Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ

Chuyên đề tốt nghiệp
+ Các công ty trách nhiệm hữu hạn.
+ Các công ty cổ phần ( kể cả doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa,
công ty cổ phần có vốn góp của Nhà nước).
+ Các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, doanh
nghiệp liên doanh được thành lập theo Luật đầu tư trực tiếp của nước ngoài.
Đơn vị doanh nghiệp đồng thời là đơn vị trong các phân tổ số liệu các
chỉ tiêu theo loại hình doanh nghiệp, theo ngành kinh tế theo vùng và theo địa
phương, những doanh nghiệp có một hoặc nhiều đơn vị phụ thuộc đóng ở các
địa phương khác nhau thì số liệu của toàn doanh nghiệp được phân vào cho
địa phương có trụ sở chính của doanh nghiệp đóng, nhưng doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh nhiều ngành thì căn cứ vào ngành sản xuất kinh doanh chính.
1.1.2. Vai trò của doanh nghiệp trong việc tạo lập nguồn thu
Trong một nền kinh tế hội nhập và phát triển như nước ta hiện nay
doanh nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng. Các doanh nghiệp giữ vai
trò chủ đạo trong việc làm tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP). Nhờ
có các doanh nghiệp mà việc sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ, thực hiện
quá trình phân phối, phục vụ tích cực cho sản xuất đồng thời thỏa mãn được
nhu cầu tiêu dùng của xã hội và có sản phẩm dư thừa để xuất khẩu.
Các doanh nghiệp trong nước đã sản xuất và cung cấp hầu hết các sản
phẩn dịch vụ quan trọng trong nền kinh tế như điện, than, xi măng, sắt thép…
các dịch vụ bưu chính viễn thông, ngân hàng, vận tải đường sắt đường hàng
không… Các doanh nghiệp trong nước đã góp phần tăng nhanh tỷ trọng GDP
trong các ngành công nghiệp và dịch vụ làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Trần Thế Lực Lớp: Quản lý kinh tế 46B
4
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguồn thu chủ yếu cho NSNN có sự đóng góp rất lớn của các doanh
nghiệp trong nước. Tổng thu NSNN năm 2002 la 112 nghìn tỷ đồng tăng
14,6% so với năm 2001 trong đó thu nội địa đạt 59,9 nghìn tỷ đồng, thu từ
dầu thô đạt 25,6 nghìn tỷ đồng thu từ thuế xuất nhập khẩu đạt 31,5 nghìn tỷ
đồng, tăng 37,3% và chiếm 26.5% tổng thu ngân sách nhà nước. Đặc biệt tỷ lệ
thu ngân sách nhà nước so với GDP đạt 22,2%, đây cũng là mức huy động
cao nhất kể từ nhiều năm qua.
Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong những năm vừa qua
không ngừng tăng cao đã góp phần nâng cao hiệu quả của ngành thương mại
đồng thời khẳng định vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế tạo nguồn thu
đáng kể cho NSNN, kim ngạch xuất khẩu năm 2006 là 39,605 triệu USD,
năm 2005 là 32,223 triệu USD, tăng 22,91% bình quân trong 5 năm từ 2002-
2006 kim ngạch xuất khẩu đạt 27,04 triệu USD.
Hoạt động của các doanh nghiệp đã tạo ra một khối lượng lớn công ăn
việc làm cho người lao động trong xã hội. Theo thống kê sơ bộ thì trong năm
2007 có khoảng trên 51 nghìn doanh nghiệp được thành lập mới, đã thu hút
được khoảng hơn 1,2 triệu lao động (tăng 10% so với kế hoạch, sự xuất hiện
của ngày càng nhiều các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh đặc biệt là
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã làm cho nền kinh tế trở nên sôi
động và linh hoạt hơn, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội và sự
phát triển của đất nước.
1.2. QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ
1.2.1. Mục tiêu và yêu cầu của quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp
Quản lý thu thuế là một nội dung quan trọng trong quản lý tài chính
Nhà nước.
Trần Thế Lực Lớp: Quản lý kinh tế 46B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
a. Quản lý thu thuế nhăm đạt được những mục tiêu cơ bản sau đây:
- Huy động đầy đủ số thu cho Ngân sách Nhà nước, không ngừng phát
triển nguồn thu.
Như ta đã biết mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều dựa vào Ngân
sách Nhà nước trong đó thuế là nguồn thu chủ yếu. Do đó làm tốt công tác
quản lý thu thuế sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện những
chức năng nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của xã
hội như đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông đô thị, đảm bảo phúc lợi xã hội
giáo dục y tế đó cũng chính là một biện pháp nhằm làm giảm tỷ lệ thâm hụt
của Ngân sách Nhà nước. Các chính sách thuế sẽ tác động đến thu nhập của
các thành phần trong nền kinh tế, qua đó thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển
của nền kinh tế.
- Tăng cường ý thức nghiêm chỉnh chấp hành luật thuế và ý thức pháp
luật cho các thành phần trong nền kinh tế.
Nộp thuế vừa là trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân, vì thế thông
qua các công cụ pháp luật để tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô, ý thức
chấp hành pháp luật của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không
nhỏ đến việc quản lý nền kinh tế của Nhà nước. Thông qua việc tổ chức thực
hiện, kiểm tra và thanh tra việc chấp hành các luật thuế mà nâng cao ý thức
chấp hành pháp luật của người dân, từ đó tạo thói quen tốt trong mọi tầng lớp
nhân dân.
b. Yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý thu thuế:
- Phải đảm bảo nguyên tắc tập chung dân chủ
Trong quản lý Nhà nước về kinh tế xã hội đây là nguyên tắc cơ bản
nhất vì vậy trong quản lý thu thuế tất yếu cũng phải tuân theo nguyên tắc này.
Trần Thế Lực Lớp: Quản lý kinh tế 46B
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Do thuế có tác động vào thu nhập của các thành phần kinh tế và dân cư đồng
thời thuế lại mang tính chất là một khoản thu bắt buộc, do vậy quán triệt
nguyên tắc tập trung dân chủ là để đảm bảo cho chính sách thuế đi vào thực
tế, được các tầng lớp dân cư tiếp nhận một cách tự nguyện.
Nguyên tắc tập chung dân chủ trong quản lý thu thuế được thể hiện
trong các nội dung sau đây:
Dân chủ trong thảo luận, xây dựng các luật thuế, nhưng phải đảm bảo
tính tập trung trong việc phê chuẩn và ban hành các luật thuế
Tập trung dân chủ trong việc thực hiện các nội dung của quá trình hành thu.
- Phải đản bảo nguyên tắc công khai
Việc thu thuế đối với các tổ chức cá nhân trong nền kinh tế điều đó sẽ
liên quan đến quyền lợi vật chất của nhiều đối tượng, đồng thời cũng dễ phát
sinh những tiêu cực trong quá trình thu thuế. Nhằm phát huy vai trò tự kiểm
tra lẫn nhau giữa các đối tượng nộp thuế và đảm bảo tính công bằng trong
việc thực hiện những nghĩa vụ về thuế nguyên tắc công khai có vai trò hết sức
quan trọng, từ đó hạn chế những tiêu cực trong ngành thuế.
Yêu cầu của nguyên tắc này là:
+ Phổ biến, tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp dân cư về nội
dung của các chính sách thuế hiện hành.
+ Công khai về các căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế cho các đối
tượng nộp thuế.
+ Công khai về các vấn đề liên quan đến những ưu đãi thuế cho các đối
tượng được miễn giảm thuế.
Trần Thế Lực Lớp: Quản lý kinh tế 46B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2. Nội dung của quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập nguồn thu cho
Ngân sách Nhà nước. Vì vậy việc quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp phải
được nhìn nhận một cách chính xác để từ đó có những chính sách cụ thể và
toàn diện như yêu cầu của hệ thống các luật thuế, tổ chức thự hiện các luật
thuế và thanh tra thuế.
a. Yêu cầu cơ bản của hệ thống các luật thuế
Hệ thống luật thuế phải bao quát hết các nguồn thu phát sinh trong nền
kinh tế. Việc bao quát hết các nguồn thu của thuế được thể hiện trước hết là
bao quát về số lượng các cơ sở, các loại hoạt động, số doanh nghiệp trong
diện điều tiết của thuế. Tiếp đó thuế phải bao quát được về nội dung và qui
mô của các khoản thu nhập của doanh nghiệp cần điều tiết. Điều này đảm bảo
phát huy tối đa mọi nguồn thu có thể được từ các doanh nghiệp cho ngân sách
Nhà nước.
Hệ thống thuế nói chung và từng luật thuế nói riêng phải đảm bảo tính
công bằng cho các doanh nghiệp. Như những doanh nghiệp có cùng điều kiện
như nhau về qui mô sản xuất và thu nhập thì phải được đối xử như nhau và
ngược lại những doanh nghiệp có qui mô sản xuất và thu nhập cao hơn thì
phải nộp nhiều thuế hơn đồng thời tính công bằng này phải được xem xét
trong điều kiện và những doanh nghiệp cụ thể.
Nội dung của từng sắc thuế phải đảm bảo tính đơn giản dễ thực hiện và
dễ kiểm tra. Nhà nước ban hành các chính sách thuế, nhưng người thực hiện
các chính sách thuế ấy lại là các doanh nghiệp và nhân dân. Do vậy về nội
dung các chính sách thuế phải rõ ràng, dễ hiểu mang tính phổ thông, phù hợp
với trình độ của các cơ quan thu thuế và doanh nghiệp nộp thuế, phù hợp với
mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. Như vậy việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
Trần Thế Lực Lớp: Quản lý kinh tế 46B
8
Chuyên đề tốt nghiệp
với nhà nước sẽ trở nên dễ dàng và minh bạch để từ đó các doanh nghiệp sẽ tự
giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước.
b.Tổ chức thực hiện các luật thuế đối với các doanh nghiệp
Trên cơ sở các luật thuế đã được các cơ quan quyền lực phê chuẩn và
ban hành, các luật thuế được đưa vào áp dụng trong thực tế. Do đó khâu tổ
chức thực hiện đóng vai trò quyết định đến hiệu quả của công tác thu thuế. Nó
bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Tuyên truyền phổ biến các luật thuế đến các doanh nghiệp
Đây là công việc cần phải được duy trì thường xuyên đối với các doanh
nghiệp, nhằm nâng cao ý thức và những kiến thức cần thiết cho các đối tượng.
Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài báo các ấn phẩm có
liên quan đồng thời tổ chức các cuộc hội nghị nhằm hướng dẫn giải thích các
chính sách thuế đến các doanh nghiệp.
- Tổ chức quản lý thu thuế
Thứ nhất: Quản lý đối tượng nộp thuế hàng năm trên cơ sở tờ khai đăng
kí kinh doanh của các doanh nghiệp mà cơ quan thuế tiến hành cấp mã số
thuế cho các doanh nghiệp mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số thuế duy
nhất và thống nhất trong phạm vi cả nước. Mọi hồ sơ, thông tin về đối tượng
nộp thuế đều được nạp vào máy tính đây là phương pháp quản lý thuế băng
mạng máy tính rất hiện đại và hiệu quả đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế
giới nhằm đảm bảo tính chính xác khách quan và chống gian lận trong công
tác thu nộp thuế.
Thứ hai: Xây dựng và lựa chọn qui trình quản lý thuế, hiện nay ngành
thuế đang quản lý thuế theo quy trình tự tính tự khai và nộp thuế vào kho bạc
quy trình này nhằm thực hiện tốt luật thuế GTGT và luật thuế TNDN đồng
Trần Thế Lực Lớp: Quản lý kinh tế 46B
9
Chuyên đề tốt nghiệp
thời áp dụng, cải tiến qui trình quản lý thu thuế các loại thuế khác, thực hiện
cải cách quản lý hành chính thuế. Điều đó nâng cao tính tự giác thực hiện
nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp. Nhằm phát huy chức năng, quyền hạn của cơ
quan thuế trong việc hành thu theo đúng chức năng do Nhà nước qui định.
Xóa bỏ chế độ cán bộ thuế chuyên quản đối tượng nộp thuế, áp dụng biện
pháp nghiêm minh đối với các trường hợp khai man trốn lậu thuế. Nhưng
doanh nghiệp cũng cần làm tốt chế độ sổ sách kế toán, mua bán phải ghi hóa
đơn đầy đủ, rõ ràng, đặc biệt phải ghi mã số thuế trên mọi chứng từ sổ sách kế
toán. Đây chính là căn cứ và cơ sở để xác minh tính chính xác của việc tự
khai thuế của đối tượng nộp thuế công tác kiểm tra thanh tra thuế phải được
tăng cường mạnh mẽ nhằm đáp ứng được các đòi hỏi mà ngành thuế đặt ra.
Đồng thời cũng phải có những hình thức xử phạt theo quy định để răn đe các
doanh nghiệp có hành vi gian lận trốn thuế.
Thứ ba: Phương pháp áp dụng hiện nay là doanh nghiệp tự tính thuế
theo kê khai có kiểm tra của cơ quan thuế. Cơ quan thuế trên cơ sở tờ khai
thuế hàng tháng của các doanh nghiệp, kiểm tra đối chiếu với sổ sách kế toán,
với tình hình thực tế sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, kịp thời phát
hiện và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm. Như vậy, cần phải có những
quy định rõ ràng về việc quản lý và sử dụng chứng từ, hóa đơn sổ sách kế
toán theo hệ thống tài khoản hoàn chỉnh, hiện đại hóa công tác quản lý thuế.
Thứ tư: Tổ chức thu nộp thuế, các doanh nghiệp trực tiếp nộp thuế vào
Kho bạc Nhà nước. Hình thức này khắc phục những nhược điểm của các hình
thức khác nhưng cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của Kho bạc và cơ quan
thuế và việc luân chuyển chứng từ để đảm bảo tính thống nhất giữa các cơ
quan.
Trần Thế Lực Lớp: Quản lý kinh tế 46B
10
Chuyên đề tốt nghiệp
c. Thanh tra thuế
- Mục đích yêu cầu của thanh tra thuế
Đây là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý thu
thuế. Thanh tra thuế là hệ thống các tổ chức thanh tra của ngành thuế nhằm
hướng tới những mục đích chủ yếu sau đây:
Phát hiện để từ đó có biện pháp xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm
như khai man trốn lậu thuế, nợ đọng thuế nhằm hạn chế tới mức thấp nhất
thất thu cho ngân sách Nhà nước.
Nhằm đảm bảo nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế cho các
doanh nghiệp và cho người thi hành công vụ trong ngành thuế.
Phát hiện những nội dung không phù hợp của luật thuế, bộ máy và
nghiệp vụ ngành thuế so với thực tiễn kinh tế của đất nước.
- Nội dung của thanh tra thuế
Thanh tra việc chấp hành những quy định về đăng kí, kê khai nộp thuế
đây là trách nhiệm của các doanh nghiệp làm nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước
như kê khai về địa điểm ngành nghề và mặt hàng kinh doanh sản xuất, kê khai
về tài sản lao động, doanh số chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
kê khai về sổ sách kế toán.
Thanh tra việc chấp hành chế độ thống kê - kế toán, hóa đơn - chứng
từ, sổ sách hóa đơn chứng từ phản ánh tình hình thực tế trong sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp đây là căn cứ không thể thiếu được để tính thuế cho
các doanh nghiệp. Thực tế nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng điều này để trốn
lậu thuế vì vậy thanh tra có nhiệm vụ tìm ra những sai sót để kịp thời khắc
phục.
Trần Thế Lực Lớp: Quản lý kinh tế 46B
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, dựa vào
thông báo thuế do cơ quan thuế gửi đến, doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp đủ số
thuế vào cho ngân sách Nhà nước theo đúng qui định trong thông báo thuế.
- Phương pháp thanh tra
Có hai phương pháp được áp dụng là:
Phương pháp kiểm tra đối chiếu: phương pháp này thường được áp
dụng phổ biến đối với việc quyết toán thuế, thanh tra sau hoàn thuế. Các cán
bộ thanh tra phải xem xét lại các số liệu, các thông tin trong các chứng từ của
doanh nghiệp để từ đó đối chiếu lại với các văn bản pháp luật và thuế, từ đó
đưa ra những kết luận đánh giá về doanh nghiệp.
Phương pháp phân tổ, thu thập các thông tin về sự việc:
Theo phương pháp này, người ta phải xây dựng được các tiêu thức cần
điều tra liên quan đến sự việc, trên cơ sở đó tiến hành các biện pháp điều tra
cụ thể
1.2.3. Sự cần thiết phải tăng cường quản lý thu thuế đối với doanh
nghiệp
Bất kỳ một Nhà nước nào cũng phải thực hiện thu thuế nhằm đáp ứng
nhu cầu chi tiêu của mình. Trong tất cả các đối tượng nộp thuế thì doanh
nghiệp là đối tượng tạo ra số thu cho NSNN nhiều nhất có thể nói rằng doanh
nghiệp chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Chính sách thuế là công cụ thực sự có hiệu lực quản lý và điều tiết vĩ
mô nền kinh tế đối với mọi doanh nghiệp. Thuế hoạt động có hiệu quả chủ
trương giải phóng mọi tiềm năng SXKD, đảm bảo sự cạnh tranh giữa các
thành phần kinh tế trên cơ sở bình đẳng về động viên đóng góp về thuế, thực
Trần Thế Lực Lớp: Quản lý kinh tế 46B
12
Chuyên đề tốt nghiệp
sự đổi mới cơ cấu và cơ chế quản lý kinh tế, thúc đẩy việc tổ chức và sắp xếp
lại SXKD, nâng cao chất lượng kinh tế.
Bất kì loại thuế nào khi được ban hành đều có ảnh hưởng đến các hành
vi của doanh nghiệp, bởi nó động viên một phần thu nhập của doanh nghiệp
vào tay Nhà nước. Khi chính phủ ban hành một chính sách thuế mới nào,
ngay lập tức hình thành nên một áp lực chi phối các doanh nghiệp, khiến
doanh nghiệp ít nhiều có những thay đổi trong hoạt động SXKD của mình.
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là
lợi nhuận cao, bằng biện pháp cạnh tranh tích cực và cả tiêu cực. Các doanh
nghiệp thường dùng nhiều thủ đoạn, tiểu xảo để trốn thuế. Hoặc tìm những kẽ
hở trong luật thuế để lách luật. Tình hình đó đòi hỏi ngành thuế phải tăng
cường quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp để phát huy được những
biểu hiện tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của các doanh nghiệp trong
việc chấp hành các luật thuế của Nhà nước.
1.3. THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP Ở VIỆT NAM
1.3.1. Khái niệm
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng them
của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu
dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa,
dịch vụ.
1.3.2. Nội dung cơ bản của luật thuế giá trị gia tăng
a. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng
Ðối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là các loại hàng hoá, dịch vụ dùng
cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng không
Trần Thế Lực Lớp: Quản lý kinh tế 46B
13

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét