Chơng I Tổng quan về các loại hình thanh toán bằng thẻ
Phơng thức thanh toán bằng thẻ có thể xem nh một hình thái phát triển cao của tiền tệ.
Sự ra đời của thẻ thanh toán là một điều tất yếu trong nền kinh tế thị trờng, khi mà
những phơng thức thanh toán truyền thống không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán trong
một xã hội tiêu dùng ngày càng phát triển, khi mà nhu cầu tín dụng giữa các chủ thể
trong nền kinh tế thị trờng ngày một tăng cao và những ứng dụng khoa học công nghệ
trong nghành ngân hàng đã đạt đến một trình độ phát triển nhất định.
Trớc hết, chúng ta hãy quay lại quá trình phát triển của các phơng thức thanh toán
truyền thống, bắt đầu từ tiền giấy.
a) Tiền giấy
Tiền giấy ra đời nh một phơng tiện thanh toán nối tiếp các phơng tiện cổ xa hơn là các
vật phẩm trao đổi và tiền kim loại. Tiền giấy xuất hiện đầu tiên dới dạng các chứng
nhận có khả năng đổi ra vàng hay bạc do các ngân hàng phát hành. Đây là những cam
kết cho phép ngời nắm giữ giấy này có thể đến ngân hàng rút ra số lợng vàng bạc ghi
trên giấy. Nhng chẳng bao lâu tiền giấy bị mất khả năng chuyển đổi ra vàng làm giảm
giá trị của đồng tiền. Ngày nay tiền giấy là các giấy nợ của ngân hàng trung ơng các n-
ớc với những ngời mang nó, nó không có khả năng chuyển đổi ra vàng hoặc bạc đợc.
Do tiền giấy đã tiến triển thành một thoả ớc pháp lý nên các nớc có thể thay đổi đồng
tiền của họ nh ý muốn. Đồng tiền giấy có u điểm là nhẹ hơn nhiều so với tiền kim loại,
tuy nhiên tiền giấy rất dễ bị đánh cắp và tốn kém khi chuyên chở do cồng kềnh. Hơn
thế nữa tiền giấy lại không bền, chi phí cho lu thông lớn, khi trao đổi hàng hoá trên
phạm vi rộng (chẳng hạn giữa các quốc gia) đòi hỏi tốc độ thanh toán nhanh thì tiền
giấy không đáp ứng đợc yêu cầu đó. Do vậy một công cụ thanh toán tiện lợi hơn đã ra
đời là séc (check).
b) Séc
Séc là một kiểu giấy nợ có thể thanh toán theo yêu cầu, cho phép tiến hành giao dịch
mà không phải sử dụng tiền mặt. Việc đa séc vào sử dụng là bớc tiến quan trọng khắc
phục đợc những nhợc điển của công cụ thanh toán trớc đó. Các giao dịch thanh toán bù
trừ lẫn nhau, rõ ràng sử dụng séc trong thanh toán đã làm giảm khối lợng tiền mặt
trong lu thông, đồng thời cũng giảm đuợc chi phí vận chuyển tiền và tăng hiệu quả
kinh tế xã hội. Một lợi ích khác của séc là chúng có thể viết ra với bất cứ lợng tiền nào
5
Chơng I Tổng quan về các loại hình thanh toán bằng thẻ
cho đến hết số d tài khoản khiến cho giao dịch thanh toán những món tiền lớn trở nên
thuận tiện hơn.
Tuy vậy, sử dụng séc trong thanh toán, bên cạnh những u điểm nh trên, thì séc cũng có
những nhợc điểm của nó. Thứ nhất, việc thanh toán bằng séc đòi hỏi một khoảng thời
gian nhất định, đó là thời gian cần thiết để chuyển séc từ nơi này sang nơi khác. Bên
cạnh đó khách hàng còn phải chờ đợi để ngân hàng kiểm tra tính hợp lệ của séc.
Những điều này có ảnh hởng lớn đến khách hàng khi họ đang có nhu cầu thanh toán
nhanh, Thứ hai, việc xử lý các chứng từ thanh toán bằng séc và chi phí cho việc này
ngày càng tăng gây tốn kém cho xã hội. Ngời ta ớc tính rằng số tiền chi phí cho toàn
bộ số séc viết ra ở Mỹ vợt quá 5 tỉ USD mỗi năm.
c) Tiền điện tử
Với sự phát triển tiến bộ của công nghệ thông tin những năm gần đây đã cho phép
ngân hàng thay thế phơng thức thanh toán truyền thống sử dụng các chứng từ giấy
bằng hình thức thanh toán điện tử (electronic means of payment). Khi chuyển sang ph-
ơng thức thanh toán điện tử, tiền trong các tài khoản tiền gửi ở ngân hàng đợc lu trữ
trong hệ thống các máy tính của ngân hàng dới hình thức điện tử (số hoá). Đồng tiền
trong hệ thống nh vậy gọi là tiền điện tử. Thẻ thanh toán chính là một bộ phận của tiền
điện tử. Thẻ thanh toán có nhiều tính u việt hơn so với séc. Đó là tốc độ chuyển tiền
tăng lên rất nhanh vì đợc chuyển khoản đợc thực hiện trên mạng trực tuyến . Bên cạnh
đó, thẻ thanh toán còn giảm bớt đợc chi phí về giấy tờ so với lu thông séc do hầu hết
các hoạt động đựợc thực hiện và lu trữ trên máy tính.
Một nguyên nhân khác dẫn đến sự ra đời của loại hình thanh toán bằng thẻ chính là
nhu cầu tín dụng ngày càng gia tăng giữa các chủ thể trong nền kinh tế thị trờng.
Sự cạnh tranh quyết liệt của nền kinh tế thị trờng đã buộc các nhà sản xuất kinh doanh,
ngoài việc nâng cao chất lợng sản phẩm để thu hút khách hàng, phải chấp nhận việc
thanh toán chậm trả, bán hàng ghi sổ, thu tiền sau một thời gian đã thoả thuận. Tuy
nhiên, nền kinh tế càng phát triển thì đời sống nhân dân càng đợc nâng cao, kéo theo
nhu cầu mua sắm tiêu dùng . Do vậy, hình thức cấp tín dụng cho khách hàng này
không phải bao giờ cũng đáp ứng đủ nhu cầu của xã hội, và không phải bao giờ cũng
phù hợp với năng lực của bản thân các nhà kinh doanh, nhất là đối với rất nhiều nhà
6
Chơng I Tổng quan về các loại hình thanh toán bằng thẻ
kinh doanh nhỏ. Khoảng trống này chính là một cơ hội tốt để các tổ chức tài chính
nhập cuộc, và đó cũng chính là lý do dẫn đến sự ra đời của thẻ thanh toán, công cụ giải
quyết đợc các vấn đề đặt ra ở trên.
Thẻ thanh toán là một trong những công cụ thanh toán an toàn, tiện dụng nhất hiện
nay. Chính nền kinh tế thị trờng đã tạo ra công cụ thẻ thanh toán, đến lợt nó, thẻ thanh
toán lại là tác nhân đã và đang thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trờng.
4.2. Sự ra đời và phát triển của các loại hình thẻ thanh toán
a) Sự ra đời của thẻ thanh toán
Thẻ xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới là ở Mỹ, vào năm 1914. Khi đó, Tổng Công ty
Xăng dầu California (nay là công ty Mobil) cấp thẻ cho nhân viên và một số khách
hàng của mình, vì họ thấy cách sử dụng này rất tiện dụng trong việc thanh toán. Nhng
thẻ lúc này mới chỉ khuyến khích việc bán sản phẩm của công ty chứ không kèm theo
một dự phòng nào về việc gia hạn tín dụng.
Năm 1949, từ một lý do rất tình cờ là quên đem theo tiền mặt khi đi ăn tối ở một nhà
hàng, một doanh nhân ngời Mỹ tên là Frank McNamara đã chợt nảy ra một ý tởng về
một phơng tiện thanh toán thay thế cho tiền mặt, có thể sử dụng mọi lúc, mọi nơi. Năm
1950, Frank McNamara cùng một doanh nhân ngời Mỹ khác, Palph Schneider, đã
đồng sáng lập ra thẻ tín dụng đầu tên với tên gọi Diners Club. Sau đó, hai ông đã cung
cấp cho các bạn bè và đồng nghiệp của mình thẻ Diners Club mà với tấm thẻ này, họ
có thể ghi nợ sau khi ăn, hay nghỉ tại một nhà hàng, khách sạn nào đó tại New York
mà không cần trực tiếp đem theo tiền mặt. Số tiền ghi nợ họ có thể thanh toán định kì
theo tháng mà không hề giới hạn số tiền đợc phép chi tiêu. Từ đó thẻ thanh toán bắt
đầu bớc vào giai đoạn phát triển của mình.
Thẻ thanh toán ra đời không những đáp ứng đợc cả hai mục tiêu của tiền tệ mà còn thể
hiện đợc tính văn minh, hiện đại của thời kỳ hiện đại hoá, toàn cầu hoá. Hiện nay, trên
thế giới, thẻ đợc xem nh một công cụ thanh toán hiện đại, văn minh, thuận tiện đặc biệt
là ở các nớc phát triển.
b) Sự phát triển của các loại hình thẻ thanh toán
7
Chơng I Tổng quan về các loại hình thanh toán bằng thẻ
Có rất nhiều loại thẻ đã và đang đợc sử dụng trên thế giới , song có 5 loại thẻ thanh
toán sau đợc coi là tiêu biểu hơn cả :
Thẻ Dinners Club: là loại thẻ đợc phát hành bởi một tổ chức du lịch và giải trí tại Mỹ.
Vào năm 1960, có 1,5 triệu thẻ trên toàn thế giới với doanh số 7,9 tỷ USD.
Thẻ American Express (AMEX): năm 1958, Tổ chức American Express phát hành thẻ
Green AMEX, không có hạn mức tín dụng. Chủ thẻ đợc chi xài và có trách nhiệm trả
một lần vào cuối tháng. Năm 1987, AMEX cho ra đời thêm 3 loại thẻ AMEX Gold,
AMEX Platinum và AMEX Optima có hạn mức tín dụng tuần hoàn để cạnh tranh với
thẻ VISA và thẻ MasterCard. Hiện nay, đây là tổ chức thẻ du lịch và giải trí lớn nhất
thế giới. Tổ chức này tự phát hành trực tiếp và quản lý chủ thẻ, không cấp giấy phép để
trở thành thành viên cho các công ty tài chính, ngân hàng. Vào năm 1993, có 35,4 triệu
thẻ và 3,6 triệu cơ sở chấp nhận thẻ thanh toán AMEX trên toàn thế giới với doanh số
124 tỷ USD.
Thẻ VISA: năm 1960, Bank of American phát hành thẻ Bank Americard. Năm 1977,
thẻ Bank Americard trở thành thẻ VISA. Tổ chức thẻ VISA quốc tế cũng chính thức
hình thành và phát triển. Cho đến nay, có thể nói thẻ VISA là loại thẻ có qui mô phát
triển lớn nhất thế giới. Tổ chức quốc tế VISA không trực tiếp phát hành mà giao lại cho
các thành viên. Hiện nay có 22.000 thành viên tại hơn 200 nớc, đã phát hành 500 triệu
thẻ, có 13 triệu cơ sở chấp nhận thẻ, 320.000 máy rút tiền mặt, doanh số giao dịch
hàng năm 800 tỷ USD.
Thẻ JCB: xuất phát từ Nhật vào năm 1961 bởi Ngân hàng Sanwa. Năm 1981, JCB đã
bắt đầu phát triển thành tổ chức thẻ quốc tế, mục tiêu chủ yếu là hớng vào thị trờng
giải trí và du lịch. Vào năm 1992 , JCB đã phát hành đợc 27,5 triệu thẻ; có 2,9 triệu cơ
sở chấp nhận thẻ và 160.000 máy ATM ở 139 nớc với doanh thu 30,9 tỷ USD .
Thẻ MasterCard: Năm 1966, 14 ngân hàng thơng mại Mỹ liên kết với nhau (khác với
hệ thống Bank of American) thành lập Hiệp hội Thẻ Liên ngân hàng gọi tắt là ICA
(Interbank Card Association). Năm 1967, 4 Ngân hàng California đổi tên thành
Western States Bank Card Association (WSBA) chính thức phát hành thẻ
MasterCharge. Tổ chức WSBA cũng cấp phép cho tổ chức Interbank sử dụng tên và th-
ơng hiệu MasterCharge. Năm 1979, MasterCharge đã đổi tên thành MasterCard, và trở
8
Chơng I Tổng quan về các loại hình thanh toán bằng thẻ
thành tổ chức thẻ thanh toán quốc tế lớn thứ hai trên thế giới sau Tổ chức VISA. Hiện
nay MasterCard đã có 22.000 thành viên tại hơn 200 nớc, phát hành 350 triệu thẻ, có
12 triệu cơ sở chấp nhận thẻ, 200.000 máy rút tiền ATM, doanh số giao dịch hàng năm
khoảng 460 tỷ USD .
Hiện nay, trên toàn thế giới, một năm doanh số thanh toán thẻ lên tới hơn 3 nghìn tỉ
USD, số thẻ phát hành khoảng 2 tỉ thẻ với hơn 36 tỉ giao dịch đợc thực hiện bằng thẻ.
Với hơn 20 triệu đơn vị kinh doanh hàng hoá dịch vụ chấp nhận thanh toán thẻ trên
toàn cầu, dịch vụ kinh doanh thẻ là một mảng phát triển nhanh và nhiều tiềm năng của
thị trờng tài chính.
Do kinh doanh thẻ là một lĩnh vực đem lại nhiều lợi nhuận, tình hình cạnh tranh giữa
các tổ chức thẻ diễn ra hết sức quyết liệt. Hiện nay VISA là tổ chức đứng đầu thị trờng
với khoảng 50% thị phần phát hành và hơn 45% thị phần thanh toán, kế đến là
MasterCard với 30% thị phần phát hành và 25% thị phần thanh toán. Ba tổ chức thẻ lớn
liền tiếp theo là AMEX, Diners Club, JCB cùng chiếm khoảng hơn 20% thị phần phát
hành và 30% thị phần thanh toán.
Trong các loại thẻ thanh toán, thẻ ghi nợ là loại thẻ ra đời muộn hơn cả nhng lại có tốc
độ tăng trởng nhanh nhất hiện nay, và theo dự báo, tốc độ tăng trởng mạnh vẫn sẽ còn
tiếp tục trong vòng một thập niên tới. Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn về loại
hình thẻ thanh toán này.
II. Hoạt động phát hành và thanh toán bằng thẻ ghi nợ qua ngân hàng thơng mại
1. Khái niệm thẻ ghi nợ
Thẻ ghi nợ (debit card/check card) là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài
khoản tiền gửi tại ngân hàng của chủ thẻ. Thờng thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng
vì nó phụ thuộc vào số d hiện hữu trên tài khoản tiền gửi của chủ thẻ. Chủ thẻ chỉ đợc
chi tiêu trong phạm vi số d trên tài khoản ngân hàng. Số d trên tài khoản này sẽ bị khấu
trừ khi chủ thẻ rút tiền mặt hay thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các ATM, hay tại các
điểm chấp nhận thẻ. (Nguồn: A Guide to ATM and Debit Card Industry, 2003)
Thẻ ghi nợ có hai loại cơ bản:
9
Chơng I Tổng quan về các loại hình thanh toán bằng thẻ
Thẻ on-line (còn gọi là direct debit card): là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch đợc
khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản tiền gửi của chủ thẻ.
Thẻ off-line (còn gọi là deferred debit card): là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch sẽ
đợc khấu trừ vào tài khoản tiền gửi của chủ thẻ sau đó vài ngày.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa thẻ ghi nợ và thẻ rút tiền mặt là ở chức năng ghi nợ tại
các điểm chấp nhận thẻ. Cả 2 loại thẻ này đều liên kết với tài khoản tiền gửi của chủ
thẻ ở ngân hàng, tuy nhiên, nếu nh thẻ rút tiền mặt chỉ thực hiện đợc một số chức năng
trên máy ATM và quầy giao dịch, thì thẻ ghi nợ không chỉ dừng lại ở đó, nó còn cho
phép khách hàng có thể ghi nợ online hoặc offline tại các điểm chấp nhận thẻ.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa thẻ ghi nợ với thẻ tín dụng là ở tính chất tín dụng. Đối với
thẻ tín dụng, khách hàng chi tiêu theo hạn mức tín dụng (credit limit) do ngân hàng
cấp; còn với thẻ ghi nợ, khách hàng chi tiêu trực tiếp trên tài khoản tiền gửi của mình
tại ngân hàng. Do đó, việc chuyển đổi từ thẻ này sang thẻ khác là không thể thực hiện,
nhng khách hàng có thể sử dụng nguồn tiền trên tài khoản tiền gửi để trả cho những chi
tiêu từ thẻ tín dụng của mình.
Ngoài ra, thẻ ghi nợ khác biệt với thẻ tín dụng ở chi phí sử dụng. Chủ thẻ tín dụng,
ngoài việc phải trả chi phí lãi suất cho các khoản tín dụng quá hạn, phải chịu các khoản
chi phí khác cho việc sử dụng thẻ của mình cao rất nhiều lần so với những khoản chi
phí mà chủ thẻ ghi nợ phải chịu.
2. Các chủ thể tham gia phát hành và thanh toán thẻ ghi nợ quốc tế
2.1. Tổ chức thanh toán thẻ ghi nợ quốc tế (Debit Card Association )
Là tổ chức đứng ra liên kết với các thành viên, đặt ra qui định bắt buộc các thành viên
phải áp dụng và tuân theo thống nhất thành một hệ thống toàn cầu. Bất cứ ngân hàng
nào hiện nay hoạt động trong lĩnh vực thẻ ghi nợ quốc tế đều phải gia nhập vào một tổ
chức thẻ ghi nợ quốc tế .
2.2. Ngân hàng phát hành thẻ (Issuing bank)
Là thành viên chính thức của tổ chức thẻ. Ngân hàng phát hành thẻ có trách nhiệm tiếp
nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản tiền gửi của
chủ thẻ, đồng thời chịu trách nhiệm việc thanh toán thẻ đó.
10
Chơng I Tổng quan về các loại hình thanh toán bằng thẻ
2.3. Ngân hàng thanh toán thẻ (Acquiring bank)
Còn gọi là ngân hàng đại lý, là thành viên của tổ chức thẻ thực hiện dịch vụ thanh toán
thẻ, có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với
các cơ sở chấp nhận thẻ để tiếp nhận và xử lý các giao dịch về thẻ tại cơ sở chấp nhận
thẻ, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho cơ sở chấp nhận thẻ
2.4. Chủ thẻ (Cardholder)
Là ngời có tên trên thẻ do ngân hàng phát hành thẻ cấp thẻ và đợc quyền sử dụng thẻ.
Chủ thẻ có thể là một cá nhân riêng lẻ, hoặc cá nhân đại diện cho một công ty hay tổ
chức nào đó có nhu cầu sử dụng thẻ. Chỉ có chủ thẻ mới có thể sử dụng thẻ của mình.
Một chủ thẻ có thể yêu cầu cấp thêm cho ngời thân một thẻ phụ và một chủ thẻ có thể
sở hữu một hoặc nhiều thẻ.
2.5. Cơ sở chấp nhận thẻ (Merchant/POS)
Là đơn vị bán hàng hoá, dịch vụ, hoặc ứng tiền mặt, có ký hợp đồng với ngân hàng
thanh toán thẻ để chấp nhận thanh toán thẻ. Các đơn vị này đợc ngân hàng thanh toán
trang bị máy móc kỹ thuật để tiếp nhận thẻ thanh toán thay tiền mặt, và thông thờng cơ
sở chấp nhận thẻ phải trả một khoản phí về việc sử dụng những tiện ích này.
3. Quy trình phát hành thẻ ghi nợ quốc tế
Quy trình phát hành thẻ ghi nợ khá đơn giản, bao gồm các bớc sau :
Bớc 1: Khách hàng đến ngân hàng phát hành nộp hồ sơ xin đợc cấp thẻ
Bớc 2: Khi nhận đủ hồ sơ, ngân hàng tiến hành thẩm định lại. Thông thờng ngân hàng
xem xét lại xem hồ sơ lập đúng cha, tình hình số d trong tài khoản tiền gửi của khách
hàng. Nếu khách hàng cha có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng phát hành thì ngân hàng
phát hành yêu cầu khách hàng mở một tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, và nạp vào tài
khoản đó một số tiền nhất định.
Bớc 3 : Sau khi kiểm tra mọi thủ tục, ngân hàng tiến hành có thể tiến hành phân loại
khách hàng và xác định các hạng thẻ (nếu có).
11
Chơng I Tổng quan về các loại hình thanh toán bằng thẻ
Bớc 4 : Sau khi thẩm định và phân loại khách hàng, nếu khách hàng đáp ứng đủ điều
kiện, ngân hàng tiến hành phát thẻ cho khách hàng. Trớc khi giao thẻ, ngân hàng yêu
cầu chủ thẻ ký tên và đăng ký chữ ký mẫu ở ngân hàng. Sau đó bằng kỹ thuật riêng,
từng ngân hàng tiến hành ghi những thông tin cần thiết về chủ thẻ lên thẻ, đồng thời
cấp một mã số cá nhân (PIN) cho chủ thẻ, nhập dữ liệu về chủ thẻ vào tập tin quản lý.
Bớc 5 : Khi ngân hàng giao thẻ cho khách hàng thì giao luôn số PIN và yêu cầu chủ thẻ
giữ bí mật . Nếu mất tiền do để lộ số PIN, chủ thẻ hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sau khi giao thẻ cho khách hàng coi nh nhiệm vụ phát hành thẻ kết thúc. Thời gian kể
từ khi khách hàng đề nghị mua thẻ đến khi nhận đợc thẻ thờng không quá 6 ngày.
4. Quy trình thanh toán thẻ ghi nợ quốc tế
Nếu nh thẻ tín dụng chỉ có một phơng thức thanh toán là offline thì thẻ ghi nợ lại có 2
phơng thức thanh toán : online và offline.
4.1. Thanh toán online
Thanh toán online là thanh toán đợc thực hiện qua hệ thống giao dịch trực tuyến đợc
thực hiện qua mạng thanh toán điện tử EFT (EFT Network). Đây là hệ thống thông tin
và thanh toán kết nối giữa khách hàng, máy ATM, cơ sở chấp nhận thẻ, và ngân hàng,
bao gồm các bộ phận nhỏ: ATM, thiết bị đầu cuối POS, các thiết bị liên lạc thông tin
giữa các chủ thể, các máy điện toán để lu giữ và xử lý thông tin. Có 2 đặc điểm để
phân biệt một EFT là: giao dịch dựa trên mã số PIN (PIN-based), và ghi nợ trực tiếp
lên tài khoản tiền gửi (online).
Quy trình thanh toán thẻ ghi nợ quốc tế online đợc giới thiệu ở đây là quy trình thanh
toán phổ biến nhất hiện nay, giữa các giao dịch có cùng chung duy nhất một hệ thống
kết nối quốc tế online (network on-us transactions), hay cùng chung một EFT.
Trớc khi nghiên cứu quy trình thanh toán thẻ ghi nợ quốc tế, ta hãy khảo sát cấu trúc
cấp bậc (hierachical structure) của mạng lới kết nối quốc tế giữa các tổ chức tài chính
(financial institutions).
a) Mạng lới kết nối quốc tế các tổ chức tài chính
Mạng lới kết nối quốc tế các tổ chức tài chính (Hình 2) gồm các thành phần :
12
H
ệ
t
h
ố
n
g
k
ế
t
n
ố
i
O
n
l
i
n
e
n
g
â
n
h
à
n
g
b
ù
t
r
ừ
h
ệ
t
h
ố
n
g
b
ộ
x
ử
l
ý
2
b
ộ
x
ử
l
ý
1
b
ộ
x
ử
l
ý
n
t
r
u
n
g
t
â
m
b
ù
t
r
ừ
n
g
â
n
h
à
n
g
2
n
g
â
n
h
à
n
g
1
n
g
â
n
h
à
n
g
n
c
a
r
d
n
p
o
s
1
c
a
r
d
1
p
o
s
n
hình 2: mạng lới kết nối quốc tế các tổ chức tài chính
Chơng I Tổng quan về các loại hình thanh toán bằng thẻ
- Hệ thống kết nối online (Online Debit Network)
- Ngân hàng bù trừ của Hệ thống kết nối online (Networks Clearing Bank)
- Các bộ xử lý của các ngân hàng (Banks processors)
- Các trung tâm bù trừ của các bộ xử lý (Processors Clearing Centers)
- Các ngân hàng
- Các cơ sở chấp nhận thẻ (POS 1 POS N) và các chủ thẻ (CARD 1 CARD N)
Trong mạng lới kết nối các tổ chức tài chính quốc tế, cấp cao nhất là Hệ thống kết nối
online. Hệ thống này nhận và xử lý các thông tin giao dịch từ các bộ xử lý, rồi chuyển
các thông tin đó trở lại các bộ xử lý hoặc tới Ngân hàng bù trừ của Hệ thống. Bộ xử lý
là cấp cao thứ hai, mỗi bộ xử lý có một trung tâm bù trừ riêng, và quản lý cấp thứ ba là
các ngân hàng. Bộ xử lý có chức năng nhận và gửi thông tin giữa các ngân hàng với
nhau, giữa các ngân hàng với Hệ thống, giữa các ngân hàng với trung tâm bù trừ của
bộ xử lý. Cấp dới cùng là các cơ sở chấp nhận thẻ (POS 1 POS N), và các chủ thẻ
(CARD 1 CARD N) có tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng.
13
hệ thống kết nối online
bộ xử lý ngân hàng b
pos a
bộ xử lý ngân hàng a
card b
ngân hàng b
10. Nhận hàng
8. Chấp nhận
1. PIN
3. Tín hiệu 4. Tín hiệu
5. Tín hiệu9. Chấp nhận
7. Chấp nhận
6. Chấp nhận2. Tín hiệu
hình 3: Quy trình chấp nhận thanh toán online
Chơng I Tổng quan về các loại hình thanh toán bằng thẻ
Quy trình thanh toán online thẻ ghi nợ quốc tế là quá trình trao đổi thông tin, ghi Nợ,
Có giữa các thành phần trên của mạng lới. Toàn bộ quy trình đều đợc xử lý online. Sau
đây chúng ta sẽ khảo sát 2 quy trình cơ bản trong thanh toán online: chấp nhận thanh
toán và thanh toán.
b) Chấp nhận thanh toán (Authorization)
Quy trình chấp nhận thanh toán online đợc mô phỏng qua sơ đồ sau:
(Ngân hàng A: ngân hàng thanh toán; Ngân hàng B: ngân hàng phát hành)
1. Khách hàng nhập số PIN của Thẻ ghi nợ B (Card B) tại điểm ghi nợ POS a.
2. POS A truyền tín hiệu (message) tới bộ xử lý của Ngân hàng A (Bank As
processor).
3. Bộ xử lý của Ngân hàng A chuyển tín hiệu đến hệ thống kết nối online mà cả Ngân
hàng A và Ngân hàng B cùng kết nối (Online Debit Network).
4. Hệ thống kết nối online, sau khi kiểm tra một số thông tin, tiếp tục chuyển tín hiệu
đến bộ xử lý của Ngân hàng B (Bank Bs processor).
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét