Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác hạch toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Nhà máy Thiết bị Bưu điện

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đại học kinh tế quốc dân
rời hai vấn đề này mà luôn đặt nó trong mối tương quan giữa các đại lượng vốn
nằm ngay trong kết quả của một quá trình sản xuất nhất định.
Giá thành sản phẩm có các chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí, lập giá và
là đòn bẩy kinh tế.
Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra sẽ hoàn thành một khối lượng sản
phẩm, công việc lao vụ phải được bù đắp bằng chính số tiền thụ về tiêu thụ bán
sản phẩm. Việc bù đắp chi phí đầu vào mới chỉ đảm bảo được quá trình tái sản
xuất giản đơn. Mục đính sản xuất và nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế thị
trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải đảm bảo trang trải và bù đắp mọi chi phí
đầu vào của quá trình sản xuất và có lãi.
Do vậy, thông qua tiêu thụ, bán sản phẩm mà thực hiện giá trị sử dụng của
hàng hoá. Thông qua giá bán sản phẩm mà đánh giá mức độ bù đắp chi phí và
hiệu quả của chi phí.
2. Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
2.1. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, công tác kế toán phù hợp với từng loại chi phí
cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo tiêu thức phù
hợp. Việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh là sắp xếp các chi phí khác
nhau vào theo từng nhóm, từng tiêu thức mang đặc trưng nhất định.
a. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung và tính chất kinh tế của chi phí.
Theo tiêu thức này thì các chi phí giống nhau được sắp xếp vào một yếu tố,
không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực hoạt động nào, ở đâu. Căn
cứ vào tiêu thức này, chi phí sản xuất được phân loại thành:
- Chi phí nguyên vật liệu.
- Chi phí nhân công.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài.
- Chi phí khác bằng tiền.
Cách phân loại này có ưu điểm giúp cho doanh nghiệp biết được kết cấu, tỷ
trọng của từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ.
b. Phân loại theo mục đính và công dụng của chi phí.
5
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đại học kinh tế quốc dân
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đính và công
dụng nhất định đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo cách phân loại này,
căn cứ vào mục đính và công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các
khoản mục chi phí khác nhau. Do vậy, toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong
kì được chia làm các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí về nguyên liệu, vật liệu chính, phụ,
nhiên liệu sử dụng vào mục đính trực tiếp sản xuất sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền công, tiền trích bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn.
- Chi phí sản xuất chung: Đây là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất
chung ở các phân xưởng, tổ đội sản xuất ngoài hai khoản mục chi phí trực
tiếp ở trên bao gồm các khoản sau:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng: Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp,
trích bảo hiểm cho nhân viên quản lý phân xưởng, nhân viên thống kê, thủ
kho, kế toán, tiếp liệu, công nhân vận chuyển, sửa chữa ở phân xưởng.
+ Chi phí vật liệu: Chi phí vật liệu sử dụng chung cho phân xưởng như vật liệu
để sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định của phân xưởng, vật liệu văn phòng và
những vật liệu dùng cho nhu cầu quản lý chung ở phân xưởng, tổ, đội sản xuất.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Phản ánh chi phí công cụ, dụng cụ cho nhu cầu
sản xuất chung ở phân xưởng, tổ sản xuất, như khuôn mẫu dụng cụ giá lắp,
dụng cụ bảo hộ lao động
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh toàn bộ số tiền trích khấu hao của
TSCĐ hữu hình, vô hình, thuê ngoài sử dụng ở các phân xưởng
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: là chi phí về lao vụ, dịch vụ mua từ bên ngoài để
phục vụ cho hoạt động sản xuất chung ở phân xưởng, tổ đội sản xuất như chi
phí về điện, nước, khí nén, hơi, điện thoại
+ chi phí khác bằng tiền.
c. Phân loại chi phí theo mối quân hệ với khối lượng sản phẩm công việc lao vụ
sản xuất trong kỳ: chi phí được chia thành biến phí và định phí.
- Biến phí (chi phí khả biến ): Là những chi phí thay đổi về tổng số, và tỷ lệ so
với khối lượng công việc hoàn thành. Tuy nhiên, chi phí biến đổi tính trên một
đơn vị sản phẩm lại có tính cố định.
- Định phí (chi phí cố định) : Là những chi phí không đổi về tổng số so với khối
luợng công việc hoàn thành. Định phí trên một đơn vị sản phẩm lại thay đổi.
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đại học kinh tế quốc dân
Phân loại theo khoản mục này tạo điều kiện thuận tiện cho công việc lập kế
hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để ra các quyết định kinh
doanh.
Ngoài các cách phân loại chủ yếu trên phục vụ trực tiếp cho công tác quản
lý và công tác kế toán, chi phí sản xuất kinh doanh còn có thể được phân loại
theo các tiêu thức khác như căn cứ vào phương pháp tập hợp chi phí và mối
quân hệ với đối tượng chịu chi phí có chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, theo
nội dung cấu thành của sản phẩm có chi phí đơn nhất và chi phí tổng hợp.
2.2. Phân loại giá thành sản phẩm.
Để đáp ứng các yêu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng
như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc
độ khác nhau.
a. Phân loại theo thời gian và nguồn số liệu tính giá thành sản phẩm thì giá
thành gồm:
- Giá thành kế hoạch: Việc tính toán, xác định giá thành kế hoạch sản phẩm
được tiến hành trước khi tiến hành quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm do bộ
phân kế hoạch thực hiện. Giá thành kế hoạch của sản phẩm được tính trên cơ sở
chi phí sản xuất kế hoạch và được xem là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp,
là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, kế hoạch
hạ giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: Cũng giống như giá thành kế hoạch, giá thành định mức
cũng có thể thực hiện được trước khi sản xuất tạo sản phẩm dựa vào các định
mức, dự toán chi phí. Giá thành định mức được xem là thước đo chính xác để
xác định kết quả sản xuất kinh doanh.
- Giá thành thực tế: Khác với hai loại giá thành trên, giá thành thực tế của sản
phẩm, lao vụ chỉ được xác định khi qua quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm đã
được hoàn thành và dựa trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh
tập hợp trong kỳ.
Giá thành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu
của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế kỹ thuật
để sản xuất sản phẩm, là cơ sở xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của doanh nghiệp.
b. Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí: Giá thành sản xuất bao gồm:
7
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đại học kinh tế quốc dân
- Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng ): Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những
chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi
phân xưởng như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và
chi phí sản xuất chung tính cho những sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn
thành. Đây là giá căn cứ tính toán giá vốn hàng bán và lợi nhuận gộp ở các
doanh nghiệp sản xuất.
- Giá thành toàn bộ ( giá thành tiêu thụ ): Giá thành toàn bộ của sản phẩm chỉ
được tính toán xác định khi sản phẩm, công việc và lao vụ được tiêu thụ. Nó là
căn cứ tính toán và xác định lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp. Giá thành
tiêu thụ hay giá thành đầy đủ được tính như sau:
Giá thành toàn
bộ của sản
phẩm tiêu thụ.
=
Giá thành sản
xuất của sản
phẩm
+
Chi phí
bán hàng +
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
3. Mối quan hệ giữa chi phí và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá trình sản
xuất, có mối quân hệ chặt chẽ với nhau, giống nhau về chất vì đều là những hao
phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá
trình sản xuất và chế tạo sản phẩm. Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm lại không giống nhau về lượng. Sự khác biệt của chúng thể hiện
ở chỗ:
- Chi phí sản xuất luôn gắn với một thời kì nhất định, còn giá thành sản phẩm
lại gắn liền với một loại sản phẩm, công việc hoặc lao vụ nhất định.
- Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm một phần chi phí thực tế đã phát sinh
(chi phí trả trước) hoặc một phần chi phí sẽ phát sinh ở các kỳ sau, những chi
phí đã ghi nhận là chi phí của kỳ này (chi phí phải trả ).
- Giá thành sản phẩm chứa đựng cả một phần chi phí của kỳ trước chuyển
sang (chi phí về sản phẩm dở dang đầu kỳ ).
Mối quan hệ giữa chi phí và giá thành được thể hiện rõ nét qua sơ đồ sau:
Sơ đồ số 1:
Chi phí sản xuất
dở dang đầu kỳ
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
B D
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đại học kinh tế quốc dân
A Tổng giá thành sản phẩm,
dịch vụ hoàn thành
C Chi phí sản xuất dở dang
cuối kỳ
Ta có : AC = AB + BD - CD
Tổng giá thành
sản phẩm, dịch vụ
hoàn thành
=
Chi phí sản
xuất dở
dang đầu kỳ
+
Chi phí sản
xuất phát sinh
trong kỳ
-
Chi phí sản
xuất dở
dang cuối kỳ
Tóm lại, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai yếu tố có mối liên hệ
chặt chẽ trong quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, chúng
giống nhau ở chỗ đều là chi phí (về chất ). Tuy nhiên, có sự khác nhau về lượng
do có yếu tố sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ cũng như về sản phẩm hỏng.
Song nếu trong trường hợp doanh nghiệp có sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối
kỳ bằng nhau hay không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng
tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
4. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm.
Trong công tác quản lý doanh nghiệp thì chi phí sản xuất là một trong những
chỉ tiêu quan trọng luôn được các nhà doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Thông
qua số liệu do bộ phận kế toán tập hợp được, các nhà quản lý có thể luôn biết
được hoạt động và kết quả thực tế, từ đó đề ra các biện pháp có hiệu quả, kịp
thời nhằm hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, đề ra các quyết định
phù hợp với phát triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
Việc phân tích đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ có
thể dựa trên giá thành sản phẩm chính xác. Về phía mình giá thành sản phẩm
lại phải chịu sự ảnh hưởng của kết quả tập hợp chi phí sản xuất. Do vậy, tổ chức
tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm để đảm
bảo xác định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành sản
phẩm, lượng giá trị các yếu tố chi phí đã được chuyển dịch vào sản phẩm có ý
nghĩa quan trọng, và cấp bách. Bởi ta biết rằng trong nền kinh tế thị trường, các
quan hệ sản xuất kinh doanh, tài chính, tín dụng ngày càng trở nên phức tạp.
Canh tranh càng ngày càng trở nên gay gắt, doanh nghiệp có thể đứng vững và
9
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đại học kinh tế quốc dân
phát triển trên thị trường đòi hỏi phải được quản lý điều hành một cách có hiệu
quả. Việc này có ảnh hưởng lớn đến hệ thống kế toán chi phí, công tác kế toán
chi phí không những chỉ tuân theo chế độ kế toán hiện hành mà còn phù hợp với
yêu cầu quản lý để có thể ra quyết định kinh doanh một cách đúng đắn. Điều
này có liên quan đến yếu tố thời gian, tính kịp thời, chính xác vì thông tin có thể
mặt giá trị nếu có sự chậm trễ và các quyết định có thể bị sai lầm do thông tin
không chính xác. Xuất phát từ yêu cầu quản lý đòi hỏi kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Xác định đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành sản phẩm. Để thực hiện tốt kế toán phải căn cứ vào đặc điểm quy trình
công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp.
- Tổ chức kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất theo đúng đối tượng đã
xác định và lựa chọn phương pháp hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản
phẩm thích hợp.
- Xác định chính xác chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính toán giá thành và
giá thành đơn vị của các đối tượng tính giá thành theo đúng khoản mục quy
định và đúng kỳ tính giá thành đã xác định. Định kỳ cung cấp các báo cáo về chi
phí sản xuất và giá thành cho lãnh đạo doanh nghiệp và tiến hành thực hiện
phân tích tình hình thực hiện định mực, dự toán chi phí sản xuất, tình hình thực
hiện giá thành kế hoạch để có những kiến nghị, đề xuất lãnh đạo doanh nghiệp
có hướng giải quyết cũng như phát hiện kịp thời tiềm năng và đề xuất các biện
pháp có thể thực hiện, nhằm phấn đấu không ngừng tiết kiệm chi phí và hạ giá
thành sản phẩm.
II. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM.
1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại với nội dung kinh
tế và công dụng khác nhau, phát sinh ở những địa điểm khác nhau. Mục đính bỏ
chi phí ra là để tạo ra những sản phẩm cụ thể. Từ đó các sản phẩm được tiêu thụ
mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Những sản phẩm được sản xuất, chế tạo,
thực hiện ở các phân xưởng, bộ phận khác nhau theo quy trình công nghệ sản
xuất của doanh nghiệp. Do đó, các chi phí phát sinh được tập hợp theo các yếu
tố, khoản mục chi phí để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm. Như vậy,
10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đại học kinh tế quốc dân
việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất thực chất là việc xác
định phạm vi giới hạn sản xuất mà chi phí sản xuất cần phải tập hợp.
Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là một khâu rất quan
trọng và là khâu đầu tiên cần thiết của công tác tập hợp chi phí sản xuất . Bởi
chỉ có thể xác định đúng đắn đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất một
cách phù hợp với đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, quá trình
hoạt động sản xuất và đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí sản xuất sản phẩm của
doanh nghiệp mới giúp cho tổ chức tốt nhất công việc kế toán tập hợp chi phí
sản xuất.
Trong doanh nghiệp sản xuất, đối tượng tính giá thành là kết quả của quá
trình sản xuất và chế tạo sản phẩm thu được từ những sản phẩm, công việc, lao
vụ đã hoàn thành và cần phải được tính tổng giá thành và giá thành đơn vị. Xác
định đối tượng tính giá thành là công việc cần thiết đầu tiên trong toàn bộ công
việc tính giá thành sản phẩm. Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm phải được dựa trên những điều kiện sau:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
- Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
- Địa điểm phát sinh chi phí, mục đính, công dụng của chi phí.
- Yêu cầu trình độ quản lý doanh nghiệp.
Như vậy, dựa vào các căn cứ trên, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành trong doanh nghiệp có thể là:
- Toàn bộ quá trình công nghệ sản xuất của doanh nghiệp.
- Từng giai đoạn, từng quy trình công nghệ riêng biệt, từng phân xưởng, tổ
đội sản xuất.
- Từng nhóm sản phẩm, từng đơn đặt hàng, hạng mục công trình.
- Từng bộ phận, chi tiết sản phẩm.
Tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng đã quy định, hợp lý có tác
dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho
công tác tính giá thành sản phẩm được kịp thời và đúng đắn.
2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
2.1. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống
các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất
trong phạm vi giới hạn của đối tượng chi phí. Do vậy, việc xác định phương
11
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đại học kinh tế quốc dân
pháp hạch toán chi phí sản xuất dựa trên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
Nói chung, phương pháp hạch toán chi phí sản xuất bao gồm các phương pháp
như phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo sản phẩm, hạch toán chi phí
sản xuất theo chi tiết bộ phận của sản phẩm, hạch toán chi phí sản xuất theo
phân xưởng hay theo địa điểm phát sinh chi phí, hạch toán chi phí sản xuất theo
giai đoạn công nghệ của quy trình sản xuất sản phẩm, hạch toán chi phí sản xuất
theo đơn đặt hàng Nội dung chủ yếu của các phương pháp này là kế toán mở
sổ (thẻ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác định, phản
ánh các chi phí phát sinh có liên quan đến đối tượng hạch toán chi phí sản xuất
đã xác định, hàng tháng, quý tổng hợp chi phí theo từng đối tượng.
2.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm.
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là một phương pháp hoặc là một hệ
thống các phương pháp được sử dụng để tính giá thành của đơn vị sản phẩm, nó
mang tính thuần tuý kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tượng tính giá thành.
Nói chung, phương pháp tính giá thành sản phẩm bao gồm các phương pháp
sau:
a. Phương pháp giản đơn (trực tiếp ).
Theo phương pháp này giá thành sản phẩm được tính bằng cách căn cứ trực
tiếp vào chi phí sản xuất đã tập hợp được theo từng đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất trong kỳ và giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ, cuối kỳ để tính ra giá
thành sản phẩm và theo công thức sau:
Tổng giá thành
sản phẩm
= Sản phẩm dở
dang đầu kỳ
+ Chi phí sản
xuất trong kỳ
- Chi phí dở
dang cuối kỳ
Phương pháp này áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp sản xuất có quy
trình công nghệ sản xuất giản đơn, khép kín từ khi đưa nguyên vật liệu vào cho
tới khi hoàn thành sản phẩm, mặt hàng sản xuất ít, khối lượng lớn, chu kỳ sản
xuất ngắn, kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo như một số doanh nghiệp
thuộc ngành công nghiệp khai thác, các công ty điện, nước.
b. Phương pháp tính giá thành phân bước.
Phương pháp này thường được áp dụng tại các doanh nghiệp có quy trình
công nghệ phức tạp kiểu sản xuất liên tục, sản phẩm trải qua nhiều giai đoạn,
nhiêu bước nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định, mỗi bước tạo ra một loại
bán thành phẩm và bán thành phẩm của bước này là đối tượng chế biến của
bước tiếp theo. Do vậy, tuỳ theo đặc điểm, tình hình cụ thể mà đối tượng tính
12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đại học kinh tế quốc dân
giá thành trong các doanh nghiệp loại hình này có thể là thành phẩm ở giai đoạn
công nghệ cuối cùng hoặc bán thành phẩn ở từng giai đoạn và thành phẩm ở
giai đoạn cuối. Chính vì sự khác nhau về từng đối tượng tính giá thành nên
phương pháp tính giá thành phân bước được chia thành :
- Phương pháp phân bước có tính giá thành bán thành phẩm.
- Phương pháp phân bước không tính giá thành bán thành phẩm.
♦ Phương pháp phân bước có tính giá thành bán thành phẩm.
Để tính giá thành của sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn công nghệ cuối cùng
cần phải xác định được giá thành bán thành phẩm ở giai đoạn trước và chi phí
bán thành phẩm giai đoạn trước chuyển sang giai đoạn sau cùng với chi phí của
giai đoạn sau để tính ra giá thành bán thành phẩm của giai đoạn sau, cứ tuần tự
như vậy cho đến giai đoạn cuối cùng khi tính giá thành thành phẩm.
Quá trình này được thể hiện qua sơ đồ sau với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm
phải qua n bước:
Sơ đồ 02:
+ - = +
- = + -

+ - =
13
Chi phí
nguyên
vật liệu
chính
Chi phí
chế biến
bước 1
Giá trị
sản
phẩm dở
dang
bước 1
Giá thành
bán thành
phẩm
bước 1
Giá thành
BTP
bước 1
chuyển
bước 2
Chi phí
chế biến
bước 2
Giá trị
sản
phẩm dở
dang
bước 2
Giá thành
bán thành
phẩm
bước 2
Chi phí
chế biến
bước 3
Giá
thành
BTP
bước 2
chuyển
Giá thành
BTP
bước(n-1)
chuyển
bước n
Chi phí
chế biến
bước n
Giá trị
sản
phẩm dở
dang
bước 3
Giá trị
sản
phẩm dở
dang
bước n
Tổng
giá
thành
thành
phẩm
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đại học kinh tế quốc dân
Phương pháp hạch toán này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có
yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ cao hoặc bán thành phẩm sản xuất ở các bưóc
có thể dùng làm thành phẩm bán ra ngoài. Tuy nhiên trong thực tế phương pháp
này ít được sử dụng do tính phức tạp của nó.
♦ Phương pháp phân bước theo phương pháp hạch toán không có bán thành
phẩm (kết chuyển song song ).
Trong trường hợp này đối tượng tính giá thành chỉ là thành phẩm ở bước
công nghệ cuối cùng. Do đó chỉ cần tính toán, xác định phần chi phí sản xuất
của từng giai đoạn nằm trong thành phẩm. Sau đó tổng cộng chi phí sản xuất
của từng giai đoạn trong sản xuất sản phẩm. Phương pháp này thường áp dụng
trong những doanh nghiệp mà yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ không cao hoặc
bán thành phẩm chế biến ở từng bước không bán ra ngoài. Trình tự tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được phản ánh qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 03:
c. Phương pháp hệ số.
Áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất
cùng sử dụng các yếu tố đầu vào về nguyên vật liệu, nhân công, máy móc thiết
bị nhưng lại sản xuất ra các loại sản phẩm khác nhau về chất lượng, cỡ số quy
cách … mà ngay từ đầu không thể hạch toán chi tiết chi phí cho từng sản phẩm
được.
Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là chi phí sản xuất tập hợp theo địa điểm
phát sinh chi phí hay phân xưởng còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm từng
14
Chi phí vật liệu chính cho thành phẩm
Chi phí bước 1 tính cho thành phẩm
Chi phí bước tính cho thành phẩm
Chi phí bước n tính cho thành phẩm
Tổng
giá
thành
sản
phẩm
hoàn
thành

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét