúa là 40.000ha với diện tích thu hoạch
là 90.000ha đạt năng suất 12tấn/ha/năm. Cơ cấu mùa vụ sẽ được thay đổi từ 3 vụ sang 2 vụ do
truyền thống canh tác và điều kiện thời tiết của tỉnh luôn bị lũ lụt.
Việc ứng dụng cơ khí hoá bằng máy cày, bừa tay cầm cho đất chuẩn bị gieo trồ
ng đạt gần
100%. Việc ứng dụng cơ khí hoá trong thu hoạch lúa gặp khó khăn do địa hình phức tạp và
nhiều nơi diện tích canh tác nhỏ hẹp.
1
Nguồn từ Sở NN & PTNN Tỉnh Quảng Ngãi
9
Việc sấy thóc thuận lợi hơn do thời lượng nắng kéo dài. Vì vậy, nhìn chung, không cần phải
sử dụng máy sấy cho lúa thành phẩm. Tuy nhiên đối với lúa giống, cần phải sử dụng máy khô
đề phòng.
Việc chế biến lúa gạo cần làm giảm tối thiểu mức thất thoát sau thu hoạch, điều này giúp tăng
sản lượng lương thực tính trên đầu người.
Đề nghị: Nếu có thể, hỗ trợ
các máy sấy khô và một nhà máy xay sát (một máy xay và một
máy sát) tại mỗi xã khi cần thiết.
Vể sản xuất ngô: Tổng diện tích đất trồng là 8.400 ha với năng suất 40tạ/ha (với loại ngô lai).
Tỉnh vẫn chưa có nhà máy chế biến ngô. Mặc dù có một số phương tiện phục vụ chế biến ngô
song vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu của người nông dân nghèo vốn chỉ cần thao tác giản đơn
và giá thành h
ạ.
Đề nghị: Có thể trang bị các loại máy dũa và sấy ngô tại một số hộ gia đình hoặc một nhóm
các hộ gia đình nhằm hỗ trợ việc chứa đựng. Hơn nữa, việc sấy khô kịp thời có thể ngăn chặn
các loại nấm mốc có thể tạo ra các aflatoxin trong hạt ngô - một trong những nhân tố nguy
hiểm gây ra bệnh ung thư gan ở người.
Về
sản xuất sắn: Sắn là một trong những loại cây trồng chính ở Quảng Ngãi, diện tích gieo
trồng là 14.000ha với sản lượng hàng năm đạt 133.000tấn. Một loại sắn cao sản (KM-94 với
năng suất đạt 40 tạ/ha) đã được trồng để cung cấp cho một nhà máy chế biến sắn của tỉnh với
công suất đạt 100 tấn sản phẩm và 400 tấn sắn tươi một ngày. Tuy nhiên, nhi
ều hộ dân trồng
sắn ở những khu vực nhỏ hẹp, ở đây, sắn được sơ chế, phơi khô và được dùng làm lương thực
hoặc thức ăn gia súc.
Đề nghị: Có thể cung cấp các máy thái sắn cho các hộ hoặc một nhóm các trồng sắn. Cần đề
nghị phương pháp phơi khô lát sắn thích hợp nhằm giảm thiểu vị đắng khi không được phơi
khô kịp thờ
i. Cũng có thể cung cấp kỹ thuật cất giữ sắn của tươi cho người trồng sắn.
Về sản xuất mía đường: Tổng diện tích trồng mía là 10.000ha với sản lượng 495.680
tấn/năm. Năm tới, diện tích trồng sẽ được mở rộng lên 15.000ha nhằm đáp ứng nhu cầu của
nhà máy đường Quảng Phú và Phổ Thông vốn có thể chế biến 4,000 tấn/ngày. Hiện nay, sản
lượng mía không đáp ứng đủ nhu cầu của hai nhà máy trên.
Vấn đề lớn nhất đối với việc sản xuất mía đường ở Quảng Ngãi và việc thu hoạch. Ngoài ra,
cũng cần phổ biến kỹ thuật cơ khí hoá việc canh tác mía.
Đề nghị: (Xem “3. Đề nghị các bước tiếp theo”)
Về sản suất rau quả: sản xuất rau (bao gồm rau đậu) là thế mạnh của tỉnh với t
ổng diện tích
đạt 12.000ha. Một vùng chuyên canh rau đã được thành lập nhằm cung cấp cho Đà Nẵng, Tây
Nguyên, vv. Tuy nhiên, chất lượng rau vẫn chưa cao.
Đề nghị: (Xem “3. Đề nghị các bước tiếp theo”)
2.2 Chăn nuôi
(1)
Tại Quảng Ngãi có khoảng 150.000 trâu, 180.000 bò; 500.000 lợn và 2,6 triệu gia cầm.
(1)
Nguồn: Sở NN&PTNN Quảng Ngãi
10
Trong số gia súc trên, việc chăn nuôi đàn bò được chú trọng phát triển song cần phải chú ý
đến vấn đề thức ăn. Lợn được chăn nuôi theo đàn chiếm tỷ lệ lớn. Tuy nhiên, giá thịt lợn giảm
đã không khuyến khích được nông dân tiếp tục chăn nuôi.
Đề nghị: Để duy trì việc chăn nuôi cho toàn bộ gia súc gia cầm, cần phải cải tiến năng suất
bằng cách cung cấp đủ thức ăn dinh dưỡ
ng. Một trong những phương thức cần thiết là ứng
dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Cần trang bị kỹ thuật và máy móc
mới chế biến thức ăn gia súc nhằm tăng trọng đàn gia súc. Kỹ thuật và trang thiết bị đồng bộ
để chế biến thức ăn gia súc và gia cầm sẽ giúp nông dân giảm chi phí về thức ăn; vì thế, nông
dân có thể thu lợi từ chăn nuôi bấ
t chấp sự biến động của thị trường.
Thảo luận với lãnh đạo các xã và các hộ gia đình do RUDEP lựa chọn
Xã Đức Phong - Huyện Mộ Đức (xem Phụ lục 7)
Cá nhân phụ trách
Phía Sở NN&PTNN:
1. Ông Nhân - Quyền Chủ tịch UBND Xã
2. Ông Nguyễn Đình Long – Phó chủ tịch UBND Xã và Trưởng nhóm tiếp xúc
Về phía đoàn công tác RUDEP:
1. Ông Nguyễn Thái Dương – Tư vấn quốc gia, VIAEP, Hà Nội
2. Bà An Khang – Cán bộ phát triển cấp huyệ
n - RUDEP
Đặc điểm chính của xã
Xã bao gồm 4,078 hộ trong đó có 671 hộ nghèo. Thu nhập trung bình của một hộ là 2,5 triệu
đồng. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2.711ha trong đó diện tích đất canh tác (lúa, sắn, ngô,
rau đậu, vv ) là 1.315ha; đất sử dụng cho các mục đích khác (xây dựng hệ thống giao thông,
thuỷ lợi vv ) là 974ha. Phần còn lại là vùng hoang hoá và cát trắng dọc biển.
Sản xuất nông nghiệp
Sản phẩm nông nghiệp chính của xã gồm:
Cây trồng Diện tích/ha Sản lượng, tấn/năm
Lúa 635 698,5
Sắn 130 3.120
Ngô 60 60
Mía 180 10.800
Về nông nghiệp, việc canh tác, thu hoạch và chế biến được thực hiện bằng lao động
chân tay, vì vậy khiến cho thất thu nhiều ở trong và sau thu hoạch, ví dụ đối với thu
hoạch và chế biến mía
Đề nghị: Để đảm bảo khả năng tài chính cho Chương trình trong bước đầu đào tạo về các hoạt
động công nghệ sau thu hoạch và giới thiệu các dụng cụ máy móc/ trang thiết bị được dùng để
tránh thất thoát lúa gạo, ngô và sắn hay khoai lang, nếu có thể:
Cần có những loại thùng đơn giản để đựng lúa gạo, ngô và sắn lát, cung cấp cho những hộ gia
đình rất nghèo để giúp họ giảm thiểu thất thoát do chuột, nấm mố
c và sâu bọ. Những loại
thùng trên được làm bằng tôn mạ kẽm.
11
Fig. 1 Very simple containers
H.1. Thùng tôn mạ kẽm
Đặc tính kỹ thuật của các loại thùng:
Đối với loại thùng hình trụ:
Đường kính, m 0,90
Chiều cao mỗi thùng,m 0,46
Thể tích mỗi thùng, m
3
0,293
Lượng gạo/ngô tích trữ/ vòng, kg 140/160
Giá mỗi thùng, VNĐ 37.500
Số lượng cần có 2 – 3 thùng mỗi nhà
Đối với thùng hình hộp:
Kích thước (Dài x rộng x cao) 2 x 1 x 1
Giá tiền, VNĐ 250.000
Nhà sản xuất tại địa phương
Số lượng Một thùng cho mỗi hộ
* Dụng cụ dũa ngô và thái sắn và khoai lang giúp giảm bớt sức lao động cho người nông dân
và tạo thuận lợi cho việc phơi khô
Fig. 2 Manual maize sheller
H.2 Máy dũa ngô tay cầm
Đặc tính kỹ thuật của các dụng cụ dũa ngô:
Công suất, kg ngô/giờ 40 – 70
Cân nặng, kg 7,5
Lực vận hành bằng sức lao động
Giá tiền, VNĐ 80.000
Điều kiện lắp đặt Tại một hộ gia đình hoặc một nhóm các hộ
Số người vận hành 01
Nhà sản xuất
VIAEP, 102/54 Đường Trường Trinh, Đống Đa – Hà Nội,
ĐT: (04)8695635, Fax: (04) 8689131, E-mail:
viae@fpt.vn
Số lượng lắp đặt
2 hoặc 3 nhà có thể chung một máy
Máy thái sắn và khoai lang dùng bàn đạp
12
Đặc tính kỹ thuật
Công suất, kg/h 120 – 150
Độ dày của lát (có thể điều chỉnh) mm 3- 6
Cân nặng, kg 40
Lực vận hành Bàn đạp
Giá tiền, VNĐ 300.000 – 350.000
Điều kiện lắp đặt Tại một hộ hoặc một nhóm các hộ
Người vận hành 01
Nhà sản xuất
VIAEP, 102/54 Đường Trường Trinh, Đống Đa – Hà
Nội, ĐT: (04)8695635, Fax: (04) 8689131, E-mail:
viae@fpt.vn
Số lượng lắp đặt 4 hộ có thể chung 1 máy
Máy thái sắn và khoai lang dùng tay
Đặc tính kỹ thuật
Công suất, kg/h 50 –80
Độ dày của lát (có thể điều chỉnh) mm 3- 6
Cân nặng, kg 14
Lực vận hành Dùng tay
Giá tiền, VNĐ 70.000
Điều kiện lắp đặt Tại một hộ
Người vận hành 01
Nhà sản xuất VIAEP, 102/54 Đường Trường Trinh, Đống
Đa – Hà Nội, ĐT: (04)8695635, Fax: (04)
8689131, E-mail:
viae@fpt.vn
Số lượng lắp đặt 1 máy cho 1 hộ
• Với năng suất hàng năm của lúa và ngô đạt 758,5 tấn, các loại máy sấy SH-200 và SH 1-
200 có thể được cấp cho các hộ nghèo. Các loại máy trên cũgn có thể được dùng để sấy
sắn hoặc khoai lang lát với độ ẩm dưới 25%. Sau khi sấy, máy còn có thể được dùng như
thùng đựng.
13
H3. Máy sấy nông sản SH 1 –200:
1. Quạt và động cơ điện, 2. Lò hình trụ sử dụng than bánh hoặc các phần bã nông sản, 3. Vỏ
bọc. 4. Ống dẫn khí nóng, 5. Bộ nối, 6. Ống trượt, 7. Đầu ra, 8. Vỏ bọc để phân phối sức
nóng, 9. Vách ngoài, 10. Vách trong, 11. Nền, 12. Chân trụ
Wall
Outlet chute
Heater (Oven)
H 4 Máy sấy nông sản SH 200:
Đặc tính kỹ thuật
Công suất, kg/h
Đối với lúa
Đối với ngô
180 – 220
220 – 250
Thời gian sấy, giờ (dành cho việc bay
hơi ẩm từ 20% đến 14%
15 – 18
Lực vận hành
Than bánh, vỏ trấu, lõi ngô, củi
Giá tiền, VNĐ
350.000 – 550.000
Điều kiện lắp đặt
Tại một hộ hoặc một nhóm các hộ
Số người vận hành
01
Nhà sản xuất
VIAEP, 102/54 Trường Trinh, Đống Đa–Hà Nội, hoặc 4 Ngô Quyền Hà Nội
ĐT: (04)9344172, Fax (04)8269862; 8689131, E-mail:
viae@fpt.vn;
phti-mard@hn.vnn.vn
Số lượng lắp đặt 4 hoặc 5 hộ có thể dùng 1 máy
Chăn nuôi:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét