Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu than ở Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Chuyên đề tốt nghiệp
Chương I: Những lý luận cơ bản về hiệu quả xuất khẩu hàng hoá của
doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Chương II: Thực trạng hiệu quả xuất khẩu than ở Tập đoàn Than -
Khoáng sản Việt Nam.
Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu
than ở Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam.
5
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ
XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT
NHẬP KHẨU
1.1.Khái niệm, vai trò và các hình thức xuất khẩu hàng hóa ở doanh
nghiệp
1.1.1.Khái niệm
Xuất khẩu là một quá trình thu doanh lợi bằng cách đưa các sản phẩm
hoặc dịch vụ ra khỏi thị trường trong nước và bán chúng ở các thị trường
nước ngoài khác với thị trường trong nước.
Hoạt động xuất khẩu đã ra đời từ rất lâu và nó chính là phương thức phổ
biến nhất với mức độ rủi ro và chi phí thấp để thâm nhập thị trường quốc tế.
Xuất khẩu thực chất là hoạt động bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho nước
ngoài trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương tiện thanh toán.
1.1.2.Vai trò của xuất khẩu ở doanh nghiệp
Xu hướng hội nhập vào nền kinh tế cùng với sự phát triển của phân công
lao động xã hội và phân công lao động hợp tác quốc tế đã làm cho hoạt động
xuất khẩu ngày càng có ý nghĩa quan trọng.
Ba động cơ chủ yếu để các công ty tham gia kinh doanh quốc tế là:
- Tăng doanh số bán hàng: hầu hết các công ty lớn sử dụng xuất khẩu
như là cách thức để tăng doanh số bán hàng khi thị trường trong nước bão
hoà.
- Đa dạng hoá thị trường đầu ra: thị trường đầu ra được đa dạng nó có
thể ổn định luồng tiền của công ty để thanh toán cho các nhà cung cấp từ các
khách hàng đa dạng hơn. Các công ty có nguồn thu từ nước ngoài đều có thể
đa dạng thị trường bán hàng và luồng tiền của mình.
- Thu được các kinh nghiệm quốc tế: các nhà kinh doanh và nhà quản lý
sẽ thu được nhiều kiến thức qua việc tiến hành kinh doanh quốc tế. Trong
6
Chuyên đề tốt nghiệp
những môi trường văn hoá kinh tế và chính trị khác nhau thì việc sử dụng
xuất khẩu như là một cách thức để có được các kinh nghiệm quốc tế với chi
phí và rủi ro thấp
Xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu về một khoản ngoại tệ phục vụ cho
công tác nhập khẩu. Ngoài ra xuất khẩu còn góp phần tăng tích luỹ vốn, mở
rộng sản xuất tăng thu nhập cho doanh nghiệp nói riêng, nên kinh tế nói
chung.
Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của các doanh nghiệp trong nước sẽ
tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng,
cuộc cạnh tranh này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức lại sản xuất, hình
thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với thị trường quốc tế
Thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp nói riêng, nền kinh tế nói chung
mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới; khai thác có hiệu quả
lợi thế tương đối và tuyệt đối của đất nước từ đó kích thích các ngành kinh tế
phát triển.
1.1.3.Các hình thức xuất khẩu hàng hoá ở doanh nghiệp
1.1.3.1.Xuất khẩu tại chỗ
Là hình thức mà doanh nghiệp xuất khẩu ngay tại chính đất nước mình
để thu ngoại tệ thông qua việc giao hàng bán cho các doanh nghiệp đang hoạt
động trên lãnh thổ Việt Nam theo sự chỉ định của thương nhân nước ngoài;
hoặc bán hàng sang khu chế xuất hoặc các xí nghiệp chế xuất đang hoạt động
trên lãnh thổ Việt Nam.
Ưu điểm của hình thức này là làm tăng kim ngạch xuất khẩu, giảm rủi ro
trong kinh doanh xuất khẩu, giảm được các chi phí trong kinh doanh xuất
khẩu như chi phí vận tải, chi phí bảo hiểm hàng hoá, đồng thời được hưởng
ưu đãi về thuế . Bên cạnh đó, người kinh doanh xuất khẩu cũng không cần am
hiểu kỹ các luật pháp quốc tế cũng như các tập quán thương mại của các nước
khác. Tuy nhiên, hình thức xuất khẩu này cũng có những hạn chế nhất định:
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Thủ tục xuất khẩu khá phức tạp; thời gian xử lý hoàn thuế GTGT quá lâu. Với
các nguyên nhiên vật liệu sản xuất tại chỗ phụ thuộc rất nhiều vào trình độ,
năng lực của nền kinh tế; đây là cuộc cạnh tranh mà thông thường chúng ta bị
thua do giá sản phẩm trong nước thường cao hơn giá nhập khẩu của sản phẩm
đó từ nước ngoài vào; và như vậy không phát huy được thế mạnh của chúng
ta là cung ứng sản phẩm tại chỗ cho các doanh nghiệp FDI.
Do vậy, hình thức xuất khẩu tại chỗ thường được áp dụng tại những
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện xuất khẩu tại chỗ
hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam; thương nhân Việt Nam có
tiềm lực kinh tế mạnh hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác có
nhu cầu nhập khẩu tị chỗ khi mới tiếp cận thị trường.
1.1.3.2.Gia công xuất khẩu
Là một phương thức sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó người đặt gia
công ở nước ngoài cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán
thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước; người nhận gia công trong nước
tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách. Toàn bộ sản
phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công để nhận
tiền công. Đây là hình thức thích hợp với các doanh nghiệp Việt Nam trong
điều kiện vốn đầu tư hạn chế, chưa am hiểu về pháp luật quốc tế, chưa có
thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp nổi tiếng; thông qua hoạt động này để tận
dụng nguồn lao động dồi dào, tận dụng cơ sở nhà xưởng, máy móc, sử dụng
nguyên phụ liệu, vật tư sẵn có trong nước hoặc nhập khẩu từ các nước khác
nhau, sử dụng thương hiệu, kênh phân phối hàng hoá của bên đặt gia công ở
nước ngoài. Bên cạnh đó, rủi ro trong hình thức xuất khẩu này cũng ít hơn vì
đầu vào và đầu ra của quá trình kinh doanh đều do phía đối tác đặt gia công
nước ngoài lo. Và có thể nói, đây là hình thức giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động, thu ngoại tệ.
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm của hình thức gia công hàng hoá
xuất khẩu, có thể thấy rằng, đây là loại hoạt động rất khó kiểm soát đối với cơ
quan nhà nước, bị phụ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài đặt gia công; ngoại
tệ thu được chủ yếu là tiền gia công, mà đơn giá gia công ngày một giảm
trong điều kiện cạnh tranh lớn giữa các đơn vị nhận gia công.
1.1.3.3.Xuất khẩu uỷ thác
Đây là hình thức doanh nghiệp xuất khẩu kinh doanh dịch vụ thương mại
thông qua nhận xuất khẩu hàng hóa cho một doanh nghiệp khác và được
hưởng phí trên việc xuất khẩu đó. Ở khía cạnh nào đó, hình thức này làm tăng
tiềm lực kinh doanh xuất khẩu cho công ty nhận uỷ thác như duy trì khách
hàng, thị trường…đồng thời phát triển hoạt động thương mại dịch vụ, tăng
thu nhập cho doanh nghiệp mà không cần đầu tư nhiều vốn. Nhưng mặt khác,
doanh nghiệp nhận uỷ thác lại phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác, nên tính chủ
động trong tiếp cận thị trường kém (không nắm bắt được nhu cầu của thị
trường, khiến sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, giá xuất khẩu quá thấp so
với giá bán thực tế)và có thể phải liên đới chịu trách nhiệm trong các tranh
chấp thương mại. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp nhận uỷ thác đã bị thiệt hại
không ít khi quá phụ thuộc vào các đối tác trung gian.
1.1.3.4.Xuất khẩu qua đại lý ở nước ngoài
Là hình thức doanh nghiệp có hàng xuất khẩu thuê doanh nghiệp nước
ngoài làm đại lý bán hàng hoá của mình để thu ngoại tệ về. Ưu điểm của hình
thức này là doanh nghiệp không cần đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật cho
hoạt động thương mại ở nước ngoài mà vẫn có thể thâm nhập sâu và rộng
vào thị trường khu vực và thế giới; phát triển thương hiệu và thị phần ở nước
ngoài; chịu ít rủi ro khi thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, nếu
không am hiểu tận tường đối tác nhận đại lý hoặc không ký hợp đồng đại lý
chặt chẽ, dễ bị chiếm dụng vốn (do đối tác không trả) và giải quyết có yếu tố
nước ngoài phức tạp; tốn nhiều chi phí thuê người quản lý có năng lực ở nước
9
Chuyên đề tốt nghiệp
ngoài. Do vậy, hình thức này chỉ nên áp dụng với các công ty có thương hiệu
và kiểu dáng công nghiệp, thiết kế sản phẩm có uy tín nhưng chưa biết cách
tiếp cận thị trường nước ngoài.
1.1.3.5.Tạm nhập tái xuất
Hình thức kinh doanh tạm nhập tái xuất được hiểu là việc mua bán hàng
hoá của một nước để bán cho một nước khác trên cơ sở hợp đồng mua bán
hàng hoá ngoại thương, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam, rồi
làm thủ tục xuất khẩu mà không qua khâu chế biến. Mọi hình thức tạm nhập
nhằm mục đích dự hội chợ, triển lãm hoặc sửa chữa máy móc, phương tiện
theo quy định của hợp đồng hợp tác đầu tư, liên doanh sản xuất… để rồi tái
xuất không được coi là kinh doanh theo hình thức tạm nhập để tái xuất.
1.1.3.6.Chuyển khẩu
Được hiểu là việc mua hàng của một nước (nước xuất khẩu) để bán cho
một nước khác (nước nhập khẩu) mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt
Nam và không làm thủ tục xuất khẩu từ Việt Nam.
Đặc điểm của hình thức này là mặt hàng kinh doanh phụ thuộc vào chính
sách mặt hàng của nước bên bán và của nước bên mua, theo thông lệ và tập
quán quốc tế. Vì vậy nó đòi hỏi thương nhân phải am hiểu thị trường, luật lệ,
giá cả, các phương thức thanh toán quốc tế của nhiều nước. Doanh nghiệp
kinh doanh xuất khẩu theo hình thức này có thể kiếm lợi nhuận mà không cần
bỏ vốn, đồng thời không phải nộp thuế xuất nhập khẩu, tuy nhiên cũng phải
chịu nhiều rủi ro do phải vận chuyển nhiều.
10
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3.7.Thương mại biên giới
Đây là hình thức trong đó các hoạt động mua, bán trao đổi hàng hóa diễn
ra ở khu vực biên giới các nước láng giềng, bao gồm: mua bán chính ngạch,
tiểu ngạch, mua bán ở chợ biên giới, mua bán của cư dân biên giới.
1.2.Nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng hoá ở Doanh nghiệp
1.2.1.Lập kế hoạch xuất khẩu.
Khi bắt tay vào một chiến lược xuất khẩu một hay một nhóm loại hàng
hóa nào đó, doanh nghiệp cần phải tiến hành lập kế hoạch xuất khẩu với trình
tự và nội dung cơ bản như sau:
Một là, đánh giá các điều kiện nội tại của Doanh nghiệp. Mục đích của
bước này là tìm ra điểm mạnh và điểm yếu trong kinh doanh của doanh
nghiệp để từ đó có thể đầu tư vào những điểm mạnh và khắc phục những
điểm yếu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có đánh giá đúng đắn về
những kết quả đã đạt được, những lợi thế cạnh tranh hoặc những điểm mạnh
mà doanh nghiệp tin chắc có thể làm tốt hơn những đối thủ cạnh tranh khác;
đồng thời cũng cần nhìn nhận và đánh giá đúng đắn những điểm yếu trong
cạnh tranh của doanh nghiệp mình.
Hai là, đánh giá các điều kiện và yếu tố bên ngoài. Sau khi tiến hành
đánh giá, phân tích các điều kiện bên trong, cần nghiên cứu những yếu tố bên
ngoài có ảnh hưởng đến việc xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp: tiềm
năng của thị trường; yếu tố cạnh tranh; môi trường chính sách, pháp luật; môi
trường kinh tế và kinh doanh; môi trường văn hoá xã hội; môi trường kỹ
thuật; hệ thống phân phối…
Ba là, nghiên cứu sản phẩm. Doanh nghiệp cần định ra những sản phẩm,
dịch vụ mà doanh nghiệp có thể tìm được thị trường nước ngoài để tiêu thụ
với những đặc điểm về bao gói, chất lượng, hình dạng vật lý, cách thức sử
dụng, …
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Bốn là, phân tích SWOT. Sau khi thu thập các dữ liệu thông tin ở các
bước trên, cần thực hiện tổng kết và phân tích để chỉ ra điểm mạnh - yếu, cơ
hội - thách thức đối với doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tập
trung và phát huy những điểm mạnh, giảm thiểu những điểm ýêu của mình, từ
đó đầu tư vốn vào các cơ hội thị trường.
Năm là, xác định các nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công
của thương vụ xuất khẩu.
Sáu là, đặt ra những mục tiêu, chiến lược và kế hoạch hành động.
Bảy là, đánh giá mức độ sẵn sàng xuất khẩu của doanh nghiệp, như là:
kỹ năng, kinh nghiệm có liên quan đến xuất khẩu; các mối liên hệ giữa doanh
nghiệp và thị trường xuất khẩu mục tiêu; khả năng tài chính; nhân lực và thời
gian…
1.2.2.Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
Cũng như trong các hoạt động kinh doanh khác, vai trò của nghiên cứu
thị trường trong xuất nhập khẩu rất quan trọng. Nó giúp doanh nghiệp đánh
giá chính xác về thị trường xuất nhập khẩu, có nguồn thông tin toàn diện,
chuẩn xác làm nền tảng cho chiến lược marketing xuất nhập khẩu. Nếu không
thực hiện nghiên cứu thị trường xuất nhập khẩu hoặc thực hiện sơ sài, doanh
nghiệp sẽ phải đối mặt với những rủi ro rất lớn.
Trong việc nghiên cứu này, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
cần nắm vững những nội dung sau: điều kiện chính trị - thương mại chung,
luật pháp và chính sách buôn bán, điều kiện về tiền tệ và tín dụng, điều kiện
vận tải và tình hình giá cước…Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần nắm
vững những điều có liên quan đến mặt hàng kinh doanh của mình trên thị
trường nước ngoài đó, như: dung lượng thị trường, tập quán và thị hiếu tiêu
dung, những kênh tiêu thụ (các phương thức tiêu thụ), sự biến động giá cả…
Khi nghiên cứu những nội dung trên, người ta áp dụng hai phương
pháp chủ yếu là nghiên cứu tại văn phòng (điều tra qua tài liệu, sách báo…)
12
Chuyên đề tốt nghiệp
và điều tra thực địa. Ngoài hai phương pháp này, người ta còn có thể sử dụng
các phương pháp như: mua, bán thử; mua dịch vụ thông tin của các công ty
điều tra tín dụng; thông qua người thứ ba để tìm hiểu khách hàng v.v
1.2.3.Định giá xuất khẩu
Giá cả là yếu tố quan trọng trong giao dịch ngoại thương. Do vậy, việc
xác định giá xuất khẩu như thế nào hết sức có ý nghĩa đối với doanh nghiệp,
nó là cơ sở để doanh nghiệp tiến hành các bước giao dịch hay đàm phán kí kết
hợp đồng. Doanh nghiệp cần lưu ý rằng nếu giá xuất khẩu được đính giá quá
thấp so với giá nên xuất thì sẽ bị giảm lợi nhuận; còn nếu định giá cao hơn giá
nên bán thì ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm.
Thông thường trong xuất khẩu việc xác định giá thường dựa trên phương
pháp sai biệt phí tổn.
1. Giá thành chế tạo (manufacturing cost) + các chi phí xuất khẩu
(special exporting cost) = giá thành sản xuất (factory cost)
2. Giá thành sản xuất – thuế được hoàn lại = giá thành sản xuất
thuần
3. Giá thành xuất khẩu + lợi nhuận + chi phí bán hàng = giá xuất
xưởng (Ex Works Price).
4. Giá xuất xưởng + chi phí vận tải nội địa + các chi phí lưu kho, lưu
bãi cầu cảng, bốc xếp = giá FOB
5. Giá FOB + chi phí vận tải = giá CFR
6. Giá CFR + phí bảo hiểm = giá CIF
Ngoài ra còn cần phải cộng thêm chi phí khác như : phí ngân hàng, phí
ký quỹ (phí bảo đảm); ngoại hối kỳ hạn (cost of forward exchange cover); các
phí EFIC v.v
13
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.4.Giao dịch và đàm phán, tiến tới kí kết hợp đồng xuất khẩu
Để tiến tới ký kết hợp đồng mua bán với nhau, người xuất khẩu và người
nhập thường phải qua một quá trình giao dịch, thương thảo về các điều kiện
giao dịch. Quá trình đó gồm các bước chính sau:
- Hỏi hàng (hỏi giá): Là việc người mua gửi tới một hay một nhóm
người cung cấp về những hàng hoá mình quan tâm hoặc có nhu cầu.
- Chào hàng: Là việc người bán gửi tới một (chào hàng cố định) hoặc
một nhóm (chào hàng tự do) người mua những thông tin về hàng hoá của
mình nhằm giới thiệu và thu hút người mua quan tâm tới hàng hoá của doanh
nghiệp mình. Đơn chào hàng cần rõ ràng và hấp dẫn, không chỉ thể hiện ở giá
thấp hay sự giảm giá, mà có thể ở cả dịch vụ cung cấp cho người mua, phẩm
chất hàng tốt, điều kiện thanh toán có lợi cho người mua.
- Đặt hàng: là đề nghị chắc chắn về việc ký kết hợp đồng, xuất phát từ
người mua. Khi đặt hàng, cần xác định chính xác tên hàng, phẩm chất, quy
cách, số lượng hàng cần đặt mua…
1.2.5.Thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương đã được ký kết, các
bên tham gia ký kết phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây là công việc rất
phức tạp vì nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời bảo
đảm được quyền lợi quốc gia và đảm bảo uy tín kinh doanh của doanh nghiệp
xuất nhập khẩu. Về mặt kinh doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công
việc để thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu phải cố
gắng tiết kiệm chi phí lưu thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của toàn
bộ nghiệp vụ giao dịch.
Để thực hiện một hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp phải tiến hành các
khâu công việc sau đây:
Giục mở L/C và kiểm tra L/C (nếu hợp đồng quy định sử dụng phương
thức tín dụng chứng từ), xin giấy phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hóa, thuê tàu
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét