Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

nghiên cứu Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến xã hội và con người Việt Nam

Thoạt đầu, Hoàng tử đi lang thang đây đó, sống theo kiểu khổ hạnh.
Sau đó, ngài vào rừng tu. Nhà hiền triết Alara Calama dạy cho chàng các
phép thiền định và những triết lý của upanishad. Học thuyết và thực hành
giải thoát cá nhân của Upanishad không hấp dẫn Hoàng tử. Chàng đi tiếp và
nhập vào nhóm năm người tu khổ hạnh. Suốt sáu năm trường ép xác Hoàng
tử gần như chỉ còn bộ xương khô mà vẫn chưa tìm ra chân lý của sự giải
thoát. Ngài bèn bỏ cuộc sống tu hành khổ hạnh và trở lại ăn uống bình
thường.
Khi Hoàng tử Sidhartha 35 tuổi, một hôm ngài đến ngồi dưới gốc cây
bồ đề ở ngoại vi thành phố Gaia thuộc vùng đất của vua Bimbisura, vua
nước Magadha. Cho đến một hôm có nàng Sudjata, con gái của một nông
dân trong vùng đem cho ngài một bát cơm to nấu bằng sữa. Ăn xong, ngài
xuống sông tắm rửa, rồi trở lại gốc cây bồ đề. Ngài ngồi thiền định và
nguyện sẽ không đứng dậy nếu không tìm ra sự giải thoát về điều bí ẩn của
sự đau khổ. Và Hoàng tử đã ngồi dưới gốc cây bồ đề suốt 49 ngày đêm. Bảy
tuần lễ đó là cả một chuỗi ngày đầy thử thách. Để phá sự thiền định của
Hoàng tử, con quỹ dữ Mara tìm mọi cách làm chàng nản chí. Thoạt đầu, quỷ
Mara biến thành một sứ giả đến báo cho Hoàng tử một tin bịa đặt là em trai
Hoàng tử là Đevađatta nổi loạn, bắt nhốt đức vua cha vào ngục và chiếm
nàng Yashodrara làm vợ. Thế nhưng tin dữ đó không làm cho Hoàng tử bận
tâm. Mara bèn cho gọi các quỷ dữ tới làm ra mưa to, gió lớn gây ra động đất,
lụt lội nhưng Hoàng tử vẫn ngồi bình thản dưới gốc cây bồ đề, cảm phục
trước ý chí kiên định của Hoàng tử, rắn thần Naga dùng thân làm tán cho
mưa gió cho Hoàng tử ngồi. Thấy thế quỷ dữ Mara bèn dùng biện pháp
quyết liệt và tinh tế hơn để công phá vào thành trì kiên định của Hoàng tử
Sidhartha. Nó cho gọi ba cô con gái xinh đẹp của mình là các nàng Khát
vọng, khoái lạc và Dục vọng tới múa nhảy mê hoặc nhà tu hành trẻ tuổi. Thế
nhưng biện pháp cuối cùng của quỷ Mara cũng thất bại và lũ quỷ phải dời
khỏi gốc cây bồ đề. Rạng sáng ngày 49, Siddhartha đã tìm ra bí mật của sự
đau khổ, đã tìm ra được vì sao thế giới lại tràn đầy khổ đau và đã tìm ra được
5
cách để chiến thắng sự đau khổ. Siddhartha đã hoàn toàn giác ngộ và trở
thành Buddha (Đấng giác ngộ). Sau khi giác ngộ Đức phật còn ngồi tiếp bảy
ngày nữa dưới cây bồ đề suy ngẫm về những chân lý diệu kỳ mà mình đã
khám phá. Ngài phân vân không biết có nên phổ biến đạo pháp của mình cho
thế giới không vì có huyền diệu quá khó hiểu quá đối với mọi người. Chính
thượng đế Brahma phải giáng trần để khích lệ Đức phật truyền bá đạo pháp
của mình cho thế gian. Chỉ khi đó Phật mới dời khỏi gốc cây bồ đề đi đến
khu vườn Lộc Uyển gần Varanasi để giảng bài thuyết pháp đầu tiên cho năm
người bạn tu khổ hạnh của mình. Sự kiện này được ghi chép lại như một sự
kiện quan trọng nhất của Đạo phật và được gọi là Phật quay bánh xe Đạo
pháp ( chuyển Pháp Luân ). Giáo pháp mới của Đạ phật đã gây ấn tượng
mạnh đối với năm nhà tu, họ nhanh chóng trở thành những môn đồ đầu tiên
của Đức Phật. Vài ngày sau số môn đồ của Phật đã tăng lên 60 người, theo
thời gian số môn đồ Đạo Phật ngày càng tăng và các tổ chức tăng gia đã ra
đời.
Đến năm 80 tuổi, biết mình tuổi cao, sức yếu, Đức Phật cùng các môn
đồ trở về chân núi Hymalaya nơi ngài sinh ra và lớn lên. Trên đường Phật đã
chuẩn bị mọi thứ cho các môn đồ để họ có thể tự lập được sau khi ngàu viên
tịch. Và, tại một nơi thuộc ngoại vi thành phố Cusinagara, Phật đã ra đi. Câu
nói cuối cùng của Phật là: “ Hỡi các tì kheo tất cả những gì đang tồn tại rồi
sẽ qua đi. Vậy các người càng không nên ngừng gắng sức!”.
1.2 Nội dung chủ yếu của tư tưởng triết học Phật giáo.
Tư tưởng triết lý Phật giáo được tập trung trong một khối lượng kinh
điển rất lớn, được tổ chức thành ba bộ kinh lớn gọi là tam tạng gồm:
- Tạng Luận: Gồm toàn bộ những giới luật của Phật giáo qui định cho
cả năm bộ phái Phật giáo như: “ Tứ phần luật” của thượng toạ bộ, Maha tăng
kỷ luật của “Đại chúng bộ”, căn bản nhất thiết hữu bộ luật” Sau này còn
thêm các Bộ luật của Đại Thừa như An lạc, Phạm Võng.
- Tạng kinh: Chép lời Phật dạy, trong thời kỳ đầu tạng kinh gồm nhiều
tập dưới dạng các tiền đề, mỗi tập được gọi là một Ahàm.
6
- Tạng luận: Gồm những bài bình chú, giải thích về giáo pháp của Phật
giáo. Tạng luận gồm bảy bộ thể hiện một cách toàn diện các quan điểm về
giáo pháp của Phật giáo.
Tư tưởng triết học Phật giáo trên hai phương diện, về bản thể luận và
nhân sinh quan, chứa đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng chất phác.
Phật giáo cho rằng các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ ( chử pháp )
là vô thuỷ, vô chung (vô cùng, vô tận). Tất cả thế giới đều ở quá trình biến
đổi liên tục (vô thường ) không có một vị thần nào sáng tạo ra vạn vật cả. Tất
cả các Pháp đều thuộc về một giới ( vạn vật đều nằm trong vũ trụ) gọi là
Pháp giới. Mỗi một pháp ( mỗi một sự v iệc hiện tượng, hay một lớp sự việc
hiện tượng) đều ảnh hưởng đến toàn Pháp. Như vậy các sự vật, hiện tượng
hay các quá trình của thế giới là luôn luôn tồn tại trong mối liên hệ, tác động
qua lại và qui định lẫn nhau.
Tác phẩm “ thanh dung thực luận” của kinh phật viết rằng: “ Có người
cố chấp là có Đại tự nhiên là bản thể chân thực bao khắp cả, lúc nào cũng
thường định ra chu pháp
(1)
đạo Phật cho rằng toàn bộ chư pháp đều chi chi
phối bởi luật nhân quả, biến hoá vô thường, không có cái bản ngã cố định,
không có cái thực thể, không có hình thức nào tồn tại vĩnh viễn cả. Tất cả
đều theo luật nhân quả biến đổi không ngừng và chỉ có sự biến hoá ấy là
thường còn ( vĩnh viễn ). Cái nhân nhờ có cái duyên mới sinh ra được mà
thành quả. Quả lại nhờ có duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại thành
quả. Quả lại nhờ có duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên
mà thành quả mới Cứ thế nối nhau vô cùng vô tận mà thế giới, vạn vật,
muôn loài, cứ sinh sinh, hoá hoá mãi.
Như vậy ngay từ đầu Phật giáo đã đặt ra mục đích giải quyết vấn đề cơ
bản của Triết học một cách biện chứng và duy vật. Phật giáo đã gạt bỏ vai trò
sáng tạo thế giới của các “đấng tối cao” của “Thượng đế” và cho rằng bản
thể của thế giới tồn tại khách quan và không do vị thần nào sáng tạo ra cả.
Cái bản thể ấy chính là sự thường hằng trong vận động của vũ trụ, là muôn
1
(1) Dẫn theo Đoàn Chính - Lương Minh Cừ - LSTH Ấn Độ cổ đại 1921
7
ngàn hình thức của vạn vật trong vận động, nó có mặt trong vạn vật nhưng
nó không dừng lại ở bất kỳ hình thức nào. Nó muôn hình vạn trạng nhưng lại
tuân hành nghiêm ngặt theo luật nhân quả.
Do qui luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi không
ngừng, thành, trụ, hoại, diệt ( sinh thành, biến đổi, tồn tại, tan rã và diệt
vong). Quá trình đó phổ biến khắp vạn vật, trong vũ trụ, nó là phương thức
thay đổi chất lượng của sự vật và hiện tượng.
Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hoá vô thường của vạn vật,
đã xây dựng nền thuyết “ nhân duyên”. trong thuyết “nhân duyên” có ba khái
niệm chủ yếu là Nhân, Quả và Duyên.
- Cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó, được
gọi là Nhân.
- Cái gì tập lại từ Nhân được gọi là Quả.
- Duyên: Là điều kiện, mối liên hệ, giúp Nhân tạo ra Quả. Duyên
không phải là một cái gì đó cụ thể, xác định mà nó là sự tương hợp, điều kiện
để giúp cho sự biến chuyển của vạn Pháp.
Ví dụ hạt lúa là cái quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của
cây lúa sắp thành. Lúa muốn thành cây lúa có bông lại phải nhờ có điều kiện
và những mối liên hệ thích hợp như đất, nước, không khí, ánh sáng. Những
yếu tố đó chính là Duyên.
Trong thế giới sinh vật, khi đã giải thích về nguyên nhân biến hoá vô
thường của nó, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện đại tới tương lại. Phật giáo đã
trình bày thuyết “ Thập Nhị Nhân Duyên” ( mười hai quan hệ nhân duyên)
được coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, một cách tất yếu
của sự liên kết nghiệp quả.
+ Vô minh: ( là cái không sáng suốt, mông muội, che lấp cái bản nhiên
sáng tỏ).
+ Hành: ( là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết quả,
tạo ra cái nghiệp, cái nếp. Do hành động mà có thức ấy là hành làm quả cho
vô minh và là nhân cho Thức).
8
+ Thức: ( Là ý thức là biết. Do thức mà có Danh sắc, ấy là Thức làm
quả cho hành và làm nhân cho Danh sắc).
+ Danh sắc: ( Là tên và hành ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình và
tên của ta. Do danh sắc mà có Lục xứ, ấy danh sắc làm quả cho thức và làm
nhân cho Lục xứ).
+ Lục xứ hay lục nhập: ( Là sáu chỗ, sáu cảm giác: Mắt, mũi, lưỡi, tai,
thân và tri thức. Đã có hình hài có tên phải có Lục xứ để tiếp xúc với vạn vật.
Do Lục nhập mà có xúc - tiếp xúc. ấy là Lục xứ làm quả cho Danh sắc và
làm nhân cho Xúc.)
+ Xúc: ( Là tiếp xúc với ngoại cảnh qua sáu cơ quan xúc giác gây nên
cmở rộng xúc, cảm giác. Do xúc mà có thụ ấy là xúc làm quả cho Lục xứ và
làm nhân cho Thụ.)
+ Thụ: (Là tiếp thu, lĩnh nạp, những tác động bên ngoài tác động vào
mình. Do thụ mà có ái. ấy là thụ làm quả cho Xúc và làm nhân cho ái.)
+ ái: (Là yêu, khát vọng, mong muốn, thích. Do ái mà có Thủ. Do ấy,
ái làm quả cho Thụ và làm nhân cho Thủ.)
+ Thủ: ( Là lấy, chiếm đoạt cho minh. Do thủ mà có Hữu. Do vậy mà
Thủ làm quả cho ái và làm nhân cho Hữu.)
+ Hữu: ( Là tồn tại, hiện hữu, ham, muốn, nên có dục gây thành cái
nghiệp. Do Hữu mà có sinh, do đó Hữu là quả của Thủ và làm nhân của
Sinh).
+ Sinh: ( Hiện hữu là ta sinh ra ở thế gian làm thần thánh, làm người,
làm súc sinh. Do sinh mà có Tử, ấy là sinh làm quả cho Hữu và làm nhân
cho Tử).
+ Lão tử: ( Là già và chết, đã sinh ra là phải già yếu mà đã già là phải
chết. Nhưng chết - sống là hai mặt đối lập nhau không tách rời nhau. Thể xác
tan đi là hết nhưng linh hồn vẫn ở trong vòng vô minh. Cho nên lại mang cái
nghiệp rơi vào vòng luân hồi ( khổ não).
Thập nhị nhân duyên như nước chảy kế tiếp nhau không bao giờ cạn,
không bao giờ ngừng, nên đạo Phật là Duyên Hà. Các nhân duyên tự tập
9
nhau lại mà sinh mãi mãi gọ là Duyên hà mãn. Đoạn này do các duyên mà
làm quả cho đoạn trước, rồi lại do các duyên mà làm nhân cho đoạn sau. Bởi
12 nhân Duyên mà vạn vật cứ sinh hoá vô thường.
- Mối quan hệ Nhân - Duyên là mối quan hệ biện chứng trong không
gian và thời gian giữa vạn vật. Mối quan hệ đó bao trùm lên toàn bộ thế giới
không tính đến cái lớn nhỏ, không tính đến sự giản đơn hay phức tạp. Một
hạt cát nhỏ được tạo thành trong mối quan hệ nhân quả của toàn vũ trụ. Cả
vũ trụ hoà hơp tạo nên nó. Cũng như nó hoà hợp tạo nên cả vũ trụ bao la.
Trong một có tất cả trong tất cả có một. Do nhân Duyên mà vạn vật sinh hay
diệt. Duyên hợp thì sinh, Duyên tan thì diệt.
Vạn vât sinh hoá vô cùng là do ở các duyên tan hợp, hợp tan nối nhau
mà ra. Nên vạn vật chỉ tồn tại ở dạng tương đối, trong dòng biến hoá vô tận
vô thường vô thực thể, vô bản ngã, chỉ là hư ảo. Chỉ có sự biến đổi vô
thường của vạn vật, vạn sự theo nhân duyên là thường còn không thay đổi.
Do vậy toàn bộ thế giới đa dạng, phong phú, nhiều hình, nhiều vẻ
cũng chỉ là dòng biến hoá hư ảo vô cùng, không có gì là thường định, là
thực, là không thực có sinh, có diệt, có người, có mình, có cảnh, có vật, có
không gian, có thời gian. Đó chính là cái chân lý cho ta thấy được cái chân
thế tuyệt đối của vũ trụ. Thấy được điều đó gọi là “ chân như” là đạt tới cõi
hạnh phúc, cực lạc, không sinh, không diệt, niết bàn.
Thế giới của chúng sinh (loài người) cũng do nhân duyên kết hợp mà
thành. Đó là sự kết hợp của hai thành phần: Phần sinh lý và phần tâm lý.
- Cái tôi sinh lý tức là thể xác, hình chất với yếu tố “ sắc” ( địa, thuỷ,
hoá, phong ) tức là cái cảm giác được.
- Cái tôi tâm lý ( tinh thần ) linh hồn tức là “tâm” với 4 yếu tố chỉ có
tên gọi mà không có hình chất gọi là “ Danh”.
Trong “Sắc’ gồm những cái nhìn thấy được cũng như những thứ
không nhìn thấy được nếu nó nằm trong quá trình biến đổi của “sắc” gọi là
“vô biến sắc” như vật chất chuyển hoá thành năng lượng chẳng hạn.
10
Bốn yếu tố do nhân duyên tạo thành phần tâm lý ( tinh thần ) của con
người là:
+ Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng, đưa đến sự xúc
chạm lĩnh hội thân hay tâm.
+ Tưởng: Suy nghĩ, tư tưởng.
+ Hành: ý muốn thúc đẩy hành động.
+ Thức: Nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý ta là ta.
Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn do Nhân - Duyên tạo thành mỗi
sinh vật cụ thể có danh và có sắc. Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta. Duyên tan
ngũ uẩn thì là diệt. Quá trình hợp tan ngũ uẩn do Nhân - Duyên là vô cùng
tận.
- Các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn luôn biến hoá theo qui luật nhân
hoá không ngừng không nghỉ, nên mọi sinh vật cũng chỉ là vụt mất, vụt còn.
Không có sự vật riêng biệt, cố định, không có cái tôi, cái tôi hôm qua không
còn là cái tôi hôm nay. Kinh Phật có đoạn viết “ Sắc chẳng khác không,
không chẳng khác sắc, sắc là không, không là sắc. Thụ, Tưởng, Hành, Thức
cũng đều như thế”.
Như vậy thế giới là biến ảo vô thường, vô định. Chỉ có những cái đó
mới là chân thực, vĩnh viễn, thường hằng. Nếu không nhận thức được nó thì
con người sẽ lầm tưởng ta tồn tại mãi mãi, cái gì cũng thường định, cái gì
cũng của ta. Do đó, mà con người cứ khát ái, tham dục cứ mong muốn và
hành động chiếm đoạt tạo ra kết quả mà kết quả đó có thể tốt, có thể xấu gây
nên nghiệp báo, rơi vào bể khổ triền miên không bao giờ dứt.
Sở dĩ có nỗi khổ là do qui định của Luật nhân quả. Vì thế mà ta không
thấy được cái luật nhân bản của mình ( bản thể chân thực ). Khi đã mắc vào
sự chi phối của Luật Nhân - Duyên, thì phải chịu nghiệp báo và kiếp luân
hồi, luân chuyển tuần hoàn không ngừng, không dứt.
Nghiệp và luân hồi không những chỉ là những khái niệm của Triết học
Phật giáo mà có từ trong Upanishad.
11
Nghiệp chữ phạn và Karma là cái do những hoạt động của ta, do hậu
quả việc làm của ta, do hành động của thân thể ta. Được gọi là “ thân
nghiệp”, còn hậu quả của những lời nói của ta, phát ngôn của ta thì được gọi
làg “ khẩu nghiệp”. Hay những cái do ý nghĩ của ta, do tâm tue của ta gây
nên được gọi là ‘ý nghiệp”. Tất cả những thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp
là do ta tham dục mà thành, do ta muốn thoả mãn tham vọng của mình gây
nên. Sở dĩ ta tham dục vì ta chưa hiểu đươc chân bản vốn có của ta cũng như
vạn vật là luôn luôn biến đổi không có gì là thường định và vĩnh viễn cả.
Cuộc đời con người là sự ghánh chịu hậu quả của nghiệp đương thời
và các kiếp sống trước rồi nó tiếp tục chi phối cả đời sau.
Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra trong
hiện tại cộng với các nghiệp gây ra trong quá khứ, nó quyết định đời sau xấu
hay tốt, thiện hay ác.
Luân hồi: Chữ phạn là Samsara. Có nghĩa là bánh xe quay tròn. Đạo
phật cho rằng, sau khi một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra
khỏi thể xác và đầu thai vào một sinh vật khác nhập vào một thể xác khác
(có thể là con người, loài vật thậm chí cỏ cây). Cứ thế mãi do kết quả, quả
báo hành động của những kiếp trước gây ra. Đó cũng là cách lý giải căn
nguyên nỗi khổ ở đời con người.
Sau khi lý giải được nỗi khổ ở cuộc đời con người là do “ thập nhị
nhân duyên” làm cho con người rơi vào bể trầm luân. Đạo Phật đã chủ
chương tìm con đường diệt khổ. Con đường giải thoát đó không những đòi
hỏi ta nhận thức được nó mà cao hơn ta phải hành động, phải thấm nhuần tứ
diệu đế.
Tứ diệu đế: Là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúng
sinh phải thấu hiểu và thực hiện nó. Tứ diệu đế gồm:
1. Khổ đế: Con người và vạn vật sinh ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu
là khổ, chết là khổ, ghét nhau mà phải sống gần nhau là khổ, yêu nhau mà
phải chia lìa nhau là khổ, mất là khổ mà được cũng là khổ. Những nỗi khổ
ấy từ đâu? chúng ta tiếp tục tìm hiểu Tập đế.
12
2. Tập đế: Tập là tập hợp, tụ tập lại mà thành. Vậy do những gì tụ tập
lại mà tạo ra nỗi khổ cho chúng sinh?
Đó là do con người có lòng tham, dâm (giận dữ ), si ( si mê, cuồng
mê, mê muội) và dục vọng. Lòng tham và dục vọng của con người xâu xé là
do con người không nắm được nhân duyên. Vốn như là một định luật chi
phối toàn vũ trụ. Chúng sinh khômg biết rằng mọi cái là ảo ảnh, sắc sắc,
không không. Cái tôi tưởng là có nhưng thực là không. Vì không hiểu được
ra nỗi khổ triền miên, từ đời này qua đời khác.
3. Diệt đế: Là phải thấu hiểu được “ Thập nhị nhân duyên” để tìm ra
được căn nguyên của sự khổ - để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ.
Thực chất là thoát khỏi nghiệp chướng, luân hồi, sinh tử.
4. Đạo đế: Là con người ta phải theo đế diệt khổ, phải đào sâu suy
nghĩ trong thế giới nội tâm ( thực nghiệm tâm linh ). Tuy luyện tâm trí, đặc
biệt là thực hành YOGA để đạt tới cõi siêu phàm mà cao nhất là đạt tới cõi
phận là đạt tới trình độ giác ngộ bát nhã. Tới chừng đó sẽ thấy được chân
như và thanh thản tuyệt đối, hết ham muốn, hết tham vọng tầm thường, tức
là đạt tới cói “niết bàn” không sinh, không diệt.
Thực hiện Đạo đế là một quá trình lâu dài, kiên trì, giữ nguyên giới
luật tập trung thiên định cao độ Phật giáo đã trình bày 8 con đường hay 8
nguyên tắc ( Bát chính Đạo - buộc ta phải tuân thủ bát chính đạo gồm:
- Chính kiến: Phải nhận thức đúng, phân biệt được phải trái, không để
cho những cái sai che lấp sự sáng suốt.
- Chính tư duy: Suy nghĩ phải, phải chính, phải đúng đắn.
- Chính nghiệp: Hành động phải chân chính, phải đúng đắn.
- Chính ngữ: Nói phải đúng, không gian dối, không vu oan cho người
khác.
- Chính mệnh: Sống trung thực, không tham lam, vụ lợi, gian tà,
không được bỏ điều nhân nghĩa.
- Chính tịnh tiến: Phải nỗ lực, siêng năng học tập, có ý thức vươn lên
để đạt tới chân lý.
13
- Chính niệm: Phải luôn luôn hướng về đạo lý chân chính, không nghĩ
đến những điều bạo ngược gian ác.
- Chính định: Kiên định tập trung tư tưởng vào con đường chính,
không bị thoái chí, lay chuyển trước mọi cán dỗ.
Muốn thực hiện được “ Bát chính đạo” thì phải có phương pháp để
thực hiện nhằm ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và
những người làm điều thiện có lợi ích cho mình và cho người. Nội dung của
các phương pháp đó là thực hiện “ Ngũ giới” ( năm điều răn ) và “Lục độ”
(Sáu phép tu ).
- “Ngũ giới” gồm:
+ Bất sát: Không sát sinh
+ Bất đạo: Không làm điều phi nghĩa.
+ Bất dâm: Không dâm dục.
+ Bất vọng ngữ: Không bịa đặt, không vu oan giáo hoạ cho kẻ
khác, không nói dối.
- “Lục độ” gồm:
+ Bố thí: Đêm công sức, tài trí, của cải để giúp người một cách
thành thực chứ không để cầu lợi hoặc ban ơn.
+ Trí giới: Trung thành với điều răn, kiên trì tu luyện.
+ Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng để
làm chủ được mình.
+ Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên.
+ Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, chính
không để cho cái xấu cho lấp.
+ Bát nhã: Trí tuệ thấy rõ hết, hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế
gian.
Tóm lại: Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện
“Bát hành đạo”, “Ngũ giới”, “Lục độ” thì chúng sinh mới có thể giải thoát
mình ra khỏi nỗi khổ. Phật giáo không chủ trương giải phóng bằng cách
mạng xã hội. Mặc dù Phật giáo lên án rất gay gắt chế độ người bóc lột người,
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét