Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Giải pháp nhằm phát triển hoạt động cho vay xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới và phát triển của nền
kinh tế đất nước, hoạt động kinh tế đối ngoại đã được Chính phủ Việt nam
đặc biệt coi trọng. Việt nam có điểm xuất phát vào loại thấp nhất thế giới nên
yêu cầu phát triển kinh tế đối ngoại được đặt ra như một nhu cầu sống còn
hoặc là phát triển vượt lên trước hoặc là tụt lại sau và ngày càng xa rời các cơ
hội phát triển. Từ cuối năm 80 trở lại đây nền kinh tế Việt nam đang đi dần
vào thế ổn định và phát triển. Quan hệ đối nội và đối ngoại ngày càng được
mở rộng. Quan hệ đối ngoại được coi là "một mũi nhọn của sự đổi mới". Các
chính sách ngoại thương luôn được coi là những chính sách nằm trong chiến
lược kinh tế xã hội. Từ nay đến năm 2010, với phương châm "phát huy lợi thế
tương đối, đáp ứng tốt nhu cầu của sản xuất và đời sống hướng mạnh về xuất
khẩu, thay thế nhập khẩu bằng những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu
quả".
Để đẩy mạnh xuất khẩu cần nâng cao chất lượng, mở rộng sản xuất, đa
dạng hoá các mặt hàng. Muốn vậy phải có sự đầu tư thích đáng về máy móc
thiết bị cũng như công nghệ sản xuất trong khi vốn của các doanh nghiệp
này còn rất ít ỏi. Thực tế này đã đặt các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực kinh doanh xuất nhập khẩu trước một thách thức lớn là vấn đề vốn. Giải
quyết bài toán hóc búa này, hoạt động tín dụng của các NHTM nói chung và
Ngân hàng Ngoại thương VN nói riêng với tư cách là trung tâm cung ứng vốn
đảm bảo cho sự hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh
xuất nhập khẩu giữ một vai trò rất lớn.
Hoạt động cho vay đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu là hết sức phức tạp,
chứa đựng nhiều rủi ro, nó không những phải chịu tác động của chính sách
kinh tế trong nước mà còn chịu sự tác động trực tiếp của thị trường tiền tệ
quốc tế, chịu sự tác động của nhiều qui phạm, nguồn luật khác nhau. Hơn nữa
trong thời điểm hiện nay khi các NHTM được phép kinh doanh đối ngoại, rồi
sự xuất hiện của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng liên
doanh thì tất nhiên Ngân hàng Ngoại thương VN không còn giữ vị trí độc
quyền như trước đây trong việc cho vay phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu và
có sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng. Bởi thế, bức tranh về cho vay
xuất nhập khẩu càng phong phú hơn, chứa đựng nhiều vấn đề cần nghiên cứu.
Trong thời gian ngắn, khi nghiên cứu, tìm hiểu thực tế hoạt động tín
dụng đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương VN em
5
thấy việc nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung, biện pháp nhằm tháo gỡ
các vướng mắc và thực hiện hoạt động tín dụng của ngân hàng trong lĩnh vực
xuất nhập khẩu cho phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường là một
việc cần thiết. Với lý do đó cùng với sự hướng dẫn của cô Lê Thị Thanh và sự
chỉ bảo tận tình của các đồng nghiệp tại Phòng Tín dụng Ngân hàng Ngoại
thương VN em đã mạnh dạn nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn tốt
nghiệp với đề tài: "Giải pháp nhằm phát triển hoạt động cho vay xuất nhập
khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam".
Ngoài lời mở đầu, phần kết luận và phụ lục, bản luận văn được trình
bày theo kết cấu sau:
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY XUẤT
NHẬP KHẨU Ở NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU TẠI
NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY
XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Do thời gian nghiên cứu có hạn, kinh nghiệm thực tế có rất ít vì chưa
từng được phân công làm công tác tín dụng nên bản luận văn của em khó
tránh khỏi những thiếu sót và chưa sâu sắc. Em rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp quí báu của thầy cô giáo để bản luận văn tốt nghiệp của em
được hoàn thực hiện hơn. Nhân đây em xin chân thành cảm ơn cô Lê Thị
Thanh - giáo viên hướng dẫn, các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp đã giúp
đỡ em hoàn thành khoá luận văn này lời chúc sức khoẻ, hạnh phúc và nhiều
may mắn./.
6
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
XUẤT NHẬP KHẨU Ở NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. HOẠT ĐỘNG XNK VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
1. Sự ra đời và phát triển của ngân hàng
Ngân hàng xuất hiện trước khi có CNTB, nó được hình thành từ những
thương nhân làm nghề kinh doanh tiền tệ và tính chất vô danh của các đồng
tiền khiến cho những người kinh doanh tiền tệ có thể chuyển từ việc chỉ giữ
hộ tiền (vàng) sang đổi hộ tiền và dần dần khi họ tích luỹ được một số vốn
nhất định họ tiến hành cho vay lấy lãi. Lúc này việc giữ hộ tiền thu lệ phí
chuyển sang dạng cho vay huy động vốn phải trả lãi để khuyến khích số vốn
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội. Một ngân hàng thương mại là một cơ sở
sản xuất kinh doanh hoạt động với những nghiệp vụ sau:
- Các nghiệp vụ thuộc tài sản nợ của ngân hàng: Các nghiệp vụ này nhằm
huy động vốn, tạo lập nguồn vốn cho ngân hàng, việc huy động được tiến
hành huy động từ khoản tiền của các đơn vị, tổ chức kinh tế, từ tiết kiệm
của dân cư hoặc bằng việc phát hành các trái phiếu, kỳ phiếu vay của các
ngân hàng khác.
- Các nghiệp vụ thuộc tài sản có của ngân hàng: trên cơ sở nguồn vốn đã
huy động được và những nguồn vốn tự có của ngân hàng, ngân hàng thực
hiện các nghiệp vụ thuộc tài sản có để tạo lập các quĩ đảm bảo khả năng
thanh toán để cho vay hoặc thực hiện các khoản kinh doanh khác nhằm
kiếm lời. Các nghiệp vụ thuộc tài sản có bao gồm nghiệp vụ tín dụng,
nghiệp vụ tài chính.
- Các nghiệp vụ trung gian môi giới như bảo lãnh, thông tin thị trường, tư
vấn cho các đơn vị kinh tế, thu chi hộ, chuyển tiền, đại lý phát hành chứng
khoán.
Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại có quan hệ hữu cơ với nhau,
thúc đẩy nhau cùng phát triển. Ngân hàng có huy động được nhiều vốn thì
mới có vốn cho vay được rộng rãi. Mở rộng tín dụng, đảm bảo khả năng
thanh toán, giữ được uy tín của ngân hàng thì sẽ huy động được nhiều vốn
hơn. Muốn việc cho vay và huy động vốn tốt phải làm tốt nhiệm vụ trung gian
và tư vấn. Chính vì vậy ngân hàng thương mại muốn tồn tại và phát triển
được thì nhất thiết phải làm tốt và kết hợp chặt chẽ các nghiệp vụ nói trên với
7
nhau. Trong đó phải coi nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ quan trọng nhất của
ngân hàng bởi đây là nghiệp vụ đầu tiên và cơ bản quyết định sự phát triển
của ngân hàng.
Với chức năng kinh doanh tiền tệ - trước hết là đổi tiền và nhận tiền -
các ngân hàng trở thành trung tâm tiền tệ và có số vốn tạm thời nhàn rỗi
tương đối lớn. Đó là tiền đề nảy sinh nhu cầu cho vay lấy lãi của các ngân
hàng. Sự phù hợp hai loại nhu cầu của nhà tư bản ngân hàng và nhà tư bản
kinh doanh hàng hoá dẫn đến một mối quan hệ mới - mối quan hệ tín dụng
giữa ngân hàng và các nhà kinh doanh. Cơ sở của tín dụng ngân hàng gắn liền
với hoạt động và phát triển của ngân hàng. Do chuyên môn hoá trong quá
trình kinh doanh và đặc trưng của hàng hoá tiền mà hình thức tín dụng ngân
hàng phát triển ngày càng rộng và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu trong
nền kinh tế hàng hoá. Trong nền kinh tế thị trường, hàng hoá là trung gian tín
dụng giữa người đi vay và người cho vay. Vì vậy trong quan hệ với các cá
nhân, các doanh nghiệp thì ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho
vay.
Tín dụng ngân hàng ra đời có tác dụng mạnh mẽ đến quá trình tái sản
xuất xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, góp phần quan trọng trong
việc phục hồi và phát triển kinh tế của các nước trên thế giới. Khi nền ngoại
thương ngày càng phát triển thì tín dụng ngân hàng càng tỏ rõ vai trò đặc biệt
quan trọng của mình trong lĩnh vực này.
2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu
2.1. Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu đối với nền kinh tế
Hoạt động kinh tế là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài
người. Sự phát triển của mỗi quốc gia đưa đến sự hình thành nền kinh tế quốc
gia thống nhất. Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, sự phân công lao
động ngày càng mở rộng thì các quan hệ kinh tế không chỉ dừng lại trong
phạm vi từng quốc gia mà còn vươn ra phạm vi quốc tế. Ngày nay không một
quốc gia nào có thể phát triển kinh tế đất nước mình chỉ bằng cách tự lực cánh
sinh, bế quan toả cảng, duy trì một nền kinh tế đóng. Nếu ví nền kinh tế mỗi
quốc gia như một cơ thể sống thì thương mại quốc tế như bầu không khí góp
phần duy trì sự sống lâu dài và khoẻ mạnh cho cơ thể đó.
Ở Việt nam, từ khi chuyển nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan
liêu bao cấp sang cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, hoạt động
8
xuất nhập khẩu ngày càng đa dạng hơn và được coi là một trong những mục
tiêu trong chiến lược thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Nâng
cao hiệu quả của công tác xuất nhập khẩu là mục tiêu hàng đầu của các nhà
kinh doanh trong lĩnh vực này và cũng là mục tiêu của, nhiệm vụ của các
ngân hàng thương mại Việt nam khi cấp tín dụng phục vụ hoạt động xuất
nhập khẩu. Tỷ trọng xuất nhập khẩu chiếm một phần không nhỏ trong thu
nhập quốc dân cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động này trong hoạt động
kinh tế của mỗi nước.
2.1.1. Vai trò của hoạt động xuất khẩu:
Thứ nhất: Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp hoá đất nước theo
những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo
nàn, chậm phát triển ở nước ta. Để quá trình này này thành công đổi hỏi phải
có một số vốn lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị, kỹ thuật và công nghệ tiên
tiến. Trên thực tế nguồn vốn để nhập khẩu cũng như để đầu tư của một đất
nước dựa vào ba nguồn chủ yếu: viện trợ, đi vay và xuất khẩu. Trong giai
đoạn hiện nay ở Việt Nam nguồn viện trợ, đi vay là hạn chế và phải hoàn trả
bằng cách này hay cách khác ở các thời kỳ sau. Vì vậy, nguồn vốn chủ yếu đi
nhập khẩu và tích luỹ là dựa vào nguồn thu được từ hoạt động xuất khẩu.
Thứ hai: xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi một cách mạnh mẽ. Sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với sự
phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta. Hiện nay người ta
thiên về xu hướng coi thị trường và đặc biệt là thị trường thế giới là hướng
quan trọng để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này thể hiện ở:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi.
- Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản
xuất phát triển và ổn định.
- Xuất khẩu tạo khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực
sản xuất trong nước.
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao
năng lực sản xuất trong nước.
- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá trong nước sẽ tham gia vào cuộc cạnh
tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng, qua đó buộc các nhà
sản xuất trong nước phải tổ chức lại sản xuất, đổi mới và hoàn thiện quản
9
lý sản xuất kinh doanh, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị
trường.
Ngoài ra, xuất khẩu còn có tác động nhiều mặt tới đời sống xã hội. Việc
sản xuất hàng hoá xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động và tạo ra thu nhập
cho họ. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng
thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong
phú của nhân dân.
Thứ ba: xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế
đối ngoại. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại và có tác động qua
lại với hoạt động kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu tạo điều kiện cho các hoạt động
kinh tế đối ngoại khác phát triển, đồng thời các hoạt động này lại tạo điều tiền
đề để mở rộng xuất khẩu.
2.1.2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu:
Xuất khẩu và nhập khẩu là hai mặt của cán cân thanh toán, làm tiền đề
cho nhau và bổ sung, thúc đẩy lẫn nhau. Vai trò lớn của nhập khẩu thể hiện:
Thứ nhất: nhập khẩu tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất và kinh
doanh thương mại vì qua hoạt động nhập khẩu đã cung cấp 60-90% nguyên
nhiên vật liệu cho nền sản xuất trong nước của Việt Nam.
Thứ hai: nhập khẩu tác động mạnh tới đổi mới trang thiết bị và công
nghệ sản xuất, nhờ đó trình độ sản xuất được nâng cao và năng lực lao động
tăng nhanh tạo việc làm cho người lao động. Đặc biệt việc nhập khẩu hàng
tiêu dùng, sách báo khoa học kỹ thuật và văn hoá phẩm đã cải tạo đời sống và
nâng cao trình độ dân trí.
Thứ ba: nhập khẩu làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Khi hàng
hoá nước ngoài tràn vào trong nước, cạnh tranh với hàng nội địa đã tạo động
lực buộc các doanh nghiệp trong nước phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất
lượng, hạ giá thành sản phẩm thì mới có khả năng tồn tại và thu lợi nhuận.
Trong giai đoạn hiện nay, khi trình dộ khoa học kỹ thuật trong nước
còn thấp kém, để đảm bảo nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh thì nhu cầu
nhập khẩu ngày càng gia tăng, đặc biệt là những máy móc, thiết bị công nghệ,
nguyên vật liệu mà nền sản xuất trong nước chưa thể đáp ứng được.
10
Tóm lại hoạt động nhập khẩu tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước
với nền kinh tế thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp các "yếu
tố đầu vào" và tiêu thụ các "yếu tố đầu ra" cho nền kinh tế quốc gia trong hệ
thống kinh tế quốc tế.
Hoạt động xuất khẩu bảo đảm sự phát triển nhanh chóng và cân đối nền
kinh tế trong nước, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, tạo thêm việc làm,
tăng thêm nguồn thu ngoại tệ, nâng cao đời sống nhân dân.
Hoạt động xuất khẩu đã khai thác triệt để lợi thế so sánh của mỗi quốc
gia, đạt qui mô tối đa cho mỗi ngành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các
ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản
phẩm, thúc dẩy các nhân tố phát triển theo chiều sâu, trao đổi và ứng dụng
nhanh chóng các công nghệ mới, thu hút vốn dầu tư từ bên ngoài, nâng cao
tốc dộ tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.
2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Tín dụng ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động
xuất nhập khẩu. Trong quan hệ nền kinh tế đối ngoại hoạt động tín dụng ngày
càng mở rộng bao nhiêu thì các mối quan hệ thương mại ngày càng được mở
rộng bấy nhiêu. Chất lượng của hoạt động tín dụng ngoại thương là cơ sở tạo
lòng tin cho bạn hàng trong thương mại, tạo điều kiện cho quá trình lưu thông
hàng hoá, tạo thêm sức mạnh cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Để thực hiện
thành công các chiến lược kinh tế ngân hàng nắm được hướng đi của các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu để từ đó đáp ứng thích đáng nhu cầu
vốn của họ. Khi có nhu cầu về vốn trong khi nguồn vốn tự có không đủ để
đáp ứng đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu có thể tìm nguồn vốn tài trợ bằng
cách phát hành trái phiếu, đi vay các doanh nghiệp khác, vay tổ chức tài chính
tín dụng quốc tế, vay các ngân hàng thương mại Trong các phương thức nói
trên có thể nói tín dụng ngân hàng là phổ biến và có tính ưu việt hơn cả. Đối
với nhà nhập khẩu, khi nhu cầu nhập khẩu một khối lượng hàng hoá, dịch vụ
cần thiết nhưng khả năng tài chính chưa đủ để thực hiện hoạt động đó, lúc này
nhà nhập khẩu sẽ đến ngân hàng xin vay. Ngân hàng khi đó sẽ là người cung
cấp nguồn tài chính cần thiết cho nhà nhập khẩu trên cơ sở các điều kiện nhất
định được thoả thuận. Đối với nhà xuất khẩu, khi thị trường hàng hóa dịch vụ
đòi hỏi cạnh tranh tích cực, nhà xuất khẩu buộc phải tìm kiếm nguồn đầu tư
để thực hiện hợp đồng của mình, lúc này các nhà ngân hàng cũng sẽ đóng vai
trò là người cung cấp nguồn tài chính cho nhà xuất khẩu. Sự hợp nhất giữa
11
các nhà kinh doanh xuất khẩu sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng tín dụng
xuất nhập khẩu, đưa hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu thực sự trở thành một
đòn bẩy kích thích sự phát triển nền kinh tế.
Trong hoạt động thương mại nói chung và hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu nói riêng luôn xuất hiện tình trạng thiếu vốn và thừa vốn tạm thời
giữa các tổ chức kinh doanh. Đó là nguyên nhân dẫn tới quan hệ vay mượn
lẫn nhau trên cơ sở hai bên cùng có lợi thông qua hệ thống ngân hàng.
Do tình trạng cạnh tranh trên thị trường thế giới và khả năng ngoại hối
của các nước xuất nhập khẩu mà tín dụng ngân hàng đã thể hiện vai trò quan
trọng của mình đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ngang hàng với
các yếu tố về chất lượng kỹ thuật cũng như các yếu tố về giá Nếu trước kia
các tổ chức tín dụng chỉ sử dụng vốn một cách biệt lập, có sự giới hạn về khả
năng tài chính và bảo hiểm, chỉ chú trọng việc thu hồi vốn thì nay hoạt động
tín dụng xuất nhập khẩu được đa dạng hoá với sự tham gia của nhiều công cụ
tài chính và nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng khác. Việc tài trợ và bảo hiểm
được áp dụng rộng rãi trên cơ sở có quan hệ với nhiều nước, các điều kiện tín
dụng được thực hiện một cách dễ dàng.
Sự phát triển không ngừng và phức tạp của nền kinh tế thế giới đòi hỏi
hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng phải luôn được đổi mới,
phát triển đáp ứng nhu cầu và sự biến động thị trường trong và ngoài nước thì
hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu ngân hàng mới thực sự có hiệu quả, góp
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước.
II. HOẠT ĐỘNG CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NHTM
1. Nguyên tắc cho vay của tín dụng ngân hàng
Thứ nhất: Cho vay phải có kế hoạch, có mục tiêu và hiệu quả kinh tế,
đơn vị vay vốn phải có kế hoạch và đơn xin vay gửi ngân hàng, trong đó phải
nói rõ khối lượng cần vay, thời gian vay vốn và mục đích sử dụng vốn vay.
Kế hoạch và đơn xin vay của các đơn vị phải xuất phát từ nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm dựa trên các định mức kinh tế kỹ thuật, vật
tư, lao động, tiền lương Trên cơ sở kế hoạch xin vay của các đơn vị, ngân
hàng phải có kế hoạch vay vốn của mình.
Thứ hai: Cho vay trên nguyên tắc hoàn trả lại đúng kỳ hạn cả vốn lẫn
lãi. Đơn vị vay vốn phải trả lại vốn vay cho ngân hàng bởi nguồn vốn đó ngân
hàng cũng phải đi vay. Đơn vị cũng phải trả lợi tức cho ngân hàng vì đó là
12
một trong những khoản thu nhập của ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng
tổ chức hạch toán kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà
nước.
Thứ ba: Cho vay phải có giá trị vật tư hàng hoá tương đương làm bảo
đảm. Để vay vốn ở ngân hàng thì đơn vị vay vốn phải trình những chứng từ,
hoá đơn về mua bán vật tư, hàng hoá và công tác phục vụ. Trên cơ sở đó ngân
hàng sẽ tiến hành xét duyệt cho vay một lượng tiền tương đương với giá trị
vật tư hàng hoá, đối với một số đơn vị thì yêu cầu phải có tài sản thế chấp
bằng tài sản hoặc chứng từ có giá khác.
Trong quá trình sử dụng vốn vay các đơn vị vay vốn cũng luôn phải có
đủ giá trị vật tư, hàng hoá làm bảo đảm và nếu cán bộ tín dụng kiểm tra mà
giá trị vật tư, hàng hoá nhỏ hơn vốn vay ngân hàng thì ngân hàng sẽ thu hồi
vốn trước thời hạn phần vốn không có giá trị vật tư hàng hoá làm bảo đảm.
Ngược lại, nếu giá trị vật tư hàng hoá lớn hơn vốn vay thì ngân hàng có thể
cho vay thêm nếu đơn vị yêu cầu.
2. Các nghiệp vụ cơ bản trong cho vay xuất nhập khẩu
Gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế là sự đa dạng các
hình thức tín dụng. Các ngân hàng thương mại luôn tìm kiếm và đưa ra các
hình thức tín dụng phù hợp, đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Tuỳ thuộc vào
trình độ phát triển kinh tế và pháp luật của mỗi nước mà việc áp dụng các
hình thức tín dụng ở mỗi nước có khác nhau. Dựa vào tính chất, đặc điểm của
nghiệp vụ cho vay để phân loại tín dụng, tín dụng xuất nhập khẩu có thể phân
thành một số hình thức chủ yếu sau:
2.1. Cho vay thông thường
Cho vay thông thường là việc ngân hàng giao cho khách hàng một
khoản tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định. Khi hết hạn người
vay phải trả cả gốc và lãi. Cho vay thông thường là hình thức tín dụng cơ sở
cho các hình thức tín dụng khác ra đời và phát triển. Cho vay thông thường có
thể được thực hiện dưới hai hình thức: tín dụng ngắn hạn (với các khoản vay
có thời hạn dưới một năm) hay tín dụng trung và dài hạn (với các khoản vay
có thời hạn từ một năm trở lên). Lãi suất cho vay được ấn định trong phạm vi
khung lãi suất của Ngân hàng Nhà nước qui định trong từng thời kỳ. Dù cho
vay dưới hình thức nào thì ngân hàng đều phải thực hiện ba nguyên tắc cho
vay: vay vốn phải được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và phải được
13
hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ đúng kỳ hạn đã thoả thuận. Bên cạnh đó ngân
hàng đòi hỏi người đi vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo
lãnh của một ngân hàng hoặc một người thứ ba. Các biện pháp bảo đảm này
ngoài việc tránh rủi ro không thu hồi được nợ cho ngân hàng còn nhằm thúc
đẩy người vay sử dụng vốn đúng mục đính, có hiệu quả, bù đắp đủ chi phí, có
lợi nhuận để trên cơ sở đó thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ đúng thời hạn đã
cam kết với ngân hàng.
Ngân hàng cho vay trung và dài hạn cho các doanh nghiệp xuất khẩu để
giúp họ có vốn mua sắm, lắp đặt dây chuyền sản xuất, sản xuất hàng xuất
khẩu. Với nguồn vốn ngắn hạn cấp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nhằm giúp các doanh nghiệp chi trả tiền lương,
chi phí vận chuyển, thu mua hàng xuất khẩu, tra tiền hàng nhập khẩu,
Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng vật tư, hàng hoá làm bảo đảm cho
các khoản vay của mình. Hình thức bảo đảm này thường được thu nạp bởi
ngân hàng không theo thể thức bàn giao vật tư, hàng hoá một cách vật chất
mà bằng cách chấp hữu các chứng từ về quyền sở hữu đối với vật tư hoặc
bằng cách dàn xếp để bảo tồn trong kho đứng tên ngân hàng.
Các chứng từ về quyền sở hữu hàng hoá bao gồm: vận đơn, giấy chứng
nhận gửi hàng tại kho, hoá đơn giao hàng, Ngân hàng có thể được yêu cầu
cho vay tiền dựa vào bảo đảm là "hàng hoá đang ở trong kho", "hàng hoá
đang chuẩn bị xuất khẩu" hay "chứng từ hàng hoá đang trên đường đi", Ví
dụ khi yêu cầu cho vay dựa vào bảo đảm là "hàng hoá đang ở trong kho",
ngân hàng có thể xem xét hàng hoá có được cất giữ tại kho có uy tín và trung
lập không. Nhà kho cần chứng nhận rằng hàng hoá được quản lý theo lệnh
của ngân hàng và chỉ có thể xuất kho theo các chỉ thị, văn bản của ngân hàng
mà thôi. Hàng hoá cất giữ tại kho riêng của người vay không được coi là bảo
đảm hợp lệ và không được phép làm bảo đảm trừ phi đối với những khách
hàng tin cậy.
Ưu điểm của hình thức tín dụng này là:
- Khoản tiền cho vay có quan hệ tới giao dịch thương mại chung và sẽ được
hoàn trả đầy đủ bằng ngạch số bán hàng hoá.
- Tính chắc chắn của việc thu được quyền sở hữu hợp lệ với điều kiện ngân
hàng quan hệ với những người được coi là trung thực.
Nhược điểm của hình thức này:
- Việc định giá hàng hoá có thể gặp những khó khăn.
- Giá cả thị trường biến động lớn trong một số trường hợp.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét