Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Đánh giá tình hình triển khai thực hiện thuế GTGT ở Việt Nam

đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
hoặc gần nh đóng do những rào cản thuế quan bất hợp lý. Thuế GTGT ra đời đã phần
nào đáp ứng đợc những yêu cầu trên.
Thứ ba: Tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nớc và có điều kiện thu hẹp các loại
thuế khác. Đa số các cơ chế thuế hiện hành của các nớc khi cha áp dụng thuế GTGT đều
cồng kềnh, phức tạp và có nhiều sự chồng chéo, điều đó gây khó khăn cho việc quản lý
thuế của Nhà nớc (nh tính thuế, thu thuế, giải quyết các trờng hợp quá hạn thuế, miễn
thuế ) cũng nh việc kinh doanh của ngời dân. Tình trạng này dễ dàng gây ra tâm lý ngại
thuế, tránh thuế làm thất thu cho Ngân sách một khoản không nhỏ. Để giải quyết các
vấn đề trên cần phải có một cơ chế thuế mới phù hợp và rõ ràng đối với tất cả mọi ngời,
và thuế GTGT là một giải pháp.
Thứ t: Sự phát triển của kinh tế đòi hỏi sửa đổi hệ thống thuế cho phù hợp. Chúng
ta đã biết rằng mỗi một thời kỳ phát triển kinh tế cần phải có một hệ thống chính sách
quản lý cho phù hợp, không có một cơ chế nào dúng cho mọi lúc mọi nơi. Vấn đề quản
lý thuế cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
(2) Nh vậy thuế GTGT ra đời trớc hết để đáp ứng tình hình mới, sau một thời
gian đợc áp dụng và kiểm nghiệm, thuế GTGT đợc đại đa số các nớc trên thế giới thừa
nhận về những u điểm nổi bật của nó ở các mặt sau:
a. Khắc phục đợc một số mặt hạn chế của thuế doanh thu hiện hành. Có
khả năng mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nớc. Kinh nghiệm của các nớc:
Indonexia, Newzeland, Bồ Đào Nha và Tuinidi đã chứng minh rõ điều này. Đại đa số
các nớc áp dụng thuế GTGT, khoản thu từ số thuế này thờng đảm bảo từ 12% đến 30%
tổng số thu của Ngân sách Nhà nớc (tơng đơng khoảng 5% đến 10% tổng sản phẩm
quốc dân).
b. Tính trung lập: Với điều kiện số lợng đối tợng đợc miễn hạn chế và sự vận
dụng thuế suất 0% chỉ hạn chế đối với hoạt động xuất khẩu, GTGT là một thứ thuế
trung lập và không dẫn đến bất kỳ một sự méo mó nào. Điều này thể hiện tính u việt của
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
5
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
thuế GTGT so với các loại thuế đợc nó thay thế.
c. Tính đơn giản: Tính đơn giản của thuế GTGT bắt nguồn từ cơ chế đánh
thuế và khấu trừ thuế của nó. Đối tợng nộp thuế GTGT sẽ thu số GTGT khi bán hàng và
khấu trừ số thuế GTGT đã nộp khi mua vật t, hàng hoá đầu vào, số chênh lệch còn lại
nộp vào Ngân sách Nhà nớc. (Việc tính thuế căn cứ vào các hoá đơn bán hàng và mua
hàng).
II. Nội dung chủ yếu của thuế GTGT.
1./ Xác định phạm vi áp dụng.
Về đối tợng chịu thuế: GTGT là loại thuế đánh vào sử dụng, có nghĩa là đánh
vào ngời tiêu dùng, ngời nộp thuế là ngời kinh doanh, ngời chịu thuế là ngời tiêu dùng
trực tiếp và gián tiếp nộp thuế thông qua ngời kinh doanh.
Đối tợng nộp thuế: Tất cả các thể nhân và các pháp nhân có cung cấp hoặc nhập
khẩu hàng hoá và dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Một số nớc dùng doanh thu để giới hạn đối tợng nộp thuế. Ví dụ: Không phải là
đối tợng nộp GTGT, đối với các doanh nghiệp có mức doanh thu hàng năm thấp hơn:
+ 200.000 pê xô (Philipines).
+ 200.000 Sek (Thuỵ Điển).
+ 30.000 Can D (Canada).
+ 100.000 DDK (Đan Mạch).
+ 1.000.000 Sin D (Singapore).
+ 60.000 D (Indonexia).
Có nớc áp dụng hình thức thu khoán đối với đối tợng kinh doanh vừa và nhỏ. Nh
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
6
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
vậy, việc xác định đối tợng nộp thuế là để nhằm giới hạn đối tợng nộp thuế, loại trừ bớt
số lợng lớn về quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ.
Trong giai đoạn chuyển đổi từ thuế doanh thu sang áp dụng GTGT, thờng có ba
hình thức triển khai áp dụng GTGT.
Hình thức thứ nhất: áp dụng GTGT toàn bộ, có nghĩa là áp dụng đối với các đối
tợng nộp thuế hoạt động ở tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, buôn bán và bán lẻ.
Điển hình áp dụng hình thức này là các nớc: Thuỵ Điển, Pháp, Thái Lan, Hungari.
Hình thức thứ hai: áp dụng GTGT từng phần, tức là áp dụng đến từng khâu của
quá trình luân chuyển sản phẩm hàng hoá. Ví dụ: Indonexia, Nhà nớc ban hành đạo luật
từ năm 1983, nhng do trình độ quản lý của cán bộ nghành thuế và nhận thức của ngời
nộp thuế nên đến năm 1985, đạo luật thuế mới đợc thi hành và thực hiện theo từng bớc
nh sau:
+ Năm 1985: Đối tợng nộp thuế là những ngời sản xuất.
+ Năm 1989: Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các đại lý bán buôn.
+ Năm 1993: Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các cửa hàng bán lẻ.
Hình thức thứ ba: Thực hiện thí điểm GTGT đối với một số nghành. Điển hình
áp dụng hình thức này là Trung Quốc. GTGT đợc ban hành và thực hiện thí điểm từ năm
1980 đến 18/9/1994 đợc ban hành chính thức. Bớc thí điểm chỉ áp dụng với các sản
phẩm: xe đạp, quạt điện, kim khí, máy móc thiết bị, phụ tùng, động cơ, thép. Năm 1986
mở rộng diện đối với các sản phẩm công nghiệp nhẹ, vật liệu xây dựng, khoáng sản kim
loại.
Qua tổng kết đánh giá của các nớc, trong ba hình thức tiến hành GTGT, hình thức
toàn bộ là hiệu quả nhất. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị rất đầy
đủ về luật, các văn bản hớng dẫn luật, trình độ hiểu biết của ngời nộp thuế, trình độ
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
7
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
quản lý của từng cơ quan thuế, chứng từ hoá đơn, ý thức chấp hành luật
Hình thức áp dụng GTGT ở từng khâu kết quả bị hạn chế, còn hình thức áp dụng
thí điểm ở phạm vi hẹp, ở một số ngành là không đem lại kết quả.
2./ Các hình thức tính thuế GTGT.
ở các nớc đã thực hiện GTGT hiện nay áp dụng một trong hai phơng pháp khấu
trừ theo hoá đơn và phơng pháp tính chênh lệch theo báo cáo kế toán.
a./ Phơng pháp khấu trừ theo hoá đơn:
Đây là phơng pháp đợc hầu hết các nớc áp dụng do: Tính thuế dựa vào hoá đơn
đảm bảo xác định thuế có cơ sở để kiểm tra thuế. Có thể áp dụng chính sách thuế với
nhiều thuế suất (nếu thu thuế theo chênh lệch chỉ có thể áp dụng một thuế suất). Có thể
tính GTGT thu thuế theo thời gian ấn định một tháng, hai tháng hay một quí.
b./ Phơng pháp thu GTGT trên chênh lệch theo báo cáo kế toán:
Phơng pháp này xác định thuế phải dựa trên số liệu báo cáo kế toán của đơn vị áp
dụng phơng pháp này sẽ có những vấn đề sau:
Thứ nhất: Các xí nghiệp coi GTGT chỉ là thuế bổ xung đánh vào lợi nhuận, còn
các nhân viên của họ thì coi đó là lại thêm một thứ thuế nữa đánh vào quĩ tiền lơng.
Thứ hai: Báo cáo chỉ kêt thúc một lần trong năm, vậy là tất cả các khoản thanh
toán GTGT phải dựa vào kết toán năm.
Thứ ba: Khó kiểm tra thuế phải nộp từng kỳ so với phơng pháp sử dụng hoá đơn
và không có cơ sở để tiến hành các cuộc kiểm tra chéo thuế giữa đơn vị mua và bán.
Mô hình GTGT Nhật Bản đợc sử dụng theo phơng pháp này (1/4/1989): Thu
GTGT trên cơ sở báo cáo kế toán với một thuế suất là 3% và đã quyết định điều chỉnh
lên 5% để thi hành từ tháng 4/1997. Nhật Bản không phát hành hoá đơn áp dụng riêng
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
8
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
đối với thuế GTGT vì các doanh nghiệp phản ứng, theo phơng pháp tính thuế hiện hành
các doanh nghiệp tự tính và nộp thuế. Các doanh nghiệp nhỏ không phải nộp thuế
GTGT.
3. Thuế suất.
Thông thờng, để đạt đợc số thu tơng đơng so với số thu hiện hành của thuế doanh
thu mà nó thay thế, GTGT phải có mức thuế suất cao hơn (thờng là gấp ba lần thuế suất
doanh thu). Vì GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hoá hay sản phẩm qua
mỗi lần luân chuyển hàng hoá (danh mục các nớc áp dụng thuế GTGT và thuế suất
GTGT).
Có hai cơ chế thuế suất đợc áp dụng:
+ Cơ chế một thuế suất (không kể thuế suất 0% áp dụng với xuất khẩu và một số
mặt hàng thiết yếu (nếu có). Trong số 100 nớc thì có 44 nớc áp dụng GTGT với cơ chế
một thuế suất, trong đó Đan Mạch là một nớc có mức thuế suất cao nhất (32%). Nhật,
Singapore la nớc có mức thuế suất thấp nhất (3%).
+ Cơ chế nhiều thuế suất (không kể thuế suất 0%).
Trong số các nớc còn lại áp dụng GTGT với có chế nhiều thuế suất thì số lợng
thuế suất giao động từ 2 đến 5 (trờng hợp Colombia 5 thuế suất). Thuế suất thấp nhât la
1% (Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ), 2% (Nam Triều Tiên) và thuế suất cao nhất là 50% (Senegal),
45% (Trung Quốc), 38% (ý) và 36% (Hy Lạp). Phần lớn các nớc áp dụng cơ chế ba thuế
suất. Chỉ có một số nớc áp dụng 4 và 5 thuế suất: Bỉ- Colombia.
Mô hình thuế suất của khối EC: Qui định ngoài thuế suất 0% áp dụng cho xuất
khẩu, hệ thống thuế suất chỉ gồm 2 thuế suất: Một mức thuế suất thấp nhng không thấp
hơn 5%; Một mức thuế suất cao thờng hơn 15%.
Qui định về thuế suất 0% và miễn thuế: thuế suất 0% đợc áp dụng trong đại đa số
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
9
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
các nớc chủ yếu đối với hoạt động xuất khẩu. Đối tợng áp dụng thuế suất 0% tức là đợc
thoái trả lại số GTGT đã chịu trên hàng đầu vào, biện phấ này đợc đánh giá là hữu hiệu
nhất đối với việc xuất khẩu.
Một số nớc áp dụng thuế suất 0% đối với các mặt hàng và dịch vụ khác nhau nh
Thuỵ Điển (đối với báo chí xuất bản hàng ngày, xang máy bay phản lực), Canada (đối
với lơng thực thực phẩm, các dịch vụ tài chính quốc tế. Đan Mạch
và Trung Quốc không sử dụng thuế suất 0%.
Miễn thuế (không áp dụng) GTGT: Các đối tợng đợc miễn thuế khác với các đối
tợng đợc hởng thuế suất 0% ở chỗ họ không có quyền khấu trừ đầu vào thuế đầu vào đã
nộp. Qui định miễn chịu thuế có thể xuất phát từ nhiều lý do: Về kinh tế, xã hội, về
tránh sự đánh thuế chồng chéo, về kỹ thuật: khó xác định giá trị tăng thêm nh: Các dịch
vụ về tài chính tín dụng, dịch vụ vận tải quốc tế về hàng không, đờng sắt.
Ví dụ : Thuỵ Điển qui định 29 mặt hàng và dịch vụ đợc miễn chịu thuế.
Đan Mạch qui định 14 mặt hàng và dịch vụ đợc miễn chịu thuế.
Đức qui định 5 mặt hàng và dịch vụ đợc miễn chịu thuế.
4./ Quản lý GTGT.
Đăng ký thuế: Các đối tợng nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ đầu tiên là đăng ký
thuế tại cơ quan thuế địa phong nơi đặt cơ quan điều hành thờng trú của mình theo mẫu
thống nhất do cơ quan thuế cung cấp. Một số nớc sử dụng mã số đăng ký thuế cũ (thuế
doanh thu) và thêm vào đuôi của dãy số đăng ký một số bổ xung để chỉ rõ là số đăng ký
GTGT. Riêng Nhật Bản không sử dụng hệ thống mã hoá số đăng ký trong công tác quản
lý GTGT.
Nộp thuế: Đa số các nớc áp dụng GTGT thực hiện nộp thuế theo cơ chế tự kê
khai tính và nộp thuế theo mẫu in sẵn do cơ quan thực hiện cung cấp. Nộp tờ khai và
thanh toán thuế theo định kỳ hàng tháng, quí (tuỳ theo chế độ nộp thuế qui định cho
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
10
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
từng loại đối tợng).
Việc thoái thuế: Phần lớn đợc giao cho cơ quan thu thuế, trong trờng hợp số thuế
đợc khấu trừ lớn (xuất khẩu hàng hoá hoặc mua sắm tài sản giá trị lớn, đối tợng kinh
doanh có quyền kê khai đề nghị cơ quan thuế thoái trả số tiền đã trả khâu trớc. Cơ quan
thuế kiểm tra và thoái trả tiền thuế đã trả ngay một lần hoặc thoái trả dần trong một thời
gian tuỳ theo qui định của từng nớc và khả năng ngân sách mỗi nớc. Theo cách này cơ
quan thuế thờng có một tài khoản thu GTGT và sử dụng nguồn thu để thoái thuế, khoản
còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nớc.
Việc khấu trừ thuế GTGT: Các nớc áp dụng khấu trừ theo hoá đơn đầu vào và cho
khấu trừ toàn bộ số phát sinh từng kỳ, khi tính thuế GTGT phải nộp. Hầu hết các nớc
cho áp dụng khấu trừ thuế đầu vào của tài sản cố định nhằm khuyến khích đầu t, cũng
có nớc không cho áp dụng nh Trung Quốc.
Phần III. Tình hình áp dụng thuế GTGT trên thế
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
11
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
giới và bài học kinh nghiệm từ những nớc đã áp
dụng.
I./ Tình hình áp dụng thuế GTGT ở một số nớc.
1./ Thuỵ Điển: Là một nớc đi đầu trong việc áp dụng thuế GTGT (1969). Trớc
khi thực hiện GTGT, Thuỵ Điển đã thực hiện cơ chế thuế doanh thu với một thuế suất
10% áp dụng chủ yếu đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế. Mục tiêu của sự chuyển đổi
là khuyến khích hàng xuất khẩu và thực hiện hoàn thuế đối với hoạt động xuất khẩu.
Quá trình chuyển đổi thuế ở Thuỵ Điển đợc tiến hành qua hai giai đoạn:
- Mùa xuân năm 1968 Bộ Tài Chính giải trình trớc Quốc hội và các doanh
nghiệp về kế hoạch, nội dung chuyển đổi cơ chế nộp thuế.
- Mùa thu năm 1968 đợc Quốc hội thông qua và ban hành năm 1969 với
những nội dung cơ bản:
Thứ nhất: Các đối tợng nộp thuế doanh thu đều chuyển sang nộp GTGT. Thời kỳ
đó có 160.000 đối tợng nộp thuế doanh thu. Các dịch vụ không phải nộp thuế, 200.000
hộ nông dân năm ngoài cơ chế GTGT.
Thứ hai: áp dụng tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ thuế nộp khâu trớc.
Thứ ba: Thuế suất lúc đầu áp dụng một mức thuế là 10% nh thuế doanh thu nhng
do cơ chế khấu trừ nên làm giảm số thuế GTGT. Để bù đắp nguồn thu, Thuỵ Điển đã
tăng phí bảo hiểm 1% trên tổng quĩ lơng. Trong quá trình thực hiện Thuỵ Điển cũng đã
điều chỉnh thuế suất và bổ sung thêm mức thuế vào.
Thứ t: Đối với những đầu t trang thiết bị, máy móc khi thực hiện GTGT cung đợc
khấu trừ.
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
12
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
Thứ năm: Không qui định cho miễn giảm GTGT vì không thể dùng chính sách
thuế GTGT để trợ cấp.
2./ Philipines: Khi Chính phủ mới ra đời (tháng 12 năm 1986) việc cải cách sửa
đổi hệ thống thuế là việc làm trớc tiên của nớc này. Chơng trình thuế năm 1986 bao
gồm 29 khâu cải cách phải tiến hành và đã đợc soạn thảo. Một trong những cải cách về
cơ cấu đa ra trong chơng trình là ban hành thuế GTGT. Đợc thể chế hoábăng Lệnh số
273, có hiệu lực thi hành từ 1/1/1988. Nh vậy, để ban hành thuế GTGT, Philipines đã
trải qua quá trình nghiên cứu và chuẩn bị.
Ngày 1/1/1988, Philipines bắt đầu thực hiện GTGT. Có thể tóm tắt ở mấy điểm
sau:
- Thuế GTGT đợc xây dựng dể hợp lý hoá hệ thống đánh thuế hàng hoá và
dịch vụ chịu thuế, để đơn giản hoá việc quản lý thuế và làm cho hệ thống thuế
Philipines công băng hơn.
- Thuế GTGT đợc áp dụng trên diện rộng hàng hoá và một số dịch vụ, trên
từng hoạt động bán hay nhập khẩu những hàng hoá dịch vụ đó.
- Thuế suất qui định một mức là 10% đánh trên tổng giá bán hay tổng số
tiền nhận đợc từ bán hàng hoá hay dịch vụ, thay cho thuế doanh thu đối với ngời sản
xuất gồm 4 thuế suất: 0%, 10%, 20%, 30%, thuế trên dịch vụ: 15 thuế suất từ 0% đến
30%. Tuy nhiên, có miễn thuế đối với một số hoạt động kinh doanh đợc áp dụng để
khuyến khích một số hoạt động nh sản xuất nông sản, giảm bớt ảnh hởng đến giá cả
một số mặt hàng nh dầu lửa, và để đơn giản việc quản lý thuế đối với doanh nghiệp nhẹ
và các dịch vụ tài chính.
- Thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.
- áp dụng tính thuế theo phơng pháp khấu trừ và cho khấu trừ đối với tài sản
dùng trong thơng mại hoặc kinh doanh.
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
13
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
Kết quả thu thuế GTGT của Philipines đợc biểu hiện qua ba năm (bảng kèm theo)
đã cho thấy tỉ lệ về số thu VAT so với số thu CP, GDP, GNP đều tăng sau 10 và 20 năm
áp dụng cơ chế thuế mới.
Năm Số thu
từ
VAT
Số thu
từ thuế
Số thu
của CP
GDP GNP % số
thu
VAT/số
thu thuế
% số
thu
VAT/số
thu CP
Số thu
VAT/
GDP
Số thu
VAT/
GNP
1 2 3 4 5 1/2 1/3 1/4 1/5
1988 13 90 113 826 823 14,5 11,8 1,6 1,6
1989 20 122 154 964 961 16,7 13,3 2,1 2,1
1990 12 69 79 527 527 17,1 14,8 2,2 2,2
3./ Trung Quốc: Là nớc có chủ trơng nghiên cứu ban hành thuế GTGT từ năm
1980, sau 4 năm nghiên cứu, ngày 18/9/1984 chính thức ban hành. Trung Quốc đã tiến
hành theo phơng pháp thí điểm. Sau đây đề cập một số nhận xét của chuyên gia thuế
Trung Quốc từ 28/6 đến 12/7/1993 do đồng chí Trần Xuân Thắng - Tổng cục trởng
Tổng cục thống kê dẫn đầu).
Chơng trình thí điểm về thuế GTGT ở Trung Quốc đã gặp nhiều vớng mắc do các
nguyên nhân chủ yếu:
a. Cha chuẩn bị kỹ về chế độ hớng dẫn thực hiện và xử lý các trờng hợp vớng
mắc thực tế.
b. GTGT chỉ thực hiện cho một số sản phẩm ở khâu sản xuất, cha thực hiện ở
khâu lu thông, dịch vụ, vì vậy, trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn vớng mắc,
không xử lý triệt để, chính xác, cha đạt đợc mục đích của GTGT là khắc phục triệt để
thu thuế trùng lặp.
Bên cạnh đó, GTGT của Trung Quốc có quá nhiều thuế suất, mức chênh lệch giữa
các thuế suất cao từ 43% đến 12%. Vì vậy, khi thực hiện khấu trừ thuế phức tạp, căn cứ
không chính xác, gây ra vận dụng tuỳ tiện, không kiểm soát đợc chặt chẽ việc khấu trừ
tiền thuế ở cơ quan cấp dới.
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét