Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Techcombank

5
(overdraft) đến hạn mức phù hợp với thu nhập bình qn của chủ tài khoản nhằm đảm
bảo khả năng trả nợ. Các cơng ty tài chính, các tổ chức phi ngân hàng khơng được mở
tài khoản vãng lai cho khách hàng.
Tài khoản vãng lai dựa trên hợp dồng tài khoản vãng lai, trong đó hai bên thỗ
thuận về hạn mức cho vay, thời hạn, lãi suất, các hình thức đảm bảo như tài sản thế
chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba…Các tranh chấp phát sinh được xử lý theo tố
tụng thương mại.
Tài khoản vãng lai thuộc loại lưỡng tính, có thể DƯ NỢ hoặc DƯ CĨ tại một
thời điểm nhất định. DƯ NỢ khi rút ra nhiều hơn gửi vào, và DƯ CĨ thì ngược lại.
1.2.1.2 Các tài khoản tiết kiệm
Thơng thường đây là những loại tiền gởi định kỳ như tiền gửi có kỳ hạn của các
doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của cá nhân. Khách hàng chỉ được rút tiền ra theo một
kỳ hạn được quy định trứơc. Khách hàng gửi tiền sẽ đuợc cấp một sổ tiền gửi (cá
nhân) hoặc một hợp đồng tiền gửi (doanh nghiệp), nhận lãi định kỳ hoặc khi đáo hạn
và nhận gốc khi đáo hạn. Ngồi ra khơng được tham gia thanh tốn khơng dùng tiền
mặt.
Điều mà khách hàng khi sử dụng loại hình này trước hết là lợi tức được hưởng.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn khác nhau sẽ được hưởng lãi suất khác nhau theo ngun
tắc thời gian gửi càng dài, lãi suất sẽ càng lớn. Việc đáp ứng nhu cầu rút tiền cũng
được thiết kế theo những kỹ thuật khác nhau tùy theo chiến lược kinh doanh của các
NHTM.
Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn khá ổn định, cho phép ngân hàng chủ động
trong việc đầu tư chúng vào các kế hoạch sinh lời, ít gây sức ép rút tiền đối với ngân
hàng. Nhưng tiền lãi mà NHTM phải trả tính trên tiền tiết kiệm thường cao hơn và đa
phần là những khoản nhỏ, phân tán.
1.2.2 Nhóm các nguồn vốn khác
1.2.2.1 Vay mượn từ thị trường tiền tệ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
Các ngân hàng có th

vay và cho vay lẩn nhau

thơng qua thơng qua thị
trường liên ngân hàng (Interbank Market): trường hợp này xảy ra khi lượng tiền gửi
của NHTM tại NHNN thấp khơng đủ đáp ứng cho nhu cầu chi trả. Thơng qua sự tổ
chức của NHNN, ngân hàng này sẽ vay ngân hàng khác có lượng tiền gửi dư thừa tại
NHNN. Vì khoản cho vay là một bộ phận của tiền gửi thanh tốn nên thời gian vay
thường chỉ là một ngày “vay qua đêm”. Ngồi ra, các ngân hàng có thể vay trực tiếp
lẫn nhau thơng qua thị trường liên ngân hàng.
Vay ngân hàng Nhà Nước: NHNN sẽ cho vay các NHTM thơng qua nghiệp vụ
chiết khấu (discount) và tái chiết khấu (rediscount) thương phiếu và các giấy tờ có giá
hoặc cho vay lại theo hồ sơ tín dụng mà NHTM xuất trình
Phát hành giấy tờ có giá để thu hút tiền nhàn rỗi của các chủ thể trong nền
kinh tế. Giấy tờ có giá là giấy tờ chứng nhận của ngân hàng phát hành để huy động
vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất
định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa ngân hàng và khách hàng.
Nếu căn cứ theo thời hạn, giấy tờ có giá được chia thành hai loại:
- Giấy tờ có giá ngắn hạn: là loại có thời hạn dưới 12 tháng, bao gồm các loại
kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Bản chất là một khoản tiền gửi có kỳ hạn, thường có mệnh giá lớn khi phát hành, lãi
suất theo thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng hoặc lãi suất cố định.
- Giấy tờ có giá dài hạn: là loại có thời hạn từ 12 tháng trở lên, bao gồm trái
phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác. Giấy tờ có giá dài hạn
là khoản nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn trên thị trường tài chính, chúng
được xem là cơng cụ của thị trường vốn, lãi suất của giấy tờ có giá thường khá cao, một
số loại trong số đó có cả đặc tính được phép chuyển đổi thành cổ phiếu.
Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá của NHTM được thực hiện tập
trung theo từng đợt, phục vụ nhu cầu vốn theo mục tiêu của ngân hàng, ổn định hơn so
với nguồn vốn huy động dưới các hình thức tiền gửi, đồng thời tạo thêm các cơng cụ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
tài chính trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Tuy nhiên, cơng cụ huy động vốn
này thường có lãi suất và chi phí phát hành cao, phát hành theo kế hoạch và khơng
thường xun.
1.2.2.2 Phát triển các tài khoản hỗn hợp
Là một dạng tài khoản tiền gửi hoặc phi tiền gửi cho phép kết hợp thực hiện các
dịch vụ thanh tốn, tiết kiệm, mơi giới đầu tư, tín dụng. Chủ tài khoản sẽ uỷ thác dịch
vụ trọn gói cho chun viên quản lý tài khoản dịch vụ tại ngân hàng. Những đặc điểm
thu hút khách hàng của loại tài khoản này là tốc độ cùng với những tiện ích dịch vụ mà
khách hàng được hưởng.
1.2.2.3 Vay ngắn hạn qua hợp đồng mua lại (Repurchase agreement –RP)
Là hợp đồng được ký kết giữa ngân hàng với khách hàng (có tài khoản tại ngân
hàng). Đó là thoả thuận tạm thời chứng khốn chất lượng với tính thanh khoản cao (cổ
phiếu ưu đãi, trái phiếu Chính phủ sắp đến hạn thanh tốn ) kèm theo thỗ thuận sẽ
mua lại các chứng khốn này tại một thời điểm trong tương lai với mức giá xác định
trong hợp đồng. Giao dịch này thuộc loại qua đêm hoặc đến vài tháng tuỳ thuộc vào
nhu cầu vốn của ngân hàng và khả năng vốn của chủ thể mua chứng khốn. Như vậy,
ngân hàng có thể thỗ mãn nhu cầu vốn mà khơng phải bán vĩnh viễn các chứng khốn
chất lượng của mình.
Chi phí trả = Số tiền vay *lãi suất hiện hành của RP* Số ngày vay theo hợp đồng
lãi theo RP
Thơng thường lãi suất trong hợp đồng mua lại rất thấp so với lãi suất huy động
vốn của ngân hàng.
1.2.2.4 Vốn chiếm dụng
Ngân hàng sử dụng các loại tiền gửi nghĩa vụ của khách hàng trong q trình tổ
chức thanh tốn khơng dùng tiền mặt (các khoản tiền khách hàng kỳ quỹ để bảo chi
séc, mở thư tín dụng, bảo lãnh ngân hàng…) để tạm thời đáp ứng nhu cầu vốn của
ngân hàng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến qui mơ nguồn vốn ngân hàng
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của NHTM, mỗi loại
nguồn vốn lại chịu ảnh hưởng khác nhau bởi các nhân tố đó. Do vậy, NHTM cần phải
nghiên cứu đặc điểm của từng nguồn vốn và các nhân tố ảnh hưởng để có những biện
pháp huy động phù hợp với mục tiêu tăng trưởng tương ứng của ngân hàng.
1.3.1 Nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Lãi suất cạnh tranh
Lãi suất là một trong những biến số chủ chốt, cơ bản mà ngân hàng có thể tác
động vào thị trường vốn, tác động vào các đối tượng khách hàng gửi tiền khác nhau
đặc biệt trong cơ chế thả nổi lãi suất như hiện nay.
Định giá nguồn vốn huy động tiền gửi là một việc làm quan trọng và khá phức
tạp đối với các nhà quản trị ngân hàng. Nếu ngân hàng phải trả một mức lãi suất lớn để
thu hút và duy trì sự ổn định lượng tiền gửi của khách hàng thì phải chịu áp lực về việc
gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận. Tuy nhiên, truớc sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân
hàng, việc duy trì lãi suất tiền gửi cạnh tranh là điều khó tránh khỏi. Các ngân hàng
cạnh tranh với nhau để thu hút nguồn vốn tiền gửi khơng chỉ với các ngân hàng khác
mà còn với các tổ chức tiết kiệm, với các cơng cụ của thị trường vốn (trái phiếu, kỳ
phiếu, cổ phiếu).
Hiện nay, Chính phủ hầu hết các nước đã loại bỏ lãi suất trần đối với các
NHTM. Lúc này, việc xây dựng mức lãi suất cạnh tranh càng trở nên thiết yếu; nghĩa
là mỗi dịch vụ liên quan đến tiền gửi thường được định giá sao cho khoản thu đủ bù
đắp tất cả các phần lớn chi phí cho việc cung cấp dịch vụ đó.
1.3.1.2 Các yếu tố chủ quan khác
Tính chất sở hữu của ngân hàng: yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến mơ hình
quản lí, cơ chế quản l í và chiến lược kinh doanh của ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến
hoạt động tạo lập và quản lí các nguồn vốn. Ở Việt Nam trong những năm gần đây, tác
động của yếu tố này là khá rõ nét.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: NHTM cần phải xác định rõ những điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngân hàng mình nhằm định vị được chỗ
đứng hiện tại của ngân hàng, đồng thời có những dự đốn sự thay đổi của mơi trường
để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp, trong đó chiến lược phát triển quy mơ và
chất lượng nguồn vốn là một bộ phận quan trọng.
Quy mơ vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu được coi là đệm chống đỡ sự sụt giảm giá
trị tài sản của NHTM. Để đảm bảo mức độ an tồn tối thiểu, cần có quy định giới hạn giữa
vốn chủ sở hữu và vốn huy động nhằm tạo một khoảng cách an tồn trong hoạt động của
ngân hàng. Trong mối tương quan giữa vốn chủ sở hữu và vốn huy động, nếu chênh lệch
đó càng lớn thì hệ số an tồn của ngân hàng sẽ càng thấp.
Cơ sở vật chất kỹ thuật: một NHTM có trụ sở kiên cố, bề thế, mạng lưới các chi
nhánh, điểm giao dịch thuận lợi cùng các trang thiết bị và cơng nghệ hiện đại… sẽ là
một trong những yếu tố tạo uy tín cho khách hàng gửi tiền vào ngân hàng.
Thương hiệu: đó chính là uy tín của ngân hàng được tạo dựng qua nhiều năm,
có đội ngũ lãnh đạo và nhân viên chun nghi
ệp,
năng động, nhiệt tình, sáng tạo,
thương hiệu của ngân hàng được nhiều khách hàng biết đến và tin tưởng thì việc huy
động vốn sẽ rất thuận lợi.
Chiến lược cạnh tranh khách hàng: mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính –
ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng được
phép huy động vốn trên thị trường sẽ làm cho thị phần của các ngân hàng giảm đi. Do
vậy, các NHTM muốn thu hút được vốn cần phải tăng cường các giải pháp và chính
sách linh hoạt nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng về chất lượng, chủng loại
dịch vụ ngân hàng, kích thích nhu cầu của khách hàng để đạt mức sử dụng sản phẩm
của ngân hàng cao nhất. Cần phải xác định rằng ngay khi ngân hàng tạo ra được một
sản phẩm được xã hội ưa chuộng thì trong thời gian ngắn gần như lập tức, các ngân
hàng khác cũng có thể tạo ra sản phẩm đó để cạnh tranh.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
1.3.2 Nhân tố khách quan
Lạm phát làm giảm sức mua của đồng tiền. Lạm phát tác động tiêu cực đến việc
huy động vốn của ngân hàng. Nó làm xói mòn giá trị sức mua lên mỗi đơn vị tiền tệ.
Ngân hàng chỉ có thể khắc phục tác động này bằng cách duy trì một mức lãi suất thực
dương hoặc bảo đảm bằng một giá trị hiện vật (chẳng hạn như tiền gửi tiết kiệm được
bảo đảm bằng vàng)
Sự ổn định về chính trị có tác động rất lớn vào tâm lí và niềm tin của người gửi
tiền. Nền chính trị quốc gia ổn định, người dân sẽ tin tưởng gửi tiền vào hệ thống ngân
hàng nhiều hơn, ngân hàng sẽ là cầu nối hữu hiệu giữa tiết kiệm và đầu tư.
Mơi trường kinh tế được hiểu là các yếu tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu
nhập quốc dân, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát… có ảnh hưởng rất lớn đến nguồn tiền gửi
tại các NHTM. Mơi trường kinh tế ổn định thì nguồn tiền gửi tại các ngân hàng sẽ
được tăng cao. Ngược lại, nếu mơi trường kinh tế khơng ổn định, nguồn vốn nhàn rỗi
trong xã hội sẽ được chuyển thành các dạng đầu tư khác có giá trị ổn định và bền vững
hơn như: vàng, nhà đất,…
Sự thay đổi trong chính sách tài chính, tiền tệ và các quy định của Chính phủ,
của NHNN cũng gây ảnh hưởng tới khả năng thu hút vốn và chất lượng nguồn vốn của
các NHTM. Chính phủ Việt Nam đang được đánh giá là sử dụng các cơng cụ quản lý
tài chính, tiền tệ ngày càng có hiệu quả hơn, thúc đẩy q trình tiền tệ hóa nền kinh tế
và gia tăng lượng tiền gửi của dân chúng vào hệ thống ngân hàng.
Mơi trường văn hóa là các yếu tố quyết định đến các tập qn sinh hoạt và thói
quen sử dụng tiền của người dân. Tùy theo đặc trưng văn hóa của mỗi quốc gia, người
dân có tiền nhàn rỗi sẽ quyết định lựa chọn hình thức giữ tiền ở nhà, gửi vào ngân hàng
hay đầu tư vào các lĩnh vực khác. Ở các nước phát triển, việc thanh tốn khơng dùng
tiền mặt và sử dụng các dịch vụ ngân hàng đã khá quen thuộc, nhưng ở những nước
đang phát triển như Việt Nam, người dân có thói quen giữ tiền hoặc tích trữ dưới dạng
vàng, ngoại tệ mạnh … làm cho lượng vốn được thu hút vào ngân hàng còn hạn chế.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
Mơi trường dân cư thể hiện qua các số liệu như số lượng dân cư, phân bố địa lí ,
mật độ dân số, độ tuổi trung bình,…là các yếu tố rất đáng quan tâm đối với các NHTM
nhằm xác định cơ cấu nhu cầu ở từng thời kỳ và dự đốn biến động trong tương lai.
Sự phát triển của cơng nghệ ngân hàng và các dịch vụ như máy rút tiền tự động
ATM, thẻ tín dụng, hệ thống thanh tốn điện tử,… ngày càng tiện lợi, hồn hảo sẽ giúp
cho người gửi tiền, phương thức thanh tốn khơng dùng tiền mặt được sử dụng phổ
biến hơn, qua đó cung cấp một lượng vốn đáng kể cho ngân hàng.
Trên cơ sở phân tích các yếu tố trên, ngân hàng lượng định quy mơ các khoản
tiền gửi và biến dạng của chúng để đề ra các chính sách sử dụng vốn hợp lý.
1.4 Phân tích và kiểm sốt chi phí huy động vốn
1.4.1 Phân tích nguồn vốn huy động
Huy động vốn của NHTM là hoạt động thu hút tiền gửi và tiền vay trên thị trường
1 (thị trường các TCKT, TCKT-XH và cá nhân) và thị trường 2 (thị trường các TCTD)
dưới các hình thức tiền gửi giao dịch, tiền gửi kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ
có giá… Trong nguồn vốn huy động đó có một số thành phần khơng ổn định, khả năng
giao dịch cao và tỷ lệ lãi suất thấp; một số khác hạn chế khả năng phát hành séc, ổn định
hơn và lãi suất cao hơn; nguồn vốn có kỳ hạn dài và xác định trước phải trả lãi suất cao
nhất. Trên thực tế, khách hàng ln có những phản ứng khác nhau với sự thay đổi của lãi
suất và chất lượng dịch vụ do ngân hàng cùng cấp.
1.4.1.1 Phân tích cơ cấu nguồn vốn của NHTM

Một trong những ngun tắc cơ bản khi tiến hành phân tích cơ cấu vốn và
nguồn vốn huy động là phải sắp xếp, phân loại tài sản Nợ và tài sản Có của ngân hàng
thành các mục lớn sau:




THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
BÁO CÁO CÂN ĐỐI KẾ TĨAN


STT CHỈ TIÊU
NAM
NAY
NAM
TRUOC
A TÀI SẢN CĨ

I
Tiền mặt,chứng từ có giá trị, kim loại q, đá q
II
Tien gui tai NHNN
III
Tiền gửi tại các TCTD khác
IV
Cho vay các TCTD khác
VI
Cho vay các TCKT, cá nhân trong nước
VIII
Các khoản đầu tư
IX
Tài sản khác
XI
Tài sản Có khác
TỔNG CỘNG TÀI SẢN CĨ

B TÀI SẢN NỢ

I
Tiền gửi của KBNN và TCTD khác
II
Vay NHNN, TCTD khác
III
Tieền gửi của TCKT, dân cư
IV
Vốn tài trợ, đầu tư uỷ thác mà ngân hàng chịu rủi ro
VI
Phat hanh giay to co gia
VII
Cac khoan no khac
VIII
Von va cac quy
TỔNG CỘNG TÀI SẢN NỢ

Cơ sở của cách phân tổ này là tính chất thị trường, kỳ hạn của đồng vốn và đối
tượng sở hữu vốn. Với cách phân tổ này, người phân tích có thể theo dõi diễn biến của
từng loại nguồn vốn và tài sản, kịp thời nhận diện được những thuận lợi hoặc khó khăn
để có những biện pháp xử lý phù hợp. Cơ cấu này còn thể hiện thế mạnh và chiến lược
vốn của ngân hàng.
Chỉ số cơ bản phục vụ cho việc nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn là:
Tỷ trọng từng loại Số dư của từng loại nguồn vốn x 100% (CT 1)
nguồn vốn Tổng nguồn vốn
Chỉ số này giúp các nhà phân tích biết được tỷ trọng của từng loại nguồn vốn
trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, phân tích quy mơ và tốc độ tăng trưởng của từng
loại nguồn vốn, qua đó có thể nhận xét đúng đắn về mặt mạnh, mặt yếu của ngân hàng
để hoạch định được các chiến lược kinh doanh phù hợp trong tương lai.

=
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
1.4.1.2

Phân tích tình hình huy động vốn của NHTM

Khác với các doanh nghiệp khác, NHTM kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn
huy động từ các thành phần kinh tế, do vậy phân tích tình hình huy động vốn của ngân
hàng là vấn đề được quan tâm hàng đầu khi quan sát tài sản Nợ của NHTM. Chỉ số có
thể sử dụng để phân tích tình hình huy động vốn của NHTM là:

Tỷ trọng từng loại Số dư của từng loại tiền gửi x 100% (CT 2)
trên tổng vốn huy động Tổng vốn huy động
Chỉ số này giúp các nhà phân tích xác định kết cấu của nguồn vốn huy động để
phát hiện điểm mạnh, điểm yếu của ngân hàng trong kinh doanh. Nếu ngân hàng có tỷ
trọng tiền gửi có kỳ hạn cao, ngân hàng sẽ thuận tiện trong việc tạo ra lợi nhuận. Nếu
ngân hàng có tiền gửi với lãi suất cao chiếm tỷ trọng lớn sẽ gặp nhiếu khó khăn trong
việc giải quyết đầu ra của nguồn vốn. Chỉ số này còn giúp các nhà phân tích xác định
lãi suất bình qn đầu vào của các NHTM:
Lãi suất bình qn (Số dư tiền gửi loại i x lãi suất tiền gửi loại i)
đầu vào Tổng số vốn huy động
hoặc
Lãi suất bình qn đầu vào (Tỷ trọng tiền gửi loại i x lãi suất tiền gửi loại i)
1.4.2
Kiểm sốt chi phí huy động vốn
1.4.2.1 Xác định chi phí nguồn vốn
Trong mơi trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay, NHTM cần phải biết mỗi
khoản mục chi phí bao gồm những gì. Điều này đặc biệt đúng đối với huy động vốn
bởi vì đối với hầu hết các ngân hàng và TCTD, chi phí trả lãi tiền gửi cho nguồn vốn là
cao nhất trên cả chi phí nhân lực, chi phí quản lý và các khoản chi phí nghiệp vụ khác.
Do vậy, muốn tăng thu nhập thì việc hạ thấp chi phí huy động vốn là một việc cần
thiết, thuờng xun của các NHTM. Tuy nhiên việc hạ thấp chi phí trả lãi là một vấn đề
nan giải vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức cung tiền gửi, khả năng cạnh tranh
=

=
Σ

=
Σ

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
của ngân hàng, lãi suất cho vay và sự chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền
vay.
Tìm ra phương pháp xác định chi phí huy động vốn thích hợp rất hữu ích cho
ngân hàng để xây dựng một chính sách kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt là chiến lược
quản trị tài sản nợ của ngân hàng.
Có 3 phương pháp xác định chi phí huy động vốn thường được các ngân hàng
áp dụng phổ biến là: chi phí q khứ bình qn; chi phí vốn biên tế (cận biên) và chi
phí huy động hỗn hợp. Mỗi phương pháp đều có một ý nghĩa nhất định tùy theo mục
đích sử dụng của số liệu về chi phí huy động vốn tính tốn được.
Phương pháp chi phí vốn bình qn
Đây là phương pháp thơng dụng nhất để tính chi phí huy động vốn của NHTM.
Phương pháp này chú trọng vào cơ cấu hỗn hợp các nguồn vốn mà ngân hàng đã huy
động trong q khứ và xem xét mức lãi suất mà thị trường đòi hỏi ngân hàng phải trả cho
mỗi nguồn vốn huy động.
Tổng chi phí trả lãi

Chi phí trả lãi bình qn =
Tổng nguồn vốn huy động
bình qn

Việc tính tốn như trên là chưa hồn chỉnh, vì nó chỉ dừng lại ở mức độ xem xét
giá vốn của nguồn vốn, nhiều chi phí khác có liên quan đến huy động vốn vẫn chưa
được đề cập như:
Chi phí phi lãi: chi phí phi lãi bao gồm tiền lương và chi phí quản lý gián tiếp,
mức dự trữ bắt buộc theo qui định, phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí dự phòng rủi ro tín
dụng. Như vậy, tỷ suất sinh lợi tối thiểu để bù đắp chi phí (tỷ suất thu nhập hồ vốn)
được tính như sau:

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét