Bài tập nhóm Kinh tế đầu tư
MỤC LỤC
1.2. Đầu tư vào tài sản hữu hình là động lực thúc đẩy phát triển tài sản vô hình 29
Nhóm 12 Lớp Kinh tế đầu tư
I_2
Bài tập nhóm Kinh tế đầu tư
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỘI DUNG VÀ MỐI QUAN
HỆ CỦA ĐẦU TƯ VÀO TÀI SẢN HỮU HÌNH VÀ TÀI SẢN VÔ HÌNH
I. NỘI DUNG ĐẦU TƯ VÀO TÀI SẢN HỮU HÌNH VÀ TÀI SẢN VÔ HÌNH
1. Đầu tư
1.1. Khái niệm
Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào một hoạt động nào đó nhằm thu
được lợi ích hoặc mục tiêu cho chủ đầu tư trong tương lai. Đầu tư đòi hỏi rất lớn nhiều loại
nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư là tiền vốn. Theo nghĩa rộng,
nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên.
Đối tượng của đầu tư là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thực hiện nhằm
đạt được những mục tiêu nhất định. Trên quan điểm phân công lao động xã hội, có hai nhóm
đối tượng chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ. Trên góc độ tính chất và mục
đích đầu tư, đối tượng đầu tư chia làm 2 nhóm chính: vì mục tiêu lợi nhuận và vì mục tiêu
phi lợi nhuận. Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thanh: loại
được khuyến khích đầu tư và loại bị cấm đầu tư. Từ góc độ tài sản, đối tượng đầu tư chia
thành: những tài sản vật chất và tài sản vô hình.
Kết quả của đầu tư là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…), tài sản
trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và tài sản vô hình (phát minh,
sáng chế, bản quyền…). Các kết quả của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất
của xã hội.
Mục tiêu của đầu tư vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia cộng đồng và chủ
đầu tư. Đầu tư thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định. Chủ đầu tư là người sở
hữu vốn hoặc được giao quản lý, sử dụng vốn đầu tư. Theo nghĩa đầy đủ, chủ đầu tư là
người sở hữu vốn; ra quyết định đầu tư, quản lý quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu
tư và là người hưởng lợi từ thành quả đầu tư đó. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm kiểm tra giám
sát đầu tư, chịu trách nhiệm toàn diện về những sai phạm và hậu quả do ảnh hưởng của đầu
tư đến môi trường môi sinh và do đó ảnh hưởng quan trọng đến việc nâng cao hiệu quả của
hoạt động đầu tư. Xác định rõ chủ đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong quản lý đầu tư nói
chung và vốn đầu tư nói riêng.
Nhóm 12 Lớp Kinh tế đầu tư
I_2
6
Bài tập nhóm Kinh tế đầu tư
Hoạt động đầu tư là một quá trình, diễn ra trong thời kỳ dài và tồn tại vấn đề “độ trễ
thời gian”. Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa thời gian đầu tư và thời gian vận
hành các kết quả đầu tư. Đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương
lai.
1.2. Đặc điểm của đầu tư
- Quy mô về tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư là rất lớn.
- Thời kỳ đầu tư kéo dài.
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài.
- Quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành kết quả đầu tư chịu ảnh
hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội.
- Đầu tư có độ rủi ro cao.
1.3. Phân loại đầu tư
- Theo bản chất của các đối tượng đầu tư có: Đầu tư vào tài sản hữu hình, Đầu tư vào
tài sản vô hình.
- Theo phân cấp quản lý có: Đầu tư dự án nhóm A, Đầu tư dự án nhóm B, Đầu tư dự
án nhóm C.
- Theo lĩnh vực hoạt động của kết quả đầu tư: Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh,
Đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.
- Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư: Đầu tư cơ bản, Đầu tư vận hành.
- Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội:
Đầu tư thương mại, Đầu tư sản xuất.
- Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư: Đầu tư ngắn
hạn, Đầu tư dài hạn.
- Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: Đầu tư gián tiếp, Đầu tư trực tiếp.
- Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia: Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước, Đầu tư
bằng nguồn vốn nước ngoài
2. Đầu tư vào tài sản hữu hình
2.1. Khái niệm và đặc điểm tài sản hữu hình
2.1.1. Khái niệm TSHH
Nhóm 12 Lớp Kinh tế đầu tư
I_2
7
Bài tập nhóm Kinh tế đầu tư
Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì phải
có những tài sản nhất định. Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu
được lợi ích kinh tế trong tương lai. Tài sản hữu hình vẫn được coi nhân tố chính tạo nên giá
trị doanh nghiệp. Những nhân tố này bao gồm máy móc thiết bị, đất đai, nhà cửa hoặc những
tài sản tài chính khác như các khoản phải thu và vốn đầu tư. Các tài sản này được xác định
giá trị dựa trên chi phí và giá trị còn lại như thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Các loại tài
sản hữu hình nói chung, việc sử dụng tài sản đồng nghĩa với việc làm cho giá trị tài sản giảm
đi.
Có nhiều khái niệm khác nhau về tài sản hữu hình
- Trong đầu tư: TSHH là một tài sản dài hạn không được mua hoặc bán theo diễn
biến thông thường của công việc kinh doanh. Ví dụ như đất đai, các tòa nhà, máy móc,
Nhìn chung, đây là những tài sản không thể chuyển thành tiền mặt nhanh chóng.
- Trong kinh doanh: TSHH là tài sản với thời gian sử dụng khá dài, tài sản cố định
trong một công việc buôn bán hay kinh doanh.
- Trong kế toán: TSHH là tài sản được phục vụ mục đích sản xuất trong thời gian dài
chứ không phải để bán lại. Nó bao gồm đất đai, các tòa nhà, cây cối, dụng cụ, khoáng sản,
rừng cây lấy gỗ
- Trong lĩnh vực thuế: đây là tài sản được sở hữu bởi người đóng thuế, không phải
tiền mặt, tồn kho, hàng hóa để bán, các khoản phải thu và những tài sản vô hình nhất định.
2.1.2. Đặc điểm TSHH
+ Tồn tại ở hình thái vật chất cụ thể: tài sản hữu hình do doanh nghiệp nắm giữ để sử
dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, từ nguyên liệu vật liệu sử dụng những tài sản này
để tạo ra sản phẩm nên những tài sản này chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy và nhận biết
được
+ Khó có thể di dời: do tài sản hữu hình thường là nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc
thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị, dụng cụ…được hình thành sau quá trình thi công xây
dựng hoặc được dùng trong sản xuất kinh doanh nên thường khó di chuyển
+ Có thể dễ dàng định giá tài sản: Tài sản hữu hình được đánh giá lần đầu và có thể
đánh giá lại trong quá trình sử dụng. Tài sản hữu hình được tính giá theo nguyên giá (giá trị
ban đầu), giá trị đã hao mòn và giá trị còn lại.
Nhóm 12 Lớp Kinh tế đầu tư
I_2
8
Bài tập nhóm Kinh tế đầu tư
Nguyên giá là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được tài sản hữu hình
tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng
Giá trị đã hao mòn (Giá trị phải khấu hao) là nguyên giá của tài sản hữu hình ghi trên
báo cáo tài chính trừ đi giá trị thanh lý ước tính của tài sản đó
Giá trị thanh lý (Giá trị còn lại) là giá trị ước tính thu được khi hết thời gian sử dụng
hữu ích của tài sản sau khi trừ chi phí thanh lý ước tính.
2.2. Nội dung đầu tư vào tài sản hữu hình
2.2.1. Đầu tư vào tài sản cố định
Đầu tư vào tài sản cố định hay đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái
tạo tài sản cố định của danh nghiệp. Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các hoạt động chính
như: xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị. Trong doanh nghiệp, đặc biệt trong sản xuất kinh
doanh, để các hoạt động diễn ra bình thường đều cần xây dựng nhà xưởng, kho tàng, các
công trình kiến trúc, mua và lắp đặt trên nền bệ các máy móc thiết bị…Hoạt động này đòi
hỏi vốn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp, gồm có:
- Đầu tư vào xây dựng nhà xưởng, các công trình kiến trúc, kho tàng, bến bãi,
phương tiện vận tải, truyền dẫn: một doanh nghiệp muốn sản xuất được cần phải có nhà
xưởng, nơi sản xuất. Hoạt đọng đầu tư này thường xảy ra trước khi tiến hành sản xuất trong
thời gian khá dài, thường từ 3 - 5 năm
- Đầu tư vào máy móc, thiết bị: để có thể tạo ra được sản phẩm thì máy móc là một
yếu tố không thể thiếu. Doanh nghiệp có thể mua máy móc thiết bị mới bằng cách nhập khẩu
từ nước ngoài, hoặc do góp vốn của các cổ đông hoặc đầu tư của nước ngoài chuyển giao
công nghệ…
- Đầu tư vào tài sản cố định khác: khi doanh nghiệp hoạt động còn phải đầu tư mua
sắm các trang thiết bị văn phòng, thiết bị dụng cụ dùng cho quản lý…
2.2.2. Đầu tư vào hàng tồn trữ
Hàng tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn bộ nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm
và sản phẩm hoàn thành được tồn trữ trong doanh nghiệp. Tồn kho bao giờ cũng được coi là
nguồn nhàn rỗi, do đo khi tồn kho càng cao thì càng gây ra sự lãng phí. Tồn kho như một lớp
đệm lót giữa nhu cầu và khả năng sản xuất. Khi nhu cầu biến đổi mà hệ thống sản xuất có
điều chỉnh khả năng sản xuất của mình, hệ thống sản xuất sẽ không cần đến lớp đệm lót tồn
kho nhưng tồn kho vẫn là cần thiết trên các phương diện sau
Nhóm 12 Lớp Kinh tế đầu tư
I_2
9
Bài tập nhóm Kinh tế đầu tư
- Tồn kho để giảm thời gian cần thiết đáp ứng nhu − cầu
- Làm ổn định mức sản xuất của đơn vị trong khi − nhu cầu biến đổi
- Bảo vệ đơn vị trước những dự báo thấp về nhu − cầu
Vậy bao nhiêu tồn kho là hợp lý?
Tùy theo loại hình doanh nghiệp, qui mô và cơ cấu các mặt hàng tồn trữ cũng khác
nhau. Nguyên vật liệu là một bộ phận hàng tồn trữ không thể thiếu của doanh nghiệp sản
xuất nhưng lại không có trong doanh nghiệp thương mại dịch vụ. Tỷ trọng đầu tư vào hàng
tồn trữ trong tổng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp thương mại thường cao hơn các
loại hình doanh nghiệp khác. Do vậy, xác định qui mô đầu tư hàng tồn thông trữ tối ưu cho
doanh nghiệp rất cần thiết. Hoạt động này gồm có:
- Đầu tư vào nguyên, nhiên vật liệu
- Đầu tư vào bán thành phẩm
- Đầu tư vào sản phẩm tồn trữ doanh nghiệp
2.3. Tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư vào tài sản hữu hình
2.3.1. Khái niệm hiệu quả đầu tư
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh
tế - xã hội đã đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó
trong một thời kỳ nhất định
Hiệu quả của hoạt động đầu tư được đánh giá thông qua các chỉ tiêu đo lường hiệu
quả. Việc xác định các chỉ tiêu này phụ thuộc vào mục tiêu của chủ đầu tư đưa ra
Hiệu quả đầu tư được đánh giá là có hiệu quả khi trị số của các chỉ tiêu đo lường
hiệu quả thỏa mãn tiêu chuẩn hiệu quả trên cơ sở sử dụng các định mức hiệu quả do chủ đầu
tư định ra
2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của đầu tư
Hệ thống đánh giá hiệu quả tài chính của đầu tư gồm có:
- Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án
+ Chỉ tiêu lợi nhuận thuần được tính cho tưng năm, cho cả đời dự án hoặc bình quân
năm của đời dự án
Lợi nhuận thuần từng năm được xác định như sau:
W
i
= O
i
- C
i
Nhóm 12 Lớp Kinh tế đầu tư
I_2
10
Bài tập nhóm Kinh tế đầu tư
Trong đó: W
i
: Lợi nhuận thuần năm i
O
i
: Doanh thu thuần năm i
C
i
: Các chi phí ở năm i
+ Tổng lợi nhuận thuần: PV(W)
PV(W) =
∑
=
n
i
ipv
W
1
= W
1
+ W
2
+ …+ W
n
Lợi nhuận thuần bình quân:
PV
W
n
W
W
n
i
ipv
PV
∑
=
=
1
+ Chỉ tiêu thu nhập thuần: NPV: Thu nhập thuần của dự án thường được tính chuyển
về mặt bằng hiện tại đầu thời kỳ phân tích
- Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư: phản ánh mức lợi nhuận thuần hoặc thu
nhập thuần (tính cho cả đời dự án) thu được từ một đơn vị vốn đầu tư phát huy tác dụng
- Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn tự có: Vốn tự có là một bộ phận của vốn đầu tư, là một
yếu tố cơ bản để xem xét tiềm lực tài chính cho việc tiến hành các công cuộc đầu tư. Tỷ suất
sinh lời vốn tự có càng cao thì hoạt động đầu tư càng có hiệu quả
- Chỉ tiêu số lần quay vòng của vốn lưu động: Vốn lưu động là một bộ phận của vốn
đầu tư. Vốn lưu động quay càng nhanh, càng cần ít vốn và do đó càng tiết kiệm vốn đầu tư.
Nếu trong điều kiện khác không đổi thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao
- Chỉ tiêu tỷ số lợi ích - chi phí: B/C
- Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư: T
- Chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ: IRR
- Chỉ tiêu điểm hòa vốn
2.4. Kết quả và hiệu quả của việc đầu tư vào TSHH
Kết quả và hiệu quả của việc đầu tư vào TSHH gồm có:
- Khối lượng vốn đầu tư thực hiện: là tổng số tiền đã chi để tiến hành các hoạt động
của các công cuộc đầu tư bao gồm các chi phí cho công tác xây dựng, chi phí cho công tác
mua sắm và lắp đặt thiết bị, chi phí quản lý và chi phí khác
- Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm
Nhóm 12 Lớp Kinh tế đầu tư
I_2
11
Bài tập nhóm Kinh tế đầu tư
+ Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối tượng xây
dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra sản phẩm hàng hóa hoặc tiến hành các
hoạt động dịch vụ) đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm, đã làm xong thủ tục nghiệm
thu sử dụng, có thể đưa vào hoạt động được ngay
+ Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm: Khi các tài sản cố định được huy động vào
sử dụng, chúng đã làm gia tăng năng lực sản xuất, phục vụ cho nền kinh tế. Năng lực sản
xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất, phục vụ của các tài sản cố
định đã được huy động vào sử dụng để sản xuất ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động
dịch vụ. Năng lực sản xuất phục vụ được thể hiện ở công suất hoặc năng lực phát huy tác
dụng của các tài sản cố định được huy động
3. Đầu tư vào tài sản vô hình
3.1. Khái niệm và đặc điểm đầu tư vào TSVH
3.1.1. Khái niệm TSVH
Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá
trị đã được đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều
chu kỳ kinh doanh
Theo Ủy ban Tiêu chuẩn Thẩm định giá quốc tế “Tài sản vô hình là những tài sản
thể hiện ra bằng những lợi ích kinh tế, chúng không có cấu tạo vật chất, mà tạo ra những
quyền và những ưu thế đối với người sở hữu và thường sinh ra thu nhập cho người sở hữu
chúng”.
Hiện nay tồn tại nhiều cách phân loại tài sản vô hình khác nhau.
Theo Luật thuế thu nhập của Mỹ, tài sản vô hình có thể chia làm 6 loại cơ bản:
- Các sáng chế, phát minh, công thức tính, quy trình, mô hình, kỹ năng.
- Bản quyền và các tác phẩm văn học, âm nhạc, nghệ thuật.
- Thương hiệu, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá.
- Thương quyền, giấy phép, hợp đồng.
- Phương pháp, chương trình, hệ thống, thủ tục, nghiên cứu, dự báo, dự toán, danh
sách khách hàng, các số liệu kỹ thuật.
Nhóm 12 Lớp Kinh tế đầu tư
I_2
12
Bài tập nhóm Kinh tế đầu tư
- Các thứ “tương tự” khác. Một thứ được gọi là tương tự nếu nó tạo ra giá trị không
phải nhờ vào các thuộc tính vật chất mà nhờ vào nội dung trí tuệ hoặc các quyền tài sản vô
hình khác của nó.
Khái niệm tài sản theo nghĩa pháp lý được phân thành bốn dạng: tiền, vật, giấy tờ có
giá và “quyền tài sản”. Quyền tài sản là các quyền trị giá được bằng tiền và có thể trao đổi
trong giao lưu dân sự (như quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê mướn cầu thủ, thỏa thuận gia
công …). Các tài sản trí tuệ là loại tài sản tồn tại dưới hình thức “quyền tài sản” và bao gồm
các nhân tố trí tuệ mà doanh nghiệp có thể kiểm soát hoặc xác lập quyền sở hữu như: các cơ
sở dữ liệu (data base), các quy trình tác nghiệp, các bí quyết công nghệ … Quyền sở hữu đối
với một tài sản cụ thể bao gồm ba khía cạnh: quyền chiếm hữu tài sản, quyền sử dụng tài sản
và quyền định đoạt tài sản.
Một tài sản trí tuệ nếu thỏa mãn các điều kiện bảo hộ pháp lý cụ thể theo quy định
của pháp luật sở hữu trí tuệ sẽ trở thành một đối tượng sở hữu trí tuệ (intellectual property -
IP) như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tác phẩm có bản quyền
(copyright) … Tập hợp các đối tượng sở hữu trí tuệ mà một doanh nghiệp nắm giữ được gọi
là tập đối tượng sở hữu trí tuệ (IP Portfolio) của doanh nghiệp đó. Một đối tượng sở hữu trí
tuệ nếu được doanh nghiệp xúc tiến đầy đủ các biện pháp hoặc thủ tục bảo hộ thích ứng sẽ
xác lập nên một quyền sở hữu trí tuệ (IP right) như bằng độc quyền sáng chế, bằng độc
quyền kiểu dáng công nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu … Một quyền sở hữu trí
tuệ có thể có tính độc quyền tuyệt đối (như bằng độc quyền sáng chế) hoặc độc quyền tương
đối (như bí mật kinh doanh hoặc các tác phẩm có bản quyền). Điểm đáng chú ý của các đối
tượng sở hữu trí tuệ so với các tài sản trí tuệ khác là, pháp luật sở hữu trí tuệ không chỉ điều
chỉnh quá trình xác lập, bảo vệ và chuyển giao quyền tài sản đối với các đối tượng sở hữu trí
tuệ, mà còn chú trọng bảo vệ quyền nhân thân của các tác giả đã tạo ra các đối tượng sở hữu
trí tuệ đó (như quyền đứng tên trên văn bằng độc quyền, quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền
nhận thù lao và giải thưởng liên quan …).
Việc chuyển giao hẳn quyền sở hữu (bao gồm cả quyền chiếm hữu, quyền sử dụng
và quyền định đoạt) đối với một tài sản trí tuệ cụ thể hoặc một đối tượng sở hữu trí tuệ cho
một chủ thể khác được gọi là sự chuyển nhượng tài sản (assignment), như trong trường hợp
Unilever mua lại nhãn hiệu P/S của Công ty hoá mỹ phẩm P/S. Việc chủ sở hữu vẫn nắm
quyền sở hữu tài sản và chỉ cấp phép cho một chủ thể khác sử dụng tài sản trí tuệ liên quan
Nhóm 12 Lớp Kinh tế đầu tư
I_2
13
Bài tập nhóm Kinh tế đầu tư
của mình gọi là sự cấp li-xăng (licensing), như trong trường hợp Unilever cấp li-xăng cho
Kinh Đô sử dụng nhãn hiệu WALL trong một thời gian ngắn để thuận tiện cho việc chuẩn bị
và lăng xê nhãn hiệu thay thế sau khi mua lại xưởng kem từ Unilever. Trong một hợp đồng
nhượng quyền thương mại (franchising), việc cấp li-xăng nhãn hiệu hay thương hiệu là một
trong các giao kết cơ bản và bên cạnh đó, hoạt động hỗ trợ tác nghiệp và hỗ trợ tiếp thị có
thể dẫn theo việc cấp li-xăng một số tài sản trí tuệ khác như bí quyết công nghệ hoặc tác
nghiệp, các tài liệu hướng dẫn hoặc các mẫu thiết kế có bản quyền …
Bên cạnh các sáng kiến đóng góp trực tiếp vào việc làm giàu cơ sở tri thức
(intellectual base) của doanh nghiệp, mọi người lao động trong doanh nghiệp cũng thường
xuyên vận dụng kinh nghiệm, kỹ năng, óc phán đoán và tri thức cá nhân của mình trong quá
trình lao động công vụ. Do vậy, nhìn từ góc độ huy động và khai thác nguồn lực, nhà điều
hành cũng nên chú ý đến một đối tượng quản trị khác được gọi là nguồn vốn trí tuệ
(intellectual capital - IC) của doanh nghiệp, bao gồm nguồn nhân lực hiện hữu cùng các tài
sản trí tuệ (IA) được họ thường xuyên vận dụng và tạo dựng bổ sung cho doanh nghiệp,
trong đó có các quyền sở hữu trí tuệ (IP). Ở góc độ chiến lược kinh doanh, có thể nói rằng,
các quyền sở hữu trí tuệ (IP) là công cụ để bảo vệ các tài sản hiện tại, trong khi nguồn vốn
trí tuệ (IC) và các tài sản trí tuệ (IA) đảm nhận vai trò khai thác các giá trị tương lai. Cách
tiếp cận này sẽ giúp phân định rõ nhiệm vụ tác nghiệp của một luật sư sở hữu trí tuệ (Patent
Attorney, Trademark Agency, IP lawyer …) với một quản trị viên tài sản trí tuệ (IP
Manager, IA Manager). Một doanh nghiệp đã phát triển đến một tầm mức nào đó có thể sẽ
có nhu cầu thiết lập một nhóm, tổ hoặc bộ phận quản trị sở hữu trí tuệ (IP team/group) hoặc
chuyên nghiệp hơn nữa là quản trị tài sản trí tuệ (IA group/division), đảm nhiệm cả hai chức
năng pháp lý lẫn quản trị.
3.1.2. Các đối tượng sở hữu trí tuệ
- Sáng chế (invention) là một giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình,
sẽ được bảo hộ độc quyền cho người đăng ký trước nếu thỏa ba điều kiện: có khả năng áp
dụng công nghiệp, có tính mới và có trình độ sáng tạo. Một nhà sáng chế hoặc một doanh
nghiệp có thể nộp đơn đăng tất cả các sáng chế mà học có ngay khi mỗi sáng chế vừa phát
sinh để giành quyền ưu tiên. Sau đó, tùy theo điều kiện thương mại hoá của mỗi sáng chế,
họ có thể tạm giữ kín sáng chế trong vòng 19 tháng để quan sát hoặc chuẩn bị thị trường, để
hoàn thiện sáng chế … hay cho công bố để chào bán hoặc chào mời hợp tác, để có quyền
Nhóm 12 Lớp Kinh tế đầu tư
I_2
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét