Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần bê tông xây dựng Hà Nội

Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
1.1.3. Phân loại vốn lưu động
Vốn lưu động có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp, nó
tham gia vào mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nếu thiếu
vốn lưu động doanh nghiệp khó lòng tạo ra được sản phẩm bởi vì phần lớn
các tài sản lưu động tham gia vào quá trình chế biến để tạo thành thực thể
của sản phẩm và để có các tài sản lưu động này doanh nghiệp phải có một
lượng vốn lưu động để đáp ứng. Để có thể sử dụng vốn lưu động một cách
có hiệu quả người ta phải phân loại vốn lưu động, việc phân loại vốn lưu
động giúp cho nhà quản trị tài chính doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc
quản lý và phân bổ vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó
có thể sử dụng hợp lý hơn nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Có một số cách phân loại vốn lưu
động như sau:
1.1.3.1. Căn cứ vào sự tham gia của vốn lưu động trong quá trình sản xuất
kinh doanh
Theo cách này vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành 3 loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: là biểu hiện bằng tiền của các
khoản vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế
công cụ lao động nhỏ… Loại vốn lưu động này đảm bảo cho quá trình sản
xuất của doanh nghiệp được liên tục.
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: là biểu hiện bằng tiền của các loại sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm,… Loại vốn lưu động này giúp cho việc
sản xuất được liên tục, hợp lý.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: là biểu hiện bằng tiền của thành
phẩm, vốn bằng tiền, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
7
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
ngắn hạn, cho vay ngắn hạn ) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn
hạn, các khoản vốn trong thanh toán (các khoản tạm ứng, các khoản phải
thu…),… Loại vốn lưu động này dùng để dự trữ sản phẩm đảm bảo cho
việc tiêu thụ sản phẩm được thường xuyên và đều đặn theo yêu cầu của
khách hàng
Thông thường tỷ trọng các loại vốn này tùy thuộc vào loại hình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, ví dụ đối với các doanh nghiệp kinh doanh
thương mại thì bộ phận vốn lưu động trong khâu sản xuất thường chiếm tỷ
trọng nhỏ, vốn lưu động trong các doanh nghiệp loại này phân bố chủ yếu
trong khâu dự trữ sản xuất (dự trữ hàng hóa để bán) và khâu lưu thông, còn
đối với các doanh nghiệp sản xuất thì thường vốn lưu động phân bố trong
khâu dự trữ sản xuất và khâu sản xuất còn vốn lưu động trong khâu lưu
thông có tỉ trọng nhỏ hơn. Cách phân loại này cho thấy sự phân bố vốn lưu
động trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó có biện pháp
điều chỉnh cơ cấu vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao
nhất.
1.1.3.2. Căn cứ theo hình thái biểu hiện của vốn lưu động
Theo cách này vốn lưu động có thể chia thành 3 loại:
- Vốn lưu động dưới hình thái vật tư hàng hoá: là các khoản vốn lưu động
có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên liệu, nhiên vật liệu,
sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm.
- Vốn lưu động bằng tiền: bao gồm các khoản như tiền mặt, tồn quỹ, tiền
gửi ngân hàng, các khoản trong thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn và
các loại chứng khoán có tính thanh khoản cao như cổ phiếu, trái phiếu…
- Các khoản phải thu: là các khoản phải thu của khách hàng hay các khoản
mà doanh nghiệp ứng trước cho người bán (các khoản tạm ứng)…
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
8
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất vật
liệu xây dựng, thì vốn lưu động thường được phân bố nhiều dưới hình thái
vật tư hàng hóa để phục vụ cho công tác sản xuất, chính vì vậy để có thể
quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này doanh nghiệp phải xây dựng kế
hoạch quản lý và sử dụng hiệu quả các loại vật tư hàng hóa của doanh
nghiệp. Ngoài ra, cách phân loại còn này giúp cho doanh nghiệp xem xét,
đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán nhanh của doanh
nghiệp.
1.1.3.3. Căn cứ vào quan hệ sở hữu
Theo cách này người ta chia vốn lưu động thành 2 loại:
- Vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định
đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiêp thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân
sách Nhà nước, vốn góp cổ phần, vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra
- Các khoản nợ phải trả: là các khoản vốn lưu động được hình thành do nhu
cầu sản xuất mà doanh nghiệp đã vay của các ngân hàng thương mại hoặc
các tổ chức tài chính, vốn vay từ các cá nhân, tổ chức thông qua phát hành
trái phiếu, cổ phiếu hay các khoản tín dụng mà doanh nghiệp chưa thanh
toán hoặc chưa đến hạn thanh toán.
Qua cách phân loại này có thể thấy kết cấu vốn lưu động của doanh
nghiệp được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các
khoản nợ. Từ đó có các quyết định huy động, quản lý, sử dụng vốn lưu
động hiệu quả, hợp lý hơn, đảm bảo an toàn tài chính trong sử dụng vốn
lưu động của doanh nghiệp.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
9
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
1.1.3.4. Căn cứ theo nguồn hình thành
Nếu xét theo nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp có thể
chia thành các nguồn như sau:
- Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ ban đầu khi
thành lập hoặc nguồn vốn bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
- Nguồn vốn liên doanh liên kết: là số vốn lưu động được hình thành từ vốn
góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. vốn góp liên
doanh có thể bằng tiền mặt hoặc vật tư, hàng hoá
- Nguồn vốn tự bổ sung: Là số vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá
trình sản xuất kinh doanh từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.
- Nguồn vốn đi vay: là số vốn lưu động được hình thành từ vốn vay các
ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng hoặc vay bằng phát hành trái
phiếu của doanh nghiệp.
Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh
nghiệp quản lý được cơ cấu nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong
kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có
chi phí sử dụng của nó. Do đó doanh nghiệp cần xem xét, lựa chọn nguồn
tài trợ tối ưu để tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn của mình từ đó nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.
1.2. Bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.1. Bảo toàn vốn lưu động
Thực chất, bảo toàn vốn lưu động trong các doanh nghiệp là bảo đảm số
vốn lưu động thu hồi sau mỗi chu kỳ kinh doanh đủ để doanh nghiệp tiếp tục
sản xuất kinh doanh trong kỳ tiếp theo đồng thời có thể bổ sung thêm cho
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
10
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
nguồn vốn của doanh nghiệp hoặc đầu tư thêm các trang thiết bị, máy
móc… phục vụ sản xuất. Những lý do đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động
bảo toàn vốn lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành
bình thường là:
- Sự rủi ro bất thường trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Nền kinh tế xảy ra lạm phát
- …
1.2.2. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Đặc trưng cơ bản của vốn lưu động đó là luân chuyển liên tục trong quá
trình sản xuất kinh doanh, và chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm trong
chu kỳ kinh doanh do vậy đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn lưu động
người ta thường thông qua đánh giá về tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
Ngoài mục đích sử dụng trong sản xuất vốn lưu động còn được sử dụng
trong thanh toán do vậy hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn thể hiện ở khả
năng đảm bảo vốn lưu động cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp là
một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và quản lý vốn
lưu động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho vốn lưu động trong doanh
nghiệp được luân chuyển với tốc độ cao, đảm bảo khả năng thanh toán của
doanh nghiệp luôn ở tình trạng tốt nhất và mức chi phí cho việc sử dụng vốn
lưu động là thấp nhất. Nói cách khác, hiệu quả sử dụng vốn lưu động thể
hiện khả năng sinh lời của vốn lưu động, nó cho biết mỗi đơn vị vốn lưu
động trong ký tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng trong kỳ.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động có vai trò quan trọng trong việc đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, bởi khác với vốn cố định, vốn lưu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
11
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
động cần các biện pháp linh hoạt, kịp thời phù hợp với từng thời điểm thì
mới đem lại hiệu quả cao bởi lẽ vốn lưu động có ảnh hưởng trực tiếp tới
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, chắc chắn không một doanh nghiệp
nào có thể tiến hành sản xuất kinh doanh mà thiếu vốn lưu động. Mặt khác
trong từng giai đoạn của quá trình sản xuất thì nhu cầu về vốn lưu động
cũng khác nhau do vậy trong việc sử dụng vốn lưu động cần có những điều
chỉnh hợp lý, kịp thời nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Hiệu quả sử dụng vốn
lưu động là một trong những căn cứ đánh giá năng lực sản xuất, chính sách
dự trữ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và nó cũng có ảnh hưởng lớn
đến kết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp.
Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi
nhuận. Việc quản lý sử dụng tốt vốn lưu động sẽ góp phần giúp doanh
nghiệp thực hiện được mục tiêu đã đề ra. Bởi vì quản lý vốn lưu động
không những đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý
nghĩa đối với việc hạ thấp chi phí sản xuất, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm
và thu tiền bán hàng, từ đó sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh
nghiệp.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.2.2.1. Vòng quay dự trữ, tồn kho
Giá vốn hàng hóa
Vòng quay dự trữ, tồn kho =
Tồn kho bình quân trong kỳ

Hàng tồn kho bình quân là bình quân số học của vật tư, hàng hóa dự trữ
đầu và cuối kỳ.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
12
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
Chỉ tiêu này phản ánh số lần hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển
trong kỳ. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty càng có hiệu quả. Qua chỉ tiêu này giúp nhà quản trị tài chính
xác đúng mức dự trữ vật tư, hàng hóa hợp lý trong chu kỳ sản xuất kinh
doanh.
1.2.2.2.2. Kỳ thu tiền bình quân
Tổng số ngày trong một kỳ
Kỳ thu tiền bình quân =
Vòng quay khoản phải thu trong kỳ
Doanh thu bán hàng trong kỳ
Vòng quay khoản phải thu trong kỳ =
Các khoản phải thu bình quân
Các khoản phải thu bình quân là bình quân số học của các khoản phải thu
ở đầu và cuối kỳ.
Chỉ tiêu Kỳ thu tiền bình quân cho biết số ngày cần thiết để thu được các
khoản phải thu, chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu
động càng cao.
1.2.2.2.3. Hiệu suất sử dụng vốn lưu động
Doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất sử dụng vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
13
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
Chỉ tiêu này nói lên 1 đồng vốn lưu động trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu thuần và chỉ tiêu này càng lớn càng tốt. Thông thường chỉ tiêu
trên được kết hợp với chỉ tiêu hiệu suất tài sản lưu động

Doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất Tài sản lưu động =
TS lưu động sử dụng binh quân trong kỳ
1.2.2.2.4. Hàm lượng vốn lưu động
Vốn lưu động sử dụng trong kỳ
Hàm lượng vốn lưu động =
Doanh thu thuần trong kỳ
Chỉ tiêu này nói lên số vốn lưu động cần thiết để tạo ra 1 đồng doanh thu
thuần, chỉ tiêu này càng nhỏ thì càng tốt, nó phản ánh khá rõ ràng trình độ
sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hoạt động có
hiệu quả thì chỉ tiêu này thường nhỏ và với cùng một lượng vốn lưu động
sử dụng trong kỳ sẽ tạo ra nhiều doanh thu hơn các doanh nghiệp khác.
1.2.2.2.5. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Lợi nhuận ròng trong kỳ
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động =
Vốn lưu động sử dụng bình quân
trong kỳ
Chỉ tiêu này nói lên 1 đồng vốn lưu động trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng
lợi nhuận ròng và chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt (đây cũng là chỉ tiêu
quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động).
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
14
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
1.2.2.2.6. Một số chỉ tiêu khác
1.2.2.2.6.1. Mức tiết kiệm vốn lưu động
Doanh thu thuần kỳ phân tích x ( Thời gian
1 vòng luân chuyển kỳ phân tích - Thời gian
1 vòng luân chuyển kỳ gốc )
Mức tiết kiệm VLĐ =
360
Mức tiết kiệm vốn lưu động số vốn lưu động doanh nghiệp tiết kiệm
được do tăng tốc độ luân chuyển vốn. Doanh nghiệp càng tăng được vòng
quay vốn lưu động thì càng có khả năng tiết kiệm được vốn lưu động, càng
nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
360
Thời gian 1 vòng luân chuyển VLĐ =
Số vòng quay VLĐ
Thời gian 1 vòng luân chuyển vốn lưu động cho cho biết trong khoảng
thời gian bao nhiêu ngày thì vốn lưu động luân chuyển được một vòng. chỉ
tiêu này càng bé cho thấy tốc độ lưu chuyển vốn lưu động càng nhanh. Đây
là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá hiệu quả tài chính của vốn lưu
động, phản ánh tốc độ quay vòng của vốn lưu động, trong điều kiện các
nguồn lực và nguồn vốn có hạn, việc tăng số vòng quay của vốn lưu động
trong năm là một hướng giải quyết cơ bản nhất của các doanh nghiệp, nhất
là các doanh nghiệp thương mại.
1.2.2.2.6.2. Vòng quay các khoản phải thu
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
Các khoản phải thu bình quân
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
15
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản
phải thu thành tiền mặt. Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các
khoản phải thu hồi là tốt vì doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn (ít phải cấp
tín dụng cho khách hàng và nếu có cấp tín dụng cho khách hàng thì chất
lượng tín dụng cao).
Đánh giá chung: nhìn chung để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
của doanh nghiệp thì cần phải kết hợp tất cả các chỉ tiêu trên tuy nhiên
trong thực tế khó có thể xác định được hết các chỉ tiêu trên trong mỗi
doanh nghiệp nên người ta thường dựa vào hai chỉ tiêu quan trọng nhất đó
là: hiệu quả sử dụng vốn lưu động và vòng quay vốn lưu động.
1.2.2.3. Nâng cao Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là yêu cầu tất yếu khách quan
của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Mặc dù hầu hết các vụ
phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ
đơn thuần do quản trị vốn lưu động tồi. Nhưng cũng cần thấy rằng sự bất
lực của một số doanh nghiệp trong việc hoạch định và kiểm soát một cách
chặt chẽ các loại tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn hầu như là một
nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là với một số vốn lưu động nhất
định nhưng doanh nghiệp tạo ra được nhiều doanh thu hơn và nhiều lợi
nhuận hơn hoặc đầu tư trang bị thêm cơ sở vật chất để mở rộng kinh doanh,
tăng doanh thu, hạ thấp giá thành, tăng lợi nhuận. Nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động còn là biện pháp tài chính giúp doanh nghiệp bảo toàn
vốn lưu động.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
16

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét