Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Công ty TNHH Huy Nam sang thị trường Châu Âu

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Các hình thức xuất khẩu.
2.1. Xuất khẩu trực tiếp.
Là hình thức tiến hành giao dịch với khách hàng nước ngoài thông qua
các tổ chức của mình. Hình thức này được áp dụng khi nhà sản xuất đủ mạnh
để tiến hành bán hàng riêng của mình để có thể kiểm soát trực tiếp thị trường.
Các cách tổ chức bán hàng trực tiếp của nhà sản xuất bao gồm:
- Cơ sở bán hàng trong nước, để điều hành hay phối hợp các tổ chức phụ
thuộc khác đặt tại thị trường nước ngoài.
- Đại diện bán hàng xuất khẩu ở nước ngoài: có nhiệm vụ thu thập các
đơn hàng của khách hàng .
- Chi nhánh bán hàng tại nước ngoài: Có trách nhiệm giải quyết các vấn
đề có liên quan đến tình hình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp trên
toàn bộ thị trường đã ổn định.
- Tổ chức trợ giúp ở nước ngoài: là một công ty riêng lẻ được thành lập
và đăng ký ở nước ngoài song hầu hết vốn cổ phẩn của nó lại do nhà xuất
khẩu nắm quyền sở hữu, nó giải quyết những vấn đề khi xuất khẩu có liên
quan đến hạn ngạch nhập khẩu, có yêu cầu về sản phẩm phải phù hợp ở một
số thị trường.
Xuất khẩu trực tiếp thì lợi nhuận kiếm được từ xuất khẩu của doanh
nghiệp sẽ được nâng cao hơn do giảm được chi phí trung gian và doanh
nghiệp có thể liên hệ trực tiếp và đều đặn với khách hàng, tiếp cận thị trường,
nắm bắt kịp thời thị hiếu người tiêu dùng và phản ứng của khách hàng một
cách nhanh chóng. Tuy vậy, nó yêu cầu doanh nghiệp phải có một lượng vốn
không nhỏ để sản xuất và khai thác, không những thế như một quy luật tất
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
yếu với các doanh nghiệp có thể gặp nhiều rủi ro do việc thay đổi tỷ giá hối
đoái.
2.2. Xuất khẩu gián tiếp.
Xuất khẩu gián tiếp là việc nhà sản xuất thông qua dịch vụ độc lập đặt
ngay tại nước xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu các sản phẩm của mình ra
nước ngoài.
Hình thức này thường được các doanh nghiệp mới tham gia vào thị
trường quốc tế áp dụng và các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển áp
dụng một cách rộng rãi hình thức này.
- Ưu điểm của hình thức này : là các doanh nghiệp không phải đầu tư
nhiều cũng như không phải triển khai lực lượng bán hang và các hoạt động
xúc tiến và khuyếch trương hang hoá ra nước ngoài, rủi ro bị hạn chế vì trách
nhiệm thuộc về các tổ chức trung gian.
- Tuy nhiên nhược điểm của hình thức này là: làm giảm lợi nhuận của
các doanh nghiệp do phải chia sẻ lợi nhuận với các tổ chức và doanh nghiệp
trung gian, ngoài ra nó còn không tạo được các mối liên hệ trực tiếp với thị
trường và khách hang do đó khó thích nghi với thị trường và khách hàng.
2.3. Xuất khẩu theo nghị định thư(Xuất khẩu trả nợ).
Là hình thức mà nhà nước giao một hoặc một số hàng hoá nhất định cho
chính phủ nước ngoài theo dạng nghị định thư đã ký kết giữa hai chính phủ.
Hình thức này cho phép doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí tìm kiếm bạn
hàng, trách nhiệm rủi ro trong thanh toán. Tuy nhiên không phải lúc nào và
cũng không phải doanh nghiệp nào cũng được xuất khẩu theo hình thức này.
2.4. Xuất khẩu tại chỗ.
Là hình thức kinh doanh xuất khẩu đang có xu hướng phát triển và phổ
biến rộng rãi bởi tính ưu việt của nó. Đặc điểm này là không có sự chuyển
dịch ra khỏi quốc gia của hang hoá và dịch vụ. Đó là cung hang hoá và dịch
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vụ cho các ngoại giao đoàn, cho khách du lịch quốc tế. Nó tỏ ra đạt hiệu quả
cao do bớt được chi phí bao bì đóng gói, chi phí bảo quản, chi phí vận tải, hải
quan và thu hồi vốn nhanh.
2.5. Gia công quốc tế.
Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một
bên( gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm
của một bên khác(gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phẩm,
giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao( gọi là chi phí gia công). Như
vậy trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động
sản xuất.
Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương
của nhiều nước. Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ lợi dụng
được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công. Đối
với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm
cho nhân dân lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ
mới về nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc.
2.6. Buôn bán đối lưu.
Buôn bán đối lưu(counter – trade) là một phương thức giao dịch trao đổi
hàng hoá, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng
thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương xứng với lượng hàng
nhận về. Mục đích của hình thức xuất khẩu này là không phải nhằm thu về
một khoản ngoại tệ, mà nhằm thu về một lượng hàng hoá khác có giá trị
tương đương.
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ưu điểm của hình thức này là không cần sử dụng ngoại tệ, các nước có
thể khai thác tiểm năng của nước mình, tránh được sự quản lý về ngoại hối
của chính phủ.
2.7. Tái xuất khẩu.
Tái xuất khẩu là một phương thức xuất khẩu trở ra nước ngoài những
mặt hàng trước đây đã nhập khẩu mà chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Mục
đích của phương thức này là nhằm thu về một số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra
ban đầu. Giao dịch này luôn thu hút 3 nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và
nước nhập khẩu. Vì vậy người ta còn gọi giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên
hay giao dịch tam giác.
Tái xuất có thể được thực hiện bằng một trong 2 cách sau:
- Tái xuất theo đúng nghĩa của nó: có nghĩa là hàng hoá đi từ nước xuất
khẩu đến nước tái xuất, rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước
nhập khẩu. Ngược chiều với sự vận động của hàng hoá là sự vận động của
đồng tiền: nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu và thu tiền của nước nhập
khẩu. Sơ đồ của tái xuất theo cách này được thể hiện như sau:
(Sơ đồ)
Nước xuất khẩu
Hàng hoá
Tiền thanh toán
8
Ký hiệu:
Nước nhập khẩuNước tái xuất
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Chuyển khẩu: là hình thức mà hàng hoá đi thẳng từ nước xuất khẩu trực
tiếp sang nước nhập khẩu. Nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu và thu
tiền của nước nhập khẩu. Sơ đồ cùa hình thức tái xuất này như sau
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3. Nội dung của hoạt động xuât khẩu.
3.1. Nghiên cứu thị trường.
Đây là bước cơ bản, quan trọng quyết định sự thành bại của một doanh
nghiệp tại một thị trường nhất định. Do đó các doanh nghiệp phải có sự đầu từ
về thời gian công sức và tài chính thích đáng cho công tác này. Nghiên cứu
thị trường bao gồm: nghiên cứu về nhu cầu về sản phẩm hàng hoá, nghiên cứu
về luật pháp, môi trường chính trị, môi trường kinh tế, văn hoá và con người,
môi trường cạnh tranh…Đây là bước xác định cho doanh nghiệp những thử
thách sẽ phải đối mặt trong tương lai khi thâm nhập thị trường.
Nghiên cứu thị trường có thể thực hiện theo hai phương pháp cơ bản sau:
- Nghiên cứu tại bàn: là nghiên cứu dựa trên số liệu được xử lý công cụ
thông kê. Ưu điểm của phương pháp này là chi phí thu thập thông tin rẻ,
thông tin thu được đa dạng. Tuy nhiên nó lại không có tính cập nhật và độ tin
cậy không cao.
- Nghiên cứu tại hiện trường: là doanh nghiệp thu thập thông tin về thị
trường thông qua trao đổi trực tiếp với khách hàng bằng các phương pháp như
phỏng vấn, quan sát, thử nghiệm thị trường… Phương pháp này đảm bảo tính
10
Nước nhập khẩuNước tái xuất
Nước xuất khẩu
Hàng hoá
Tiền thanh toán
Ký hiệu:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cập nhật, chinh xác cao và bao quát được nhiều khía cạnh thị trường. Tuy
nhiên phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và chi phí cao.
3.2. Chọn lựa đối tác kinh doanh.
Để thâm nhập thị trường nước ngoài thành công, thì doanh nghiệp có thể
thông qua một hay nhiều công ty đang hoạt động ở thị trường đó.
Các công ty này có thể là công ty của nước sở tại hoặc công ty của nước
khác đang kinh doanh trên thị trường đó. Tuy nhiên, việc lựa chọn phải hết
sức cẩn thận, nên lựa chọn những công ty có kinh nghiệm, uy tín trên thị
trường, có tiềm lực tài chính ….làm đối tác trong kinh doanh. Khi lựa chọn
đối tác kinh doanh, các doanh nghiệp cần thận trọng tìm hiểu kỹ đối tác về tất
cả các mặt mạnh và yếu của họ. Các doanh nghiệp có thể lựa chọn đối tác dựa
trên mối quan hệ bạn hàng sẵn có hoặc có thể thông qua công ty tư vấn cơ sở
giao dịch hoặc phòng thương mại và công nghiệp các nước liên quan.
3.3. Đàm phán và ký kết hợp đồng.
Để ký kết một hợp đồng thì các bên có thể gặp gỡ trực tiếp để cùng nhau
đàm phán về các điều khoản của hợp đồng, từ đó đi đến ký kết hợp đồng với
những điều kiện nhất định, ngoài ra hợp đồng còn có thể được ký kết qua fax,
điện thoại, thư tín…Tuy nhiên dù hợp đồng được ký kết bằng cách nào đi
nữa thì quá trình của nó gồm các bước sau:
Bước 1: Chào hàng(offer):
Là việc người xuất khẩu thể hiện rõ ý định bán hàng của mình, là lời đề
nghị ký kết hợp đồng với những điều kiện nhất định về giá cả, thời gian giao
hàng, phương thức thanh toán, phương thức giao nhận hàng…
Bước 2: Hoàn giá(Counter offer).
Hoàn giá là mặc cả về giá cả hoặc về các điều kiện giao dịch.
Khi nhận được chào hàng nhưng không chấp thuận hoàn toàn chào hàng
đó, mà đưa ra một đề nghị mới thì đề nghị mới này là hoàn giá. Thông thường
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mỗi lần giao dịch thường trải qua nhiều lần hoàn giá chứ không kết thúc ngay
từ lần chào hàng đầu tiên.
Bước 3: Chấp nhận(Acceptance) là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều
kiện của chào hàng mà phía bên kia đưa ra. Khi đó hợp đồng được giao kết.
Bước 4: Xác nhận(confirmation) là hai bên sau khi thống nhất thoả thuận
với nhau về các điều kiện giao dịch, có khi cần thận trọng ghi lại mọi điều đã
thoả thuận, gửi cho đối phương. Đó là văn kiện xác nhận đều phải có chữ ký
của cả hai bên.
3.4. Tạo nguồn hàng xuất khẩu.
Hiện nay ở nước ta có hai loại hình doanh nghiệp làm công tác xuất
khẩu:
Đối với các doanh nghiệp ngoại thương kinh doanh xuất khẩu phải tiến
hành thu gom từ các cơ sở sản xuất nhỏ, từ cơ sở thu mua… thông qua các
hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp với các cơ sở sản xuất … sau đó
doanh nghiệp cần bao bì đóng gói, kê ký mã hiệu cho hàng hoá chuẩn bị hàng
xuất khẩu.
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, đây là phương thức giao dịch
buôn bán trực tiếp giữa người sản xuất trong nước với nhà nhập khẩu. Ở đây
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không phải làm nhiệm vụ thu gom hàng.
Để có hàng xuất khẩu, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải nghiên cứu
thị trường nước ngoài cần loại hàng hoá gì, số lượng, cách giao dịch, ký kết
hợp đồng và tổ chức thực hiện hợp đồng.
3.5. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu:
Sau khi hợp đồng được ký kết thì quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên đã
được xác lập. Các doanh nghiệp với tư cách là một bên ký kết hợp đồng phải
tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây là một công việc rất phức tạp. Nó đòi hỏi
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời bảo đảm được quyền lợi
quốc gia và đảm bảo uy tín kinh doanh của doanh nghiệp.
Tổ chức thực hiện hợp đồng phải diễn ra đồng thời cả hai bên, hai bên
phải thông báo cho nhau biết trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Trình tự để thực hiện hợp đồng là:
- Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá.
- Kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu
- Làm thủ tục thuê tàu
- Mua bảo hiểm
- Làm thủ tục hải quan
- Giao hàng
- Thanh toán
3.6. Đánh giá kết quả và điều chỉnh:
Sau khi hợp đồng xuất khẩu đã được thực hiện thì các doanh nghiệp phải
tiến hành đánh giá kết quả của hợp đồng đó. Đây là một nội dung quan trọng
đối với doanh nghiệp bởi vì thông qua việc đánh giá kết quả thì doanh nghiệp
sẽ nắm được hợp đồng vừa thực hiện có đạt được mục đích và hiệu quả đã đặt
ra hay không? Còn những khó khăn, hạn chế và bất lợi gì… Để từ đó doanh
nghiệp đưa ra những điều chỉnh và tìm ra biện pháp để khắc phục những điều
chưa đạt được đối với những hợp đồng khác.
II. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu Thuỷ sản.
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản là hoạt động nhằm mục đích
sinh lời bằng việc giao dịch ký kết các hợp đồng ngoại thương và tổ chức thực
hiện các hợp đồng đó. Do vậy cũng giống như những hoạt động ngoại thương
khác, hoạt động kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản chịu ảnh sự ảnh hưởng và tác
động của rất nhiều yếu tố thuộc môi trường bên ngoài cũng như bên trong nội
bộ doanh nghiệp.
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1. Các yếu tố tác động từ môi trường bên ngoài.
1.1. Môi trường luật pháp.
Một trong những nhân tố khách quan có ảnh hưởng mạnh tới hoạt động
kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp bao
gồm: luật quốc tế, luật riêng của từng quốc gia và sự ràng buộc chung của các
nước…Do đó trong quá trình kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu
thuỷ sản phải quan tâm và nắm vững hệ thống luật pháp, các quy định của
từng thị trường, để đáp ứng những quy định đó một cách linh hoạt nhất là
những quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, luật chống bán phá giá và các
rào cản kỹ thuật khác nếu muốn tồn tại và mở rộng thị trường xuất khẩu.
1.2. Môi trường chính trị.
Chính trị cũng là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động kinh doanh xuất
khẩu nói chung và hoạt động xuất khẩu thuỷ sản nói riêng. Nếu một quốc gia có
được nền chính trị ổn định, phù hợp thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp xuất khẩu. Ngược lại nếu chính trị bất ổn và không phù hợp linh hoạt sẽ
gây nên khó khăn cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp.
1.3. Môi trường kinh tế.
Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thuỷ sản, các doanh nghiệp
cần phải có những hiểu biết nhất định về kinh tế để điều chỉnh các hoạt động
của doanh nghiệp mình sao cho phù hợp. Hệ thống kinh tế đóng vai trò cực kỳ
quan trọng, nó được thiết lập nhằm phân phối tối ưu nguồn tài nguyên khan
hiếm. Doanh nghiệp dựa trên tiêu thức phân bổ các nguồn lực và cơ chế điều
hành nền kinh tế có thể phân chia thế giới thành nhóm nước theo cơ chế thị
trường, kinh tế chỉ huy và kinh tế hỗn hợp. Mô hình kinh tế nào mà nước đó
theo đuổi sẽ tác động đến khả năng xâm nhập thị trường, mức độ tham gia
hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường đó. Sự ổn định về kinh tế là sự ổn
định về tiền tệ, lạm phát mà các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu luôn quan
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét