Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nớc ta đẫ xây dựng đợc một số cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định, tạo ra tiềm lực về
kinh tế-quốc phòng, phục vụ chiến tranh, đảm bảo đợc phần nào đời sống nhân
dân.
Năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc ( UNIDO)
đã đa ra một định nghĩa: công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế,
trong quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân đợc
động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nớc với kỹ thuật hiện
đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận luôn thay đổi để sản xuất
ra t liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế
phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ của nền kinh tế và xã hội.
Theo quan điểm này, quá trình công nghiệp hoá nhằm thực hiện nhiều mục tiêu
chứ không phải chỉ nhằm một mục tiêu kinh tế-kỹ thuật.
2.1.2. Công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở Việt Nam
Từ quan điểm đổi mới về công nghiệp hoá- hiện đaị hoá của đại hội Đảng
lần thứ VII rút ra từ thực tiễn công nghiệp hoá trên thế giới và ở nớc ta, có thể đa
ra định nghĩa: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn
diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện đại , dựa trên sự phát
triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất xã hội chủ
nghĩa
Tại lễ kỉ niêm 70 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, nguyên
tổng bí th Lê Khả Phiêu đã phat biểu:Định hớng phát triển của chúng ta là chủ
nghĩa xã hội. Không ngừng bồi dỡng các nhân tố xã hội chủ nghĩa trong quá trình
phát triển là mỗi quan tâm hàng đầu. Chúng ta tập trung vào xây dựng, lấy xây
dựng kinh tế là trung tâm. Phấn đấu đến năm 2020, Tổ quốc Việt Nam thân yêu
thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, cơ bản trở thành một nớc công nghiệp. Công
nghiệp hoá - hiện đại hoá, trớc hết là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
và nông thôn. Với một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện
đạivà chế độ công hữu các t liêu sản xuất chủ yếu, phát huy mọi nguồn lực, mọi
thành phần kinh tế, kinh tế nhà nớc, hợp tác, hộ gia đình, trang trại, t nhân, liên
doanh với nớc ngoài mà kinh tế Nhà nớc đóng vai trò chủ đạo, cung với kinh tế
Nguyễn Tuấn Phúc - Pháp I - K43E
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hợp tác làm nền tảng, kết hợp chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất, hỗ trợ
và thúc đẩy lẫn nhau,làm cho sức sản xuất đợc giải phóng luôn năng động, bảo
đảm nền kinh tế tăng trởng mạnh, cân đối và bền vững.
Nh vậy, trong hoàn cảnh đất nớc hiện nay, thì công nghiệp hoá hiện đại
hoá là một đờng lối phát triển kinh tế hết sức hợp lí nếu chúng ta không muốn bị
tụt hậu so vơí thế giới. Hiện nay thì nớc ta cũng đang là một trong những nớc
nghèo nhât thế giới, nếu nói một cách khách quan thì chúng ta đã bị lạc hâu so
với thời đại hàng chục năm, trong khi thế giới đã đi và thời đại tự động hoá thì
chúng ta đang sử dụng lại các máy móc mà ngời ta đã sử dụng cách đây hàng chục
năm về trớc với năng suất rất thấp, lối sản xuất tản mạn mang tính chất của sản
xuất thủ công nghiệp đang đè nặng trên vai những ngời lao động chúng ta. Do vậy
cần phải có chế độ chính sách đúng đắn của nhà nớc trong hoạt động giáo dục
nhằm đào tạo cho đất nớc những thế hệ lao đông có chất lợng cao để đáp ứng cho
nhu cầu lao động của đất nớc trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất n-
ớc.
2.2. Giáo dục đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội
2.2.1. Thực trạng nguồn nhân lực nớc ta
Khi đề cập đến thực trạng nguồn nhân lực của bất ki một quốc gia nào đều
phải đề cập đến hai mặt đó là thế mạnh và hạn chế
Những thế mạnh phải nói đến đó là:
_ Thứ nhất, ở Việt Nam hiện nay có lực lợng lao động dồi dào với 45.6
triệu ngời trong độ tuổi lao động.
_ Thứ hai, Việt Nam có tỷ lệ tơng đối cao về lao động trẻ trong kết cấu
dân số, phần lớn có học vấn phổ thông, ngay cả ở nông thôn cũng chiếm một tỷ lệ
khá cao, trình độ đại học của vùng này cũng đợc cải thiện đáng kể (kì thi tuyển
sinh 2002 tỉ lệ thí sinh nông thôn đỗ cao đột biến hơn mọi năm). Đây là một tiền
đề quan trọng tạo điều kiện tiếp thu các kiến thức kỹ năng nghề nghiệp, kể cả
những ngành nghề mới. Lực lợng lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đợc
đào tạo tơng đối lớn (so với các nớc có thu nhập nh nớc ta). Hiện tại nớc ta có trên
9000 tiến sĩ và phó tiến sĩ, trên 800000 ngời có trình độ đại học cao đẳng, trên 2
triệu công nhân kỹ thuật. Đây là điều kiện quan trọng cho quá trình phát triển
khoa học, tiếp thu, làm chủ và thích nghi với các công nghệ nhập từ nớc ngoài, kể
cả công nghệ cao.
Nguyễn Tuấn Phúc - Pháp I - K43E
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
_ Thứ ba, chúng ta có một lợng tơng đối lớn ngời Việt sống ở nớc ngoài,
tập trung chủ yếu ở châu Âu, châu Mỹ và Ôxtraylia; trong đó tỉ lệ ngời có trình độ
cao về chuyên môn và nghiệp vụ là đáng kể ( trên 300000 ngời). Đây là một
nguồn lực quan trọng góp phần phát triển đất nớc, là cầu nối giữa Việt Nam và thế
giới về mặt chuyển giao tri thức, công nghệ và các quan hệ quốc tế.
_ Thứ t, đó là bản tính hiếu học, thông minh cần cù lao động của con ngời
Việt Nam. Truyền thống đó cần đợc nuôi dỡng và phát huy làm cơ sở cho việc
nắm bắt, tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng, sáng tạo những phát minh,
sáng kiến khoa học của nhân loại phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội
của đất nớc. Tính cộng đồng, ý thức trách nhiệm với cộng đồng đợc phát huy
mạnh mẽ sẽ có thể hỗ trợ đắc lực không chỉ cho việc truyền bá tay nghề, kinh
nghiệm nghề nghiệp mà còn có thể giúp nhau cả về vốn liếng, tạo dựng và phát
triển cơ nghiệp, hỗ trợ nhau tìm kiếm công ăn việc làm, góp phần làm giảm sức ép
về lao động hiện nay. Dân tộc Việt Nam còn có truyền thống biết chịu đựng gian
khổ để tiết kiệm, tích luỹ cho đầu t mở rộng, tạo dựng cơ đồ cho mình và cho nền
kinh tế nớc nhà nói chung.
Nhng vấn đề nhức nhối hơn cả là những hạn chế,những điểm yếu kém:
_ Thứ nhất, số ngời lao động đợc đào tạo quá ít chỉ chiếm xấp xỉ 6% dân
số và 12% tổng số lao động. Mặt bằng dân trí còn thấp, số năm đi học của ngời
dân từ 7 tuổi trở lên mới đạt 4,9năm. Đáng lo ngại hơn là mặc dù chúng ta đã cố
gắng để đạt đợc hơn 90% dân số biết chữ nhng hiện nay lại đang diễn ra quá trình
tái mù chữ, nhất là các tỉnh miền núi (có xã số ngời mù chữ lên tới 70%); trong số
trẻ em ở độ tuổi đi học chỉ có 47% em học hết cấp I. Số ngời đợc đào tạo có tay
nghề cao cũng nh ngời có học vấn đại học và sau đại học năm 1982 là 0,26% năm
1993 còn 0,2%. Tỉ lệ này ở các nớc công nghiệp mới Đông nam á là 0,6% đến
1%. Trong 75% lao động sản xuất nông nghiệp chỉ có 7% đợc đào tạo. Vì vậy
năng suất lao động thấp, trong công nghiệp chỉ đạt 30% mức trung bình của thế
giới, còn trong nông nghiệp một lao động của ta chỉ nuôi đợc 3 đến 5 ngời, trong
khi chỉ số này ở các nớc phát triển là 20 đến 30 ngời. Đây là trở ngại lớn nhất khi
tiến hành công nghiệp hoá trong nông nghiệp trong kinh tế nông thôn nói riêng và
trong cả nền kinh tế Việt Nam nói chung.
_Thứ hai, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ quá ít. Qua điều tra ở 17 trờng đại học thì
số cán bộ giảng dạy dới 35 tuổi chỉ có 8%. Phần lớn những tri thức có trình độ trên
đại học đang là những chuyên gia đầu ngành đã ở độ tuổi 55 đến 60. Hơn 60%
phó tiến sĩ và tiến sĩ, hơn 70% giáo s và hơn 90% giáo s đều ở độ tuổi này.Trong
Nguyễn Tuấn Phúc - Pháp I - K43E
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khi đó sinh viên giỏi sau khi tốt nghiệp đều không muốn ở lại trờng. Vì vậy việc
chuẩn bị cho đội ngũ trí thức kế cận sẽ gặp không ít khó khăn.
_Thứ ba, việc bố trí sử dụng cán bộ còn nhiều việc bất hợp lý giữa các
vùng, các ngành: 80% cán bộ khoa học công nghệ làm việc tại Hà Nội, ở thành
phố Hồ Chí Minh chỉ có 12%. Đa số các cán bộ khoa học của ta làm việc trong
các viện nghiên cứu, các trờng học, còn trong các ngành sản xuất vật chất thì rất ít
Chẳng hạn, trong các ngành nông lâm ng nghiệp chỉ có 8,1% cán bộ có trình độ
đại học và 6,49% cán bộ có trình độ sau đại học. Trong khi có tới 34% cán bộ có
trình độ đại học và 55,47% trình độ sau đại học làm việc trong các ngành khoa
học tự nhiên và khoa học xã hội. Nhìn vào một số nớc trong khu vực, cán bộ khoa
học làm việc trong các ngành sản xuất chiếm tỉ lệ rất cao nh Thái Lan: 58%,
HànQuốc: 48%, Nhật Bản: 64%. Chính việc phân bố lực lợng lao động không hợp
lý này gây nên hiện tợng thừa thiếu giả tạo, gây ra nạn thất nghiệp đặc biệt trong
lao động tri thức. Qua điều tra ở 55 trờng đại học có khoảng 14 nghìn sinh viên ra
trờng cha có việc làm Trong khi đó nhiều vùng, nhiều miền nhất là miền núi
vùng sâu vùng xa lại thiếu cán bộ quản lí có trình độ và cán bộ khoa học kỹ thuật.
Nguyên nhân chủ yếu là một mặt do sinh viên ra trờng muốn ở lại công tác tại các
thành phố, khu công nghiệp, nơi kinh tế phát triển để có thu nhập cao hơn và điều
kiện việc làm tốt hơn, mặt khác chúng ta cha có chính sách thu hút để điều chỉnh
sự phân bố này.
_ Thứ t, thể chất, sức khoẻ của thanh niên Việt Nam còn rất nhiều hạn chế.
Sự phát triển về phơng diện sinh lý và thể lực dờng nh chững lại sau hơn 40 năm
thanh niên nớc ta không cao thêm 1cm nào và không cân nặng thêm 1kg nào,
mức duy dinh dỡng ở trẻ em dới năm tuổi là gần 50%
_ Thứ năm, ngời lao động nớc ta nói chung cha có nếp lao động công
nghiệp, quen theo kiểu sản xuất nhỏ, lao động giản đơn còn gò bó trong nếp sống
phơng đông, cha truyền con nối. Chính vì thế mà cho tới tận thế kỷ 20 công cụ
làm việc ở các bễ lò rèn Bắc Ninh vẫn không khác bao nhiêu với công cụ đã rèn
cày cuốc và vũ khí đánh giặc Ân thời Thánh Gióng, các cô gái Hà Đông vẫn dệt
lụa trên các khung cửi mà cách đây 900 năm các cô gái triều Lý đã sử dụng.
Trên đây là những thực trạng của lao động Việt Nam với những thế mạnh
cũng nh các mặt hạn chế. Phải có những nố lực phi thờng bằng hành động thực
tiễn trong việc huy động và sử dụng nguồn lực này thì công nghiệp hoá hiện đại
hoá mới có thể thành công. Đó cũng là lý do vì sao nhiều nhà khoa học kêu gọi
phải tiến hành một cuộc cách mạng con ngời mà thực chất là cách mạng về chất
lợng nguồn lao động. Cách mạng con ngời với công nghiệp hoá hiện đại hoá là
Nguyễn Tuấn Phúc - Pháp I - K43E
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hai mặt của một quá trình thống nhất, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Bởi vậy, mỗi bớc tiến lên của cuộc cách mạng con ngời sẽ đem lại những
thành tựu to lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và ngợc lại.
2.2.2. Giải pháp sự phát triển của nguồn nhân lực Việt Nam.
Nhìn rõ đợc thực trạng về nguồn nhân lực của nớc ta để chúng ta phát huy
những điểm mạnh , khắc phục và hạn chế những điểm yếu đồng thời đa ra đợc
những yêu cầu đối với giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực . Một mặt phải trực tiếp
giải quyết vấn đề về chất lợng nguồn nhân lực, về trình độ văn hoá và trình độ
chuyên môn kĩ thuật, mặt khác phải giải quyết vấn đề nâng cao thể lực ngời lao
động và phân phối nguồn nhân lực một cách hợp lý. Trong trình tự giải quyết
phải đi tuần tự từ tiếp tục xoá mù chữ, phổ cập tiểu học, trang bị những kiến thức
cơ bản, đào tạo nghề từ sơ cấp đến các bậc cao hơn nhng phải tạo ra một bộ phận
ngời lao động có chất lợng cao, đặc biệt phải chú trọng đào tạo lao động kĩ thuật,
nhằm đáp ứng nhu cầu của những ngành công nghệ mới, các khu công nghiệp và
các khu kinh tế mở.
Trớc tiên , việc mở rộng quy mô giáo dục đào tạo là rất cần thiết. Nhng cố
gắng mở rộng quy mô giáo dục đào tạo của nớc ta vẫn không theo kip đợc tốc độ
gia tăng dân số. Quy mô mọi ngành , bậc học hiện nay đều cha đáp ứng đợc yêu
cầu theo học của mọi lứa tuổi. Nhìn chung số học sinh và số trờng lớp ở mọi
ngành học từ mẫu giáo , các cấp phổ thông , trung học chuyên nghiệp , cao đẳng ,
đại học đều tăng . Các hệ thống trung tâm xúc tiến việc làm, các trung tâm kĩ
thuật tổng hợp , hớng nghiệp và nhiều cơ sở dạy nghề bán công , dân lập, t thục đ-
ợc thành lập. Quy mô đào tạo có chuyển biến là nhờ tăng cờng hình thức đào tạo
ngắn hạn. Riêng đối với quy mô của hệ thống đào tạo nghề ngày càng bị thu hẹp.
Đảng và Nhà nớc cần có chính sách khuyến khích mở rộng và hỗ trợ cho các trờng
dạy nghề nhằm thu hút học sinh, sinh viên, khắc phục sự mất cân đối trong cơ cấu
ngành học , bậc học của giáo dục đào tạo. Giáo dục mầm non có tầm quan trọng
đặc biệt đứng từ góc độ chuẩn bị nền tảng về thể lực và trí lực cho nguồn nhân
lực . Giáo dục phổ thông , đặc biệt là giáo dục tiểu học theo kinh nghiệm của các
nớc đang phát triển, là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định các cơ
Nguyễn Tuấn Phúc - Pháp I - K43E
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hội và tăng trởng kinh tế. Giáo dục đào tạo chuyên môn nghiệp vụ kĩ thuật ngoài ý
nghĩa với tăng trởng kinh tế còn đặc biệt quan trọng trong việc phát triển , giảm
nguy cơ tụt hậu. Tuy nhiên , những bất cập giữa các ngành đào tạo , giữa các bậc
học đã gây khó khăn không ít cho sự phát triển của nền kinh tế. Một số ngành đợc
học sinh , sinh viên theo học nh một phong trào, một số ngành thì rất ít ngời theo
học. Nếu không có sự điều chỉnh kịp thời , Việt nam sẽ nhanh chóng gặp phải khó
khăn về đội ngũ kĩ s, công nhân kĩ thuật nh ở nhiều nớc Asean, nhất là ở Thái Lan.
Giáo dục đào tạo ở thành phố , đồng bằng có điều kiện phát triển hơn ở
nông thôn , vùng núi, vùng sâu vùng xa. Vì vậy , việc giáo dục đào tạo con ngời ở
những vùng này rất khó khăn.Để nâng cao trình độ của nguồn nhân lực ở các vùng
nông thôn , vùng sâu vùng xa, miền núi, Nhà nớc đã có chính sách cấp học bổng ,
giảm học phí , u tiên các học sinh nghèo vợt khó. Từ đó giúp họ có điều kiện học
tập, tìm kiếm việc làm, nâng cao mức sống. Chính nhờ những chủ trơng đúng đắn
này mà những bất hợp lí trong cơ cấu vùng, miền của giáo dục đào tạo nguồn nhân
lực đợc điều chỉnh phần nào.
Yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lợng nguồn nhân lực là việc đổi
mới mục tiêu , nội dung, chơng trình và phơng pháp giáo dục đào tạo. Việc hội
nhập và cạnh tranh kinh tế đòi hỏi hàng hoá phải đạt tiêu chuẩn quốc tế để tăng
khả năng cạnh tranh trên thị trờng thế giới, từ đó đòi hỏi phải có trình độ công
nghệ cao và khả năng sử dụng tơng ứng các công nghệ đó . Ngoài giáo dục đào
tạo văn hoá chuyên môn , nghiệp vụ về mặt lí thuyết , cần chú ý điều kiện thực
hành, ứng dụng , giáo dục kĩ luật, tác phong lao động công nghiệp , rèn luyện kỉ
năng và những khả năng thích ứng của ngời lao động với những đặc điểm của nền
kinh tế thị trờng. Song song với vấn đề giáo dục, đào tạo con ngời, chúng ta phải
quan tâm đến vấn đề dân số, sức khoẻ, để nâng cao chất lợng nguồn nhân lực ,
giảm sức ép đối với quy mô và chất lợng giáo dục .
Trong điều kiện của Việt nam hiện nay , yêu cầu đa dạng hoá các loại
hình giáo dục đào tạo rất cần thiết để bổ sung, cải thiện hiện trạng nguồn nhân lực
nhằm khắc phục những bất hợp lí về việc phân bổ nguồn nhân lực, đồng thời nâng
cao hiệu quả của đầu t cho giáo dục đào tạo để phục vụ cho nhu cầu phát triển .
Nguyễn Tuấn Phúc - Pháp I - K43E
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trong lĩnh vực giáo dục hớng nghiệp, chúng ta cần phải kết hợp một cách khoa
học giữa kế hoạch phát triển toàn diện với chính sách sử dụng sau đào tạo hợp lý
để giảm lảng phí về chi phí giáo dục đào tạo của xã hội và của gia đình. Ngời lao
động đào tạo ra đợc làm việc đúng ngành , đúng nghề, đúng khả năng và sở trờng
của mình. Ngoài ra, giáo dục hớng nghiệp cũng đòi hỏi phải có công tác dự báo
nghề để xác định đợc xu hớng phát triển và nhu cầu về lao động trong từng giai
đoạn. Giáo dục đào tạo chính quy, dài hạn là cơ sở để hình thành nên bộ phận ngời
lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, có kỹ năng tiếp cận với khoa học,
công nghệ mới, hiện đại. Ngoài ra, cần mở rộng các loại hình đào tạo ngắn hạn để
cải thiện hiện trạng nguồn nhân lực hiện nay và nhanh chóng nâng cao số lao động
đã qua đào tạo của ta lên. Hình thức giáo dục tại chức và từ xa cần chú ý hơn đến
chất lợng và hiệu quả giáo dục.
Việc sử dụng tốt hơn, phân bổ hợp lý hơn nguồn lực đã có, đa dạng hoá và
khai thác mọi nguồn lực khác cho giáo dục đào tạo là rất cấp thiết. Nguồn tài
chính hạn hẹp hiện đợc coi là thách thức lớn nhất đối với hệ thống đào tạo nghề.
Tóm lại, Giáo dục đào tạo nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nớc là một tất yếu khách quan, một nhiệm vụ trọng tâm trong
quá trình đổi mới, xây dựng đất nớc. Mặc dù nền giáo dục đào tạo đã đạt đợc
nhiều thành tích to lớn ( Việt Nam có chỉ số HDI tơng đối cao, đợc xếp vào các n-
ớc có trình độ phát triển trung bình.) nhng so với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội,
nền giáo dục đào tạo của nớc ta vẫn cha đáp ứng đợc.
Do đó, cần có những chính sách hỗ trợ, khuyến khích và những đờng lối
đúng đắn của Đảng và Nhà Nớc đối với sự nghiệp giáo dục của nớc ta.
2.3. Lao động Việt Nam trong thời đại hiện nay đang cần sự quan tâm đúng
mức.
2.3.1. Việt Nam trong dòng chảy thời gian
Hớng tới một nền kinh tế tri thức là một xu thế tất yếu của thời đại. Trong
thế kỉ 20, chúng ta đã từng biết đến nền kinh tế thị trờng, nền kinh tế kế hoạch và
nền kinh tế hỗn hợp với những công cụ phân phối đặc trng và phơng thức giải
Nguyễn Tuấn Phúc - Pháp I - K43E
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quyết vấn đề kinh tế của chúng. Tiêu điểm của nền kinh tế tri thức , không giống
hai loại hình kinh tế trên, nhấn mạnh vào động lực phát triển của xã hội trong thời
đại mới . Nền kinh tế hiện đại không chỉ đợc xây dựng trên cơ sở tài sản vật chất
và nguồn nhân lực mà quan trọng hơn phải đợc đặt nền móng ở khả năng học học
tập, tiếp thu và thích nghi của mọi thành viên của nó nhằm thích ứng với môi trờng
toàn cầu liên tục phát triển và đầy biến động.
Vấn đề cốt tử của Việt nam hiện nay để xây dựng nền kinh tế dựa trên tri
thức là giáo dục. Nếu chúng ta không cải cách giáo dục mạnh mẽ thì ngời dân sẽ
không đủ trình độ để hiểu và xử lí thông tin kịp thời , không đủ khả năng bắt kịp
các luồng thông tin ào ạt nh thác lũ trên mạng INTERNET và sẽ không tìm đợc kẻ
hở trên thị trờng thế giới cho hàng hoá Việt nam. Nhất thiết chúng ta phải xây
dựng đợc một nền giáo dục tiên tiến phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nớc;Nhng để xây dựng đợc một nền giáo dục nh thế, cần phải có
những chính sách xã hội hỗ trợ cho nền giáo dục đào tạo, trong đó giải quyết việc
làm và vấn đề tiền lơng là những vấn đề quan trọng.
2.3.2. Việc làm của ngời lao động và vấn đề tiền lơng
.Việc làm của ngời lao động.
Nói đến việc làm và nâng cao chất lợng cuộc sống của ngời lao động là nói
đến vấn đề bức thiết và mục đích của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội . Việc
giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực phải đợc đi đôi với việc giải quyết việc làm
cho ngời lao động, có tạo đợc cho ngời lao động việc làm ổn định và mức thu nhập
tơng xứng thì mới tạo đợc động lực phát triển kinh tế xã hội .
Việc làm là hoạt động tạo ra giá trị, của cải vật chất. Mác-Ănghen đã
khẵng định: Lao động là nguồn gốc của mọi của cải vật chấtlà điều kiện cơ
bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài ngời. Lao động là nguồn lực quan trọng để
phát triển đất nớc. Giải quyết việc làm cho lao động xã hội vừa là mục tiêu vừa là
động lực của sự phát triển . Bên cạnh việc kết hợp các giải pháp khuyến khích phát
triển sản xuất, thực hiện các chơng trình các kinh tế xã hội lớn, tạo ra nhiều việc
làm cho ngời lao động, Nhà nớc đã thực hiện các giải pháp hỗ trợ , tác động vào
Nguyễn Tuấn Phúc - Pháp I - K43E
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
những ngời cha có việc làm hoặcthất nghiệp, thiếu việc làm để họ có thêm cơ hội
có việc làm.Các mô hình kinh tế hợp lý, nh mô hình V-A-C, hình thức giao đất
giao rừng đợc nhân rộng ở nhiều nơi. Bên cạnh đó, Nhà Nớc còn có các chính
sách khuyến khích ngời dân tự làm giàu cho chính mình, cho gia đình và cho xã
hội. Luật doanh nghiệp ra đời năm 1999 đánh dấu một bớc phát triển mới, một bớc
ngoặt thuận lợi cho các doanh nhân Việt Nam; Làm giàu chính đáng là tiêu chí
của nhiều cuộc hội thảo, là mục đích của nhiều chủ trơng, chính sách, là động lực
của nhiều ngời dân Việt Nam cần cù, thông minh.
Với nền kinh tế vận động theo định hớng XHCN, Đảng và Nhà Nớc luôn
đặt hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế lên hàng đầu. Hiệu quả kinh tế phải đi đôi
với hiệu quả xã hội, trong đó việc tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống ngời
dân đợc chú trọng nhất; dự án xây dựng khu công nghiệp Dung Quất ở miền
Trung khắc nghiệt, dự án mở đờng Hồ Chí Minh lịch sử là những chính sách, biện
pháp hợp lý đã lấy hiệu quả xã hội đặt lên hàng đầu.
Giải quyết việc làm là kết quả tổng hợp của sự phát triển sản xuất, của việc
thực hiện các chơng trình kinh tế, xã hội và các giải pháp hỗ trợ trong đó việc phát
triển sản xuất, tăng trởng kinh tế là tiền đề , điều kiện cơ bản nhất là từ những kết
quả bớc đầu về giải quyết việc làm cho ngời lao động xã hội trong thời gian qua là
rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, thực tiễn khách quan cũng cho thấy điều kiện tạo ra
việc làm cha vững chắc, nhiều yếu tố khác nảy sinh làm cho thực trạng lao động
việc làm thêm khó khăn phức tạp . Tỉ lệ thất nghiệp ở các đô thị nớc ta vào loại
cao so với các nớc trong khu vực và có xu hớng tăng. Chất lợng lao động thấp, chỉ
có gần 19% lao động qua đào tạo chuyên môn , kĩ thuật . Cơ cấu lao động kĩ thuật
bất hợp lí, cha đáp ứng đợc yêu cầu của nền kinh tế và càng bất cập trớc yêu cầu
lao động kĩ thuật cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nớc. Việc
phân bố lao động theo ngành còn nhiều bất hợp lí. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao
động diễn ra chậm . Lực lợng lao động phân bố không đồng đều cha tơng xứng với
tiềm năng và yêu cầu phát triển của các vùng. Và một điều quan trọng nữa đó là
công tác quản lí lao động theo ngành và theo lãnh thổ bất cập so với yêu cầu, cha
giám sát đợc sự vận động của thị trờng lao động . Hiện nay, ở thủ đô Hà Nội cũng
Nguyễn Tuấn Phúc - Pháp I - K43E
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nh ở nhiều thành phố lớn khác, các chợ lao động với nguồn nhân lực chủ yếu là
những nông dân ở vùng nông thôn, đang là vấn đề nan giải. Chúng ta cần phải
sáng tạo nhiều hình thức kinh tế làm ăn có hiệu quả nhằm tăng thêm thu nhập cho
ngơì lao động tận dụng đợc quỹ thời gian trong những ngày nông nhàn.
.Vấn đề đổi mới chính sách tiền lơng.
Tiền lơng về thực chất là khoản thù lao nhà nớc trả cho cán bộ , công
chức tơng xứng với lao động và trình độ nghiệp vụ, chức trách để thực hiện những
công việc mà nhà nớc uỷ quyền cho họ.
Để xác định đúng tiền lơng tối thiểu chung cho cán bộ, công chức, trớc hết
phải quan niệm đúng đắn về gía trị sức lao động . Đó là toàn bộ những chi phí cần
thiết về ăn , mặc, ở, đi lạiv v bù đắp cho một lợng nhất định về cơ bắp, trí tuệ đã
hao phí để duy trì cuộc sống của bản thân ngời lao động trong trạng thái bình th-
ờng đồng thời tái sản xuất ra sức lao động cả về số lợng và chất lợng trong những
điều kiện kinh tế xã hội ổn định. Do đó , khi đồng tiền mất gía, chỉ số giá cả sinh
hoạt cao thì tiền lơng danh nghĩa phải đợc điều chỉnh thích ứng và kịp thời để đảm
bảo tiền lơng thực tế cho ngời lao động. Cách đây vài năm chính phủ đã tăng
mức lơng cơ bản cho công nhân viên chức từ 144 nghìn đồng lên 210 nghìn đồng,
và mới đâychính phủ đẫ có chính sách đổi mới tiền lơng , kế hoạch đến cuối năm
2003 sẽ tăng lên đợc 240 nghìn đông. Đây là một điều đáng mừng, khích lệ tinh
thần làm việc và hiệu quả lao động của công nhân viên chức. Đồng thời , trong
phiên họp thờng kì vào tháng 6 năm 1999 chính phủ cũng đã đa ra một hệ thống
các giải pháp nhằm đảo đảm sự phát triển ổn định của tình hình kinh tế xã hội và
các giải pháp chống thiểu phát (tức là lu thông luôn thiếu tiền dẫn đến giá cả hàng
hoá , dịch vụ giảm xuống một cách phổ biến trong khi tiền giấy trong kho bạc nhà
nớc lại đầy ắp .) , thiết lập quan hệ giá cả thị trờng hợp lí , kích thích sản xuất phát
triển . Từ đó ta cần sửa đổi , hoàn thiện thang, bảng lơng cho cán bộ công chức
nhà nớc và chế độ phụ cấp đồng thời sắp xếp , hoàn thiện tổ chức bộ máy và biên
chế cán bộ công chức bảo đảm các yêu cầu tinh gọn, hiệu lực , hiệu quả giảm bớt
tổng số cán bộ , công chức hởng lơng nhà nớc. Trên cơ sở đó cần từng bớc nâng
dần lơng tối thiểu chung cho cán bộ, công chức nhà nớc. Trớc mắt cần có sự đột
Nguyễn Tuấn Phúc - Pháp I - K43E
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét