Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Chi phí sản xuất và các giải pháp hạ thấp chi phí sản xuất kinh doanh tại Công ty Bóng đèn Phích nước Rạng Đông

- Chi phí nhân công
- Chi phí khấu hao TSCĐ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài
- Chi phí khác bằng tiền
Cách phân loại này cho biết chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp gồm những nội dung chi phí nào, tỷ trọng từng loại chi phí / ổng số, làm
cơ sở cho việc lập kế hoạch như kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương,
… Tuy nhiên cách nhìn này không cho biết CPSX / ∑ chi phí của doanh nghiệp
là bao nhiêu.
b. Phân loại theo mục đích và công dụng của chi phí
Cách này căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thnh sản phẩm dựa
vào mục đích, công dụng của chi phí và mức phân bố chi phí cho từng đối
tượng (không phân biệt chi phí có nội dung như thế nào). Toàn bộ chi phí sản
xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ được chia thành các khoản mục:
- Chi phí ngyên vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu… tham gia trực tiếp vào sản xuất chế tạo ra
sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lương, phụ cấp lương, trích
BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ với tiền lương phát sinh.
- Chi phí sản xuất chung: Những chi phí phát sinh trong phạm vi phân
xưởng sản xuất (trừ chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp).
+ Chi phí nhân viên phân xưởng.
+ Chi phí vật liệu và CCDC sản xuất.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ Chi phí bằng tiền khác
Ba khoản mục chi phí trên được tính vào giá trị sản xuất, ngoài ra khi
tính giá thành toàn bộ còn gồm: chi phí bán hàng, chi phí QLDN. Phân loại
theo cách này rất thuận tiện cho việc tập hợp chi phí và tính giá thành sản
phẩm, phục vụ yêu cầu quản lý chi phí sản xuất kinh doanh theo định mức,
cung cấp thông tin cho việc lập BCTC, giúp việc đánh giá tình hình thực hiện
kế hoạch giá thành sản xuất, phân tích ảnh hưởng của từng khoản mục chi phí
đến giá thành sản xuất cũng như cho thấy vị trí của CPSX trong quá trình
SXKD của doanh nghiệp.
c. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ với khối lượng
sản phẩm, công việc lao vụ sản xuất trong kỳ
- Chi phí cố định (định phí): là những chi phí không thay đổi về tổng số
so với khối lượng công việc hoàn thành trong một phạm vi nhất định.
- Chi phí biến đổi (biến phí): là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ
lệ so với khối lượng công việc hoàn thành.
Phân loại theo cách này thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi
phí, xác định điểm hòa vốn, phân tích tình hình tiết kiệm chi phí sản xuất kinh
doanh. Đồng thời làm căn cứ để đề ra biện pháp thích hợp hạ thấp chi phí sản
xuất kinh doanh trên một đơn vị sản phẩm cũng như xác định phương án đầu tư
thích hợp.
d. Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
và mối quan hệ giữa đối tượng chịu chi phí
- Chi phí trực tiếp: là những CPSX quan hệ trực tiếp cho sản phẩm hoặc
đối tượng chụ chi phí.
- Chi phí gián tiếp: là những CPSX có quan hệ đến sản xuất ra nhiều loại
sản phẩm, không phân định được cho từng đối tượng cho nên phải phân bổ theo
đối tượng nhất định.
Phân loại theo cách này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp
tập hợp chi phí và phân bổ chi phí một cách hợp lý.
Nói chung việc phân loại chi phí theo tiêu thức nào là phải phù hợp với
đặc điểm và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, là cơ sở cho việc lập kế hoạch,
phân tích kiểm tra chi phí và xác định trọng điểm quản lý chi phí nhằm góp
phần tiết kiệm chi phí, nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.
3. Phạm vi chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Nền kinh tế thị trường song song với việc mở rộng môi trường kinh
doanh cho các doanh nghiệp có nghĩa các doanh nghiệp phải cạnh tranh với
nhau gay gắt. Có thể nói cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là một cuộc
chạy đua khốc liệt trên một tuyến đường với những biển báo và luật lệ luôn
thay đổi, không có tuyến đích và không có người chiến thắng vĩnh cửu. Mục
tiêu của doanh nghiệp trong cuộc chạy đua đó đều là lợi nhuận. Nhưng lợi
nhuận hạch toán trên sổ sách để giải trình với Bộ tài chính cao cũng đồng nghĩa
với việc phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cao, mà các doanh nghiệp thì
luôn luôn không muốn tiền chạy ra khỏi túi của mình. Cho nên xu hướng chung
của các doanh nghiệp là muốn đội chi phí sản xuất kinh doanh trên sổ sách
hạch toán cao hơn. Nhà nước đã đưa ra các quy định trong luật thuế TNDN
phần nào phản ánh đúng bản chất kinh tế tương đối đầy đủ các chi phí hợp lý
phát sinh trong quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
- Chi phí sản xuất kinh doanh chỉ bao gồm những khoản chi phí trực tiếp
hoặc gián tiếp phục vụ cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp, mà không bao
gồm những khoản chi phí phục vụ cho hoạt động riêng biệt khác của doanh
nghiệp.
- Những khoản chi phí có nguồn bù đắp riêng không được tính vào chi
phí sản xuất kinh doanh như chi phí đầu tư dài hạn, chi phí phục vụ cho các
hoạt động tổ chức đoàn thể.
- Có một số khoản chi phí về thực chất không phải là chi phí sản xuất
kinh doanh nhưng do yêu cầu của chế độ hạch toán kinh tế và chế độ quản lý
hiện hành cho phép hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh như: chi phí
phòng chày, chữa cháy, chi phí phòng chống bão lụt.
- Có một số khoản chi phí về thực chất là chi phí sản xuất kinh doanh
nhưng phát sinh do lỗi chủ quan của doanh nghiệp thì không được hạch toán
vào chi phí sản xuất kinh doanh như tiền phạt do vi phạm hợp đồng…
Xác định đúng phạm vi chi phí sản xuất kinh doanh mới hạch toán đầy
đủ, đúng đắn hợp lý các khoản chi phí, qua đó phản ánh chính xác hiệu quả
hoạt động của SXKD của doanh nghiệp, cơ sở để Nhà nước quản lý đề ra quyết
định chính xác, xác định đúng nguồn thu cho NSNN.
II. Một số chỉ tiêu về chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.Mục đích của việc xây dựng các chỉ tiêu về chi phí sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Việc lập kế hoạch ci phí sản xuất kinh doanh là cần thiết và tất yếu. Trên
cơ sở các kế hoạch nhằm xác định mục tiêu phấn đầu không ngừng: Thực hiện
tốt công tác quản lý và tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu chi phí
sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng tích cực tới các chỉ tiêu khác như: Chỉ tiêu
vốn lưu động được xác định căn cứ vào dự toán chi phí sản xuất và kinh doanh
của đơn vị, mức LN phụ thuộc vào giá thành sản lượng hàng hoá kỳ kế hoạch
và được xác định trên cơ sở dự toán chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Do
vậy mục tiêu của Nhà quản trị nếu chỉ mang tính chất định tính thì người thực
hiện rất khó xác định một cách yêu cầu cụ thể mức đặt ra, cho nên các chỉ tiêu
thể hiện bằng những con số cụ thể đã định hướng được, rõ ràng, dễ hiểu nhưng
cũng mang tính chất chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu quản lý. Như vậy việc xây
dựng các chỉ tiêu về chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục
đích đáp ứng đắc lực cho yêu cầu của công tác kế hoạch, qua các chỉ tiêu kế
hoạch, có độ chuẩn xác cao tại bộ khung cho việc thực thi đạt kết quả cao.
2. Nội dung của các chỉ tiêu và ý nghĩa của các chỉ tiêu
a. Tổng chi phí sản xuất kinh doanh
Là toàn bộ các khoản tiền mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện quá trình
SXKD trong một kỳ nhất định. Tổng chi phí có liên quan đến tổng sản lượng
sản phẩm tiêu thụ, khi tổng sản lượng sản phẩm tiêu thụ thay đổi thì tổng chi
phí cũng thay đổi theo.
Tổng chi phí là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh
được xác định trên cơ sở tính toán và tổng hợp mục tiêu chi phí cụ thể. Việc đó
phải dựa vào tính toán xác định từng khoản mục chi phí phát sinh trong kỳ.
Công thức: F = F
đk
+ P
ps
- F
ck
Trong đó F: Tổng chi phí sản xuất kinh doanh
F
đk
: Số dư chi phí đầu kỳ (CPBH và CPQLDN còn tồn lại đầu kỳ)
P
ps
: Tổng chi phí phát sinh trong kỳ kế hoạch
F
ck
: Số dư chi phí phân bổ cho hàng hóa dự trữ cuối kỳ (CPBH và
CPQLDN)
Đối với DNCPSX có tính chất ổn định, chu kỳ kinh doanh dài. Trong
năm không có DT hoặc DT nhỏ thì tiến hành phân bổ CPBH và CPQLDN cho
hàng dự trữ tồn kho theo một tỷ lệ hợp lý.
F
ck
= K x

=
n
i
i
D
1
Trong đó K: Tỷ lệ phân bổ CPBH và CPQLDN hàng dự trữ
D
i
: Dự trữ tồn kho cuối kỳ của sản phẩm i
n: Số nhóm mặt hàng dự trữ
K =
%
(
T
PF
psck
+
K được tính như sau:
Trong đó:
T: Tổng giá trị sản phẩm trong kỳ
T được xác định theo phương pháp cân đối lưu chuyển hàng hóa
T = D
đk
+ M = B + D
ck
D
đk
: Dự trữ tồn kho sản phẩm đầu kỳ
M: Tổng giá trị sản phẩm sản xuất trong kỳ
D
ck
: Dự trữ tồn kho sản phẩm cuối kỳ
B: Tổng giá trị sản phẩm bán hàng trong kỳ
Tổng chi phí là chỉ tiêu kinh tế cơ bản làm cơ sở để tính các chỉ tiêu khác
trong kế hoạch CPSXKD của doanh nghiệp
b. Tỷ suất chi phí
Chỉ tiêu tổng CPSXKD mới chỉ phản ánh quy mô tiêu dùng vật chất, tiền
vốn và mức kinh doanh để phục vụ quá trình SXKD của DN, đồng thời xác
định số vốn phải bù đắp từ thu nhập trong kỳ của doanh nghiệp. Đánh giá hiệu
quả CP từng thời kỳ cũng như sự tiến bộ trong công tác quản lý chi phí với các
DN khác có cùng điều kiện, cùng tính chất hoạt động, cần phải thông qua chỉ
tiêu tỷ suất chi phí.
Công thức: F' = F/M x 100%
Trong đó F': Tỷ suất chi phí
F: Tổng chi phí sản xuất kinh doanh
M: Tổng doanh thu hoặc khối lượng sản phẩm tiêu thụ
Tỷ suất chi phí là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ so sánh giữa tổng
chi phí sản xuất kinh doanh với tổng mức tiêu thụ sản phẩm trong kỳ. Chỉ tiêu
này phản ánh cứ một đơn vị sản phẩm tiêu thụ thì phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi
phí. Vì vậy càng tiết kiệm chi phí lao động sống và lao động vật hóa/1 đơn vị
so tiêu thụ thì càng tốt. Tỷ suất chi phí càng giảm thì hiệu quả quản lý và sử
dụng chi phí sản xuất kinh doanh càng cao.
c. Mức độ tăng hoặc giảm tỷ suất chi phí
Là chỉ tiêu tương đối phản ánh tình hình, kết quả hạ thấp chi phí thông
qua hai tỷ suất chi phí đem so sánh với nhau.
Công thức:
∆F' = F'
1
- F'
o
Trong đó ∆F': Mức độ tăng trưởng hoặc giảm tỷ suất chi phí
F'
o
, F'
1
: Tương ứng tỷ suất chi phí kỳ gốc, kỳ so sánh
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà chọn kỳ so sáh và kỳ gốc cho phù
hợp. Có thể chọn kỳ gốc là chỉ tiêu kế hoạch, còn kỳ so sánh là chỉ tiêu thực
hiện cùn một thời kỳ để đánh giá mức độ hạ thấp tỷ suất chi phí của DN
∆F' có thể nhận giá trị :"-", "+", "= 0"
∆F' < 0 chứng tỏ suất phí kỳ so sánh < tỷ suất phí kỳ gốc công tác quản
lý chi phí tốt
∆ ≥ 0: chưa tốt.
d. Tốc độ tỷ suất tăng hoặc giảm tỷ suất chi phí
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng hoặc giảm chi phí nhanh hay chậm
giữa hai DN trong cùng một thời kỳ hoặc giữa hai thời kỳ của một DN chỉ tiêu
này được xác định là tỷ lệ phần trăm của mức độ tăng (giảm) tỷ suất phí của hai
thời kỳ/ tỷ suất phí kỳ gốc
Công thức: ∆T = ∆F'/F' x 100%
Trong đó: ∆T: Tốc độ tăng (giảm) tỷ suất phí
∆T< 0: Đánh giá là tốt → ∆T  càng lớn càng tốt
∆T ≥ 0: Chưa tốt
∆T là chỉ tiêu chất lượng, có thể đánh giá chính xác trình độ tổ chức quản
lý chi phí sản xuất kinh doanh của DN. Chỉ tiêu này giúp cho người quản lý
thấy rõ hơn tình hình, kết quả phấn đấu giảm chi phí bởi: Có trường hợp giữa
hai thời kỳ của DN (hoặc giữa hai DN) có mức độ hạ thấp chi phí như nhau
nhưng tốc độ giảm chi phí lại khác nhau và ngược lại.
e. Mức tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất kinh doanh
Là kết quả của sự phấn đấu hạ thấp chi phí sản xuất kinh doanh hoặc làm
giảm tỷ suất phí
= x
Ký hiệu: ∆M = ∆F' x M
1
∆M < 0: Phản ánh số tiền tiết kiệm được
∆M ≥ 0 : Số tiền bị lãng phí do tỷ suất phí tăng
Kết quả của việc hạ thấp chi phí làm góp phần tăng lợi nhuận cho DN.
Chỉ tiêu này làm rõ thêm chỉ tiêu mức độ hạ thấp chi phí bằng cách biểu hiện số
tương đối (%) sang số tuyệt đối.
g. Hệ số lợi nhuận trên chi phí
Chỉ tiêu này phản ánh với một đồng chi phí bỏ ra thì DN sẽ thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau một kỳ hoạt động SXKD nhất định
Hệ số LN/CP =
Qua chỉ tiêu này thấy được kết quả SXKD của DN, trình độ sử dụng các
nguồn nhân tài, vật lực trong kỳ hoạt động SXKD của DN.
B. Giá thành sản phẩm và một số chỉ tiêu về giá thành của doanh nghiệp
1. Giá thành sản phẩm
Là chỉ tiêu rất quan trọng, toàn bộ CPSX của DN để hoàn thành việc sản
xuất ra sản phẩm kết chuyển vào trong giá thành, qua khâu tiêu thụ giá thành
lại kết chuyển vào giá vốn các sản phẩm đã tiêu thụ. Có nhiều phương pháp
tính giá thành, tùy từng DN sẽ áp dụng
- Những DN có công nghệ sản xuất khép kín thường chọn phương pháp
tính giá thành đơn.
- Những DN có quy trình công nghệ phức tạp, sản phẩm trải qua nhiều
giai đoạn phân xưởng chế biến liên tục thường chọn phương pháp tính giá
thành phân bước.
Ngoài ra còn có phương pháp tính Z theo đơn đặt hàng, theo hệ số… Tuy
nhiên để đánh giá trình độ sản xuất của doanh nghiệp ta dùng chỉ tiêu Z sản
phẩm để tính các chỉ tiêu khác
2. Một số chỉ tiêu về tính giá thành sản phẩm
a. Chỉ tiêu mức tăng hoặc giảm
M
z
=

=
n
i 1
[(Q
i1
x Z
i1
) - (Q
i1
x Z
io
)]
Trong đó:
Mz: Mức hạ giá (hoặc tăng) giá thành sản phẩm
Q
i1
: Khối lượng sản phẩm kỳ so sánh
Z
i1
, Z
io
: Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ so sánh, kỳ gốc
n: Số loại sản phẩm so sánh được
Giá thành đơn vị sản phẩm được xác định
Z
đvị
=

D
TB
Q
Z
Trong đó: Z
đvị
: Là giá thành đơn vị sản phẩm
Z
TB
: Là giá thành toàn bộ hay tổng giá thành của sản phẩm
∑Q
p
: Tổng khối lượng sản phẩm sản xuất được

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét