Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn của Cty ADCC

- Dịch vụ tư vấn luôn để lại một kết quả kép đối với người sử dụng, ngoài kết quả
trực tiếp giúp giải quyết vấn đề đặt ra, người sử dụng tư vấn còn có cơ hội được nâng cao
năng lực do được tiếp cận với các thông tin, kiến thức từ nhà tư vấn.
Đặc điểm này khiến cho hoạt động tư vấn đặc biệt hữu ích đối với phát triển nguồn
nhân lực, cũng như nâng cao trình độ, chất lượng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
2. Phân loại các hoạt động tư vấn.
Đối tượng của hoạt động tư vấn rất đa dạng, tuy nhiên để thuận lợi cho việc nghiên
cứu ta chia làm 3 đối tượng cụ thể :
2.1 Phân loại hoạt động tư vấn theo khách hàng.
Tư vấn cho tổ chức (có thể là một quốc gia, một cơ quan Nhà nước, một doanh
nghiệp, một tổ chức quần chúng…) : đại đa số các Doanh nghiệp, tổ chức sản xuất, kinh
doanh tầm cỡ trên thế giới đều có các nhà tư vấn riêng. Phần lớn các dự án, các chương
trình đổi mới, cải cách đều có ý kiến của các chuyên gia. Một số Chính phủ phải thuê
chuyên gia tư vấn nước ngoài để giải quyết các vấn đề Kinh tế - xã hội. Nhiều chương trình
cải cách dưới sự tài trợ của các tổ chức Chính phủ hoặc phi Chính phủ cũng yêu cầu sử
dụng dịch vụ tư vấn nhu là điều kiện bắt buộc.
Tư vấn cho cá nhân : đây là một loại hình rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường
và ở mọi Quốc gia. Không co cá nhân nắm bắt được mọi vấn đề đã, đang và sẽ xảy ra trong
xã hội. Các doanh nhân, không phụ thuộc vào quy mô, lĩnh vực hoạt động đều có nhu cầu
sư dụng dịch vụ tư vấn. Trong nhiều hoạt động, cá nhân cần cho những lời khuyên của
không phải một chuyên gia mà một tập thể chuyên gia tư vấn để đưa ra quyết định đúng.
Nhiều nguyên thủ Quốc gia sử dụng cả một bộ máy cố vấn gồm các chuyên gia giỏi, có
kiến thức rộng, am hiểu sâu và kỹ năng tổng hợp nhiều vấn đề thuộc các lĩnh vực khác
nhau.
Việc phân chia tư vấn theo đối tượng khách hang là cá nhân hay tổ chức cũng chỉ
mang ý nghĩa tương đối vì mỗi tổ chức được điều hành, quản lý bởi những cá nhân. Trong
nhiều trường hợp, tư vấn cho một tổ chức chính là tư vấn cho một cá nhân (nhà quản lý,
người điều hành hay người phụ trách tổ chức) và ngược lại cho một tổ chức cá nhân cũng
là tư vấn cho tổ chức mà cá nhân đóng góp vai trò quản lý, lãnh đạo.
5
2.2 Phân loại theo chuyên môn tư vấn.
Tư vấn chính trị : đây là hoạt động tư vấn về các nguyên tắc, phương thức, quyết
sách trong lĩnh vực chính trị. Có thể nói, nhờ tư vấn, trong những hoàn cảnh nhất định có
khả năng thay đổi một thể chế chính trị; tạo nên một cuộc cách mạng, một cuộc đảo chính
hoặc về những vụ việc, sự kiện trong quan hệ chính trị giữa các Quốc gia, giữa một Quốc
gia với tổ chức Quốc tế…
Tư vấn pháp luật : đây là một trong những hoạt động tư vấn được hình thành trong
các nhà tư sản pháp quyền, khi mà nhận thức và điều kiện tiếp xúc của người dân đối với
pháp luật chưa trở thành phổ biến. Hoạt động tư vấn được thưc hiện bởi đội ngũ luật sư,
các tổ chức tư vấn nhằm giúp đỡ người dân hiểu biết và tuân thủ luật pháp.
Tư vấn kinh tế : đây là một loại hình tư vấn phát triển sớm nhất và ngày càng
chiếm vị trí quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
Loại hình này nhằm cung cấp cho các nhà sản xuất kinh doanh những ý kiến, quan điểm thị
trường và cách thức tiếp cận, chiếm lĩnh và chia sẻ thị trường. Hình thức tư vấn phát triển,
nhiều loại hình tư vấn mang tính chất dự báo ra đời. Tư vấn kinh tế là lĩnh vực rộng và có
thể chia sẻ nhỏ thành tư vấn tài chính, tư vấn đầu tư và tư vấn kỹ thuật…
Tư vấn những vấn đề xã hội : nhu cầu tư vấn những vấn đề xã hội ngày càng cao
do các mối quan hệ gia đình xã hội ngày càng phức tạp. Những lời khuyên trong lĩnh vực
này có thể mang tính chất riêng rẽ theo yêu cầu của các cá nhân, cũng có thể mang tính xã
hội trên các phương diên thông tin đại chúng.
2.3 Phân loại theo quan hệ tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn.
Tư vấn nội bộ : giữa nhà tư vấn và người sử dụng tư vấn có sự phụ thuộc hoặc liên
quan về hành chính và tài chính. Các bộ phận tư vấn nội bộ được xây dựng trong một khu
vực, một ngành hoặc một tổ chức. Hoạt động của loại hình tư vấn này chủ yếu nhằm vào
phục vụ quyết sách cho lãnh đạo khu vực, ngành đó, đơn vị đó. Lợi thế của tư vấn nội bộ là
có thể căn cứ vào nhu cầu công việc, yêu cầu của lãnh đạo, kịp thời đưa ra các ý kiến tư
vấn phù hợp do có những thông tin cần thiết một cách kịp thời, chính xác và sự hiểu biết
sẵn có về tổ chức. Tuy nhiên, tư vấn nội bộ có một nhược điểm khó khắc phục, đó là
thường chịu sự ảnh hưởng, can thiệp của lãnh đạo trong quá trình nghiên cứu vấn đề và đưa
ra lời khuyên. Vì vậy, tính khách quan, khoa học của quá trình cung cấp dịch vụ tư vấn bị
6
ảnh hưởng dẫn đến tính khả thi của lời khuyên và hiệu quả của tư vấn nội bộ thường không
cao.
Tư vấn bên ngoài hay tư vấn độc lập : giữa nhà tư vấn và người sử dụng tư vấn
không có sự phụ thuộc liên hệ về tổ chức hành chính. Trên lý thuyêt, do không có mối quan
hệ hành chính với nhà đầu tư nên nhà tư vấn ít chịu sự chi phối của khách hang và dễ dàng
tiếp thu ý kiến của các chuyên gia có liên quan, vì thế có thể đưa ra những ý kiến tư vấn có
tính khách quan, độc lập. Tính khả thi, khoa học của tư vấn độc lập cũng thường cao hơn so
với tư vấn nội bộ.
3. Đối tượng, phạm vi hoạt động của tư vấn.
Hiện nay, tư vấn đã tham gia vào hầu hết các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa
xã hội. Hầu hết các tổ chức kinh tế - xã hội trên thế giới, các cơ quan quản lý Nhà nước,
các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ đều sử dụng dịch vụ tư vấn trong quá trình thực
hiện hoạt động. Vai trò của các nhà tổ chức tư vấn trong sự phát triể Kinh tế - xã hội ngày
càng tăng, mặc dù nó không thể hiện bằng những con số, chỉ tiêu cụ thể.
Việc sử dụng tư vấn đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với các tổ chức,
cá nhân trong việc ổn định và phát triển. Quan niệm về sử dụng tư vấn đã thay đổi, người ta
sử dụng tư vấn không phải khi không giải quyết được vấn đề, khi công việc gặp trở ngại,
mà là sử dụng tư vấn như là một thông lệ, biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu qủa sản xuất
kinh doanh. Thực tế cho thấy việc sử dụng dịch vụ tư vấn đã góp phần đưa ra nhiều ý
tưởng hành động và nắm bắt được những cơ hội kinh doanh mới. Như vậy, dịch vụ tư vấn
có thể giúp khách hàng khắc phục khó khăn, cải thiện tình hình hiện tại hoặc để tạo ra
hướng phát triển mới.
Đối tượng phục vụ của tư vấn rất đa dạng. Tuy nhiên, để thuận tiện trong việc
nghiên cứu các nội dung về hiện trạng phát triển của các loại hình tư vấn và đề ra các biện
pháp phát triển phù hợp, đối tượng của phục vụ tư vấn được chia thành các loại sau :
3.1 Chính phủ, các cơ quan Nhà nước
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu tư vấn của các khu vực Nhà nước cũng
tăng theo. Mặc dù Chính phủ và các cơ quan Nhà nước thường có một cơ quan chuyên môn
7
để tham mưu và tư vấn nội bộ nhưng nhu cầu sử dụng các dịch vụ tư vấn bên ngoài của
Chính phủ và cơ quan thuộc Chính phủ rất lớn, đặc biệt là Chính phủ và cơ quan Nhà nước
các nước tiên tiến như Mỹ, Anh. Chính phủ và các cơ quan Nhà nước thường cơ nhu cầu tư
vấn trong lĩnh vực xây dựng chính sách - chiến lược, xây dựng luật pháp, quy hoạch tổng
thể, thiết kế và thực hiện dự án…
Mọi cá nhân, tổ chức đều có thể trở thành chuyên gia tư vấn, cung cấp dịch vụ tư
vấn cho Chính phủ và các cơ quan Nhà nước thông qua các hợp đồng tư vấn. Đối với Viêt
Nam, các cơ quan Nhà nước thường mời các Công ty tư vấn trong nước, các công ty tư vấn
nước ngoài và các cá nhân tư vấn nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn.
3.2 Các Doanh nghiệp
Đối với các nước phát triển, các doanh nghiệp thường xuyên sử dụng dịch vụ tư
vấn xuyên suốt quá trình kinh doanh. Dịch vụ tư vấn của doanh nghiệp rất đa dạng gồm
nghiên cưu thị trường, tư vấn pháp lý, quản lý, tài chính, tư vấn thuế… Ngày nay, các tập
đoàn đa Quốc gia thường lựa chọn cho mình một số hang tư vấn nhất định để cung cấp dịch
vụ tư vấn cho các hoạt động kinh doanh, chẳng hạn tập đoàn Unilever trên toàn cầu chỉ sử
dụng dịch vụ kiểm toán và tư vấn tài chính của Công ty PriceWaterhouse Cooper, sử dụng
dịch vụ tư vấn pháp lý của Baker & McKenzie và sử dụng dịch vụ nghiên cứu thị trường
của AC Niensel.
3.3 Các tổ chức Quốc tế
Các tổ chức Quốc tế cũng có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn rất lớn. Do tính chất
của các hoạt động, do thể chế, hành lang pháp lý, các thủ tục khác nhau giữa các Quốc gia,
do sự khách quan trong công việc mà các tổ chức Quốc tế cần phải sử dụng các hãng tư vấn
và các chuyên gia tư vấn độc lập trong quá trình thực hiện chương trình và dự án của họ.
Dịch vụ tư vấn chủ yếu cho các tổ chức này thiết kế chuẩn bị các chương trình và dự án,
dịch vụ tư vấn giám sát, dịch vụ tư vấn đánh giá hiệu qủ việc thực hiện. Một số tổ chức
Quốc tế có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn lớn trên thế giới được kể như Ngân hàng thế
giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Liên hiệp quốc…
II. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cung cấp dịch vụ của các hãng tư vấn
hiện nay.
1. Khả năng và kinh nghiệm chung của các Công ty tư vấn.
8
Đây là những thông tin cơ bản ban đầu để giới thiệu khả năng và kinh nghiệm
của một hãng tư vấn với khách hàng. Trong bộ tiêu chí đánh giá và lựa chọn nhà thầu tư
vấn, năng lực và kinh nghiệm của Công ty tư vấn đựoc xem xét đầu tiên mặc dù tỷ trọng
điểm của tiêu chí này thường không cao. Tuỳ theo từng gói thầu tư vấn cụ thể, tỷ trọng của
từng tiêu chí này có thể sẽ được điều chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên, tỷ trọng của tiêu chí
này thường chỉ chiếm từ 0.1 đến 0.2. Tức là chỉ chiếm tối đa từ 10 đến 20 điểm trong thang
điểm 100 của bộ tiêu chí đánh giá. Năng lực và kinh nghiệm của Công ty tư vấn được
nghiên cứu chi tiết theo từng khía cạnh sau :
1.1 Khả năng chung
Thời gian tồn tại và phát triển : khả năng chung của Công ty tư vấn được đề cập
đến thời gian tồn tại và phát triển càng dài thì sẽ có năng lực thực hiện và cung cấp dịch vụ
tư vấn tốt hơn những Công ty mới thành lập.
Dịch vụ chủ yếu : một Công ty tư vấn chỉ có một hoặc một số dịch vụ chủ yếu
cung cấp cho thị trường. Chẳng hạn, dịch vụ nghiên cứu thị trường, dịch vụ tư vấn tài chính
và thuế các doanh nghiệp… Những dịch vụ chủ yếu hay lĩnh vực chuyên môn chính này có
ý nghĩa quyết định đến năng lực thực hiên công việc tư vấn. Có nghĩa là một công ty tư vấn
dịch vụ chủ yếu là nghiên cứu thị trưòng cho các doanh nghiệp như AC Nielsen (Hoa Kỳ)
sẽ không có năng lực để thực hiện công việc tư vấn phát triển cộng đồng. Hoặc ngược lại,
một Công ty chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn kỹ thuật và công nghệ như COWI (Đan
Mạch) sẽ không có năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và thuế cho doanh nghiệp
như Ensrt & Young hay KPMG.
1.2 Kinh nghiệm của tư vấn
Ngoài việc Công ty cung cấp các dịch vụ chủ yếu liên quan đến chuyên môn của
gói thầu thì những thông tin về kinh nghiệm thưc hiện các dịch vụ tư vấn có tính chất tương
tự là hết sức có ý nghĩa để xác định năng lực của Công ty. Những thông tin về kinh nghiệm
thực hiện công việc tương tự để chứng tỏ năng lực thực hiện và cung cấp dịch vụ tư vấn
gồm :
Tên dịch vụ, nội dung chính của dịch vụ.
Địa điểm và thời gian thực hiện.
Tên và địa chỉ của khách hàng và nhà tài trợ.
9
Tên và địa chỉ của đối tác kinh doanh.
Các đầu vào do Công ty cung cấp.
Giá trị hợp đồng thực hiện.
Những công việc và dịch vụ cụ thể đã thực hiện và cung cấp.
Tất cả các thông tin trên sẽ được trình bày và giới thiệu trong khung mẫu và được
gói trọn trong một trang.
1.3 Kinh nghiệm làm việc tại Quốc gia có điều kiện Kinh tế - Xã hội tương tự.
Năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn còn được thể hiện ở các kinh nghiệm thực hiện
các công việc có điều kiện Kinh tế - xã hộ tương tự. Các nhà tài trợ thường áp dụng các tiêu
chí đánh giá này cho các Công ty tư vấn Quốc tế khi tham gia đấu thầu cung cấp dịch vụ
cho một nước khác không phải là Quốc gia của họ. Chẳng hạn, các nhà thầu Quốc tế đã
từng cung cấp dịch vụ tư vấn cho các dự án ODA tại Trung Quốc sẽ có lợi thế khi tham gia
đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn cho Việt Nam. Công ty tư vấn đã thực hiện nhiều công
việc tư vấn tại các Quốc gia có điều kiện Kinh tế - xã hội tương tự thì năng lực cung cấp
dịch vụ sẽ được đánh giá cao hơn.
1.4 Xác nhận của khách hàng
Kinh nghiệm thực hiện và cung cấp các công việc tương tự và kinh nghiệm làm
việc tại các Quốc gia co điều kiện kinh tế xã hội tương tự là yếu tố thể hiện năng lực cung
cấp dịch vụ. Tuy nhiên, xác nhận của khách hàng là một yếu tố hết sức cần thiết để kiểm
chứng năng lực thực sự của công ty tư vấn. Thông thường, sau mỗi hợp đồng cung cấp dịch
vụ tư vấn, đại diệnc của khách hàng sẽ có một bản xác nhận cho công ty tư vấn, trong đó
các nội dung công việc và các dịch vụ cung cấp được khách hàng nêu rõ. Đồng thời, điều
quan trọng là khách hàng đưa ra ý kiến đánh giá chất lượng dịch vụ do tư vấn cung cấp.
Khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ càng cao thì năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn
càng được khẳng định.
2. Phương pháp tiếp cận và kế hoạch thực hiện tư vấn.
Nếu như “khả năng và kinh nghiệm chung” là một yếu tố thể hiện năng lực cung
cấp dịch vụ của công ty có “tính tĩnh”, tức là trong một hoàn cảnh nhất định, công ty tư vấn
10
không thể sửa đổi hoặc điều chỉnh được yêu tố này để nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ
tư vấn, thì “phương pháp tiếp cận và kế hoạch thực hiện” mà Công ty đề xuất để cung cấp
dịch vụ là một yếu tố có “tính động”, có nghĩa là công ty có thể nghiên cứu để đề xuất một
phương pháp tiếp cận và kế hoạch thực hiện tốt nhất để thể hiện năng lực thực hiện công
việc cao nhất. Trong bộ tiêu chí đánh giá năng lực của Công ty tư vấn, tuỳ theo từng gói
thầu dịch vụ cụ thể, tỷ trọng của tiêu chí này thường chiếm từ 0.35 đến 0.45 trong bộ tiêu
chí đánh giá, tức là chiếm từ 35 đến tối đa là 45 điểm trong thang điểm 100 của bộ tiêu chí.
Theo tiêu chí này, năng lực cung cấp dịch vụ của tư vấn được thể hiện ở các khía cạnh sau
đây :
2.1 Hiểu biết về nội dung công việc yêu cầu và sản phẩm tư vấn cần đạt
Để thực hiện và cung cấp được dịch vụ tư vấn theo đúng yêu cầu, việc Công ty tư
vấn phải hiểu biết rõ được các nội dung công việc và kết quả tư vấn cần đạt là điều kiện hết
sức cần thiết. Năng lực cung cấp dịch vụ thể hiện ở chỗ Công ty tư vấn hiểu biết về nội
dung công việc và kết quả ở mức độ như thế nào. Cụ thể sự hiểu biết của Công ty tư vấn
phải bao quát được các nội dung sau :
Bối cảnh của công việc.
Mối liên hệ giữa công việc với những công việc khác liên quan.
Nội dung chính cần thực hiện công việc.
Kết quả đầu ra của dịch vụ mà khách hàng cần.
Trong sơ đồ mời thầu, những thông tin cơ bản nhất về công việc và sản phẩm
thường được khách hàng cung cấp cho các Công ty tham gia đấu thầu. Tuy nhiên, Công ty
tư vấn phải tìm hiểu them từ những kênh thông tin khác nhau để có được những hiểu biết
đầy đủ về công việc yêu cầu trong một tổng thể chung và xác định được kết quả cuối cùng
mà khách hàng yêu cầu. Những hiểu biết về Công ty tư vấn về công việc và sản phẩm dịch
vụ càng đầy đủ và chính xác thì năng lực cung cấp dịch vụ của Công ty cang cao.
2.2 Những nhận xét và gơi ý cải thiện nội dung yêu cầu
Hiểu rõ các nội dung công việc cần thưc hiện và sản phẩm yêu cầu của khách hàng
gọi là “điều khoản tham chiếu” là một yếu tố cần thiết. Trong nhiều trường hợp, điều khoản
tham chiếu của khách hàng có thể sẽ có những hạn chế hoặc có những nội dung chưa hợp
lý do trong quá trình xây dựng chưa lường hết các vấn đề thực tế. Khách hàng thường yêu
11
cầu các Công ty tư vấn nghiên cứu đầy đủ điều khoản tham chiếu, phát hiện ra những hạn
chế và đưa ra một số gợi ý cải thiện. Năng lực cung cấp dịch vụ của Công ty tư vấn được
đánh giá cao khi Công ty phát hiện được những hạn chế của điều khoản tham chiếu và đề
xuất những gợi ý xác đáng và được khách hàng chấp thuận điều chỉnh.
Trong một số trường hợp, trong quá trình xây dựng điều khoản tham chiếu, khách
hang cố tình đưa ra những hạn chế, chẳng hạn như thời điểm giao nộp sản phẩm tư vấn
cuối cùng của tư vấn vào đúng dịp nghỉ Tết cổ truyền của Việt Nam, như là một “phép thử”
giành cho các Công ty tư vấn. Nhiệm vụ của các Công ty tư vấn khi tham gia đấu thầu là
phải nghiên cứu đầy đủ điều khoản tham chiếu, phát hiện ra tất cả những hạn chế và đưa ra
gợi ý thiết thực cho khách hàng nhằm thể hiện năng lực cung cấp dịch vụ của mình.
2.3 Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận
Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận là yếu tố đầu tiên quyết định sự thành
công hay thất bại của Công ty tư vấn đối với công việc. Tuỳ vào từng công việc nhất định,
Công ty tư vấn sẽ đưa ra một phương pháp luận và phương pháp tiếp cận cụ thể để đảm bảo
tính hiệu quả và tính toàn diện của phương pháp. Khách hàng luôn yêu cầu Công ty tư vấn
đưa ra được phương pháp luận và phương pháp tiếp cận thực hiện các nội dung công việc
trong điều kiện tham chiếu đảm bảo thực hiện hiệu quả và đủ linh hoạt để áp dụng đối với
những thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện công việc. Những vấn đề trong điều
khoản tham chiếu cần được Công ty tư vấn đề xuất giải quyết một cách sáng tạo và hiệu
quả. Trong quá trình đánh giá và lựa chọn, phương pháp tiếp cận của Công ty tư vấn nào
được đánh giá tốt thì Công ty đó được đánh giá có năng lực thực hiện và cung cấp dịch vụ.
Số điểm đánh giá phương pháp tiếp cận càng cao thì năng lực cung cấp dịch vụ càng cao và
ngược lại.
Trên thực tế, với từng lĩnh vực chuyên môn nhất định, mỗi Công ty tư vấn thường
có một cách tiếp cận khung đã được mô hình hoá thành một phương pháp tiếp cận đặc
trưng của Công ty đó. Chẳng hạn tập đoàn tư vấn Grant Thornton mô hình hoá phương
pháp tiếp cận thành sơ đồ các vòng tròn khép kin, mỗi một vòng tròn mô tả một bước thực
hiện công việc thể hiện các vấn đề cần giải quyết và kết quả đạt được từ việc giải quyết các
vấn đề đó. Công ty tư vấn và kiểm toán KPMG lại mô hình hoá phương pháp tiếp cận bằng
một sơ đồ chuỗi từ trái qua phải, mỗi một mắt xích mô tả một bước thực hiện công việc thể
12
hiện các vấn đề cần giải quyết và kết qủ đạt được từ việc giải quyết các vấn đề đó. Như
vậy, có thể thấy rằng phương pháp tiếp cận của từng công việc khác nhau là không giống
nhau nhưng các Công ty tư vấn thường cố gắng thể hiện phương pháp tiếp cận dưới dạng
một mô hính đặc trưng riêng mang màu sắc Marketing của Công ty.
2.4 Kế hoạch thực hiện công việc
Viêc đưa ra được một kế hoạch thực hiện phù hợp với yêu cầu trong điều khoản
tham chiếu là rất cần thiết cho Công ty tư vấn. Đây cũng là một yếu tố thể hiện năng lực
cung cấp dịch vụ của Công ty tư vấn. Khách hàng luôn yêu cầu các Công ty tư vấn đề xuất
được một kế hoạch thực hiện khớp với những yêu cầu trong điều khoản tham chiếu và hài
hoà với tiến trình chung của tổng thể. Tất cả các hoạt động chính được nêu trong điều
khoản tham chiếu cần phải được thể hiện trong kế hoạch công việc và lịch biểu thực hiện
(thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc) phải phù hợp với đầu r among muốn của khách
hàng và sử dụng tối ưu nguồn lực đầu vào. Kế hoạch công việc cần thể hiện được mối liên
hệ với phương pháp tiếp cận có tính thực tiễn cao và được thực hiện một cách hiệu quả.
Ngoài ra, một kế hoạch thực hiện tốt là kế hoạch đó phải có sư linh hoạt, đáp ứng được
những thay đổi bất thường trong quá trình triển khai và có giải pháp dự phòng. Công ty tư
vấn được đánh giá có năng lực thực hiện và cung cấp dịch vụ cao là Công ty đề xuất được
kế hoạch thực hiên công việc tốt.
Trên thực tế, các Công ty tư vấn thường thể hiện kế hoạch công việc dưới dạng
biểu đồ Gannt thông qua việc sử dụng phần mềm ứng dụng Microsoft Office Project. Ngoài
biểu thị bằng sơ đồ, các Công ty tư vấn thường có thêm phần thuyêt minh chi tiết trong bản
đề xuất. Sự kết hợp giữa sơ đồ và phần thuyêt minh mô tả bằng ngôn ngữ viết sẽ phần nào
thuận lợi cho khách hàng hiểu rõ hơn kế hoạch thực hiện công việc được Công ty đề xuất.
2.5 Tổ chức thực hiện
Tổ chức thực hiện là việc bố trí nguồn nhân lực để thực hiện kế hoạch công việc
được Công ty tư vấn đề xuất trong sơ đồ dự thầu. Cùng với phương pháp tiếp cận và kế
hoạch công việc phù hợp với điều khoản tham chiếu, khách hang luôn yêu cầu các Công ty
tư vấn đưa ra kế hoạch tổ chức thực hiện rõ rang, chi tiết phù hợp với công việc đã đề xuất,
13
trong đó các vị trí trong việc tổ chức thực hiện và quản lý công việc phải được xác định. Tổ
chức và bố trí nhân sự phải đưa ra được vị trí trưởng nhóm tư vấn, các chuyên gia chủ chốt
cho các vị trí công việc. Tất cả các chuyên gia được đề xuất tham gia thực hiện phải có
trình độ chuyên môn và kinh nghiệm phù hợp với yêu cầu trong điều khoản tham chiếu cho
từng vị trí. Tổ chức thực hiện và bố trí nhân sự hợp lý, đảm bảo đạt được sản phẩm đầu ra
theo yêu cầu của khách hàng thì năng lực cung cấp dịch vụ của Công ty mới được đánh giá
cao.
Trên thực tế, các Công ty tư vấn thường sơ đồ hoá kế hoạch tổ chức thực hiện đề
xuất trong hồ sơ dự thầu. Thêm vào đó, các Công ty tư vấn sẽ bổ sung phần thuyết minh
cho cơ cấu tổ chức quản lý và thực hiện bằng cách nêu rõ mối quan hệ giữa cán bộ chủ chốt
và các chuyên gia, mối liên hệ giữa các chuyên gia và mối liên hệ của nhóm chuyên gia với
khách hàng và các đối tượng thực hiện. Ngoài ra, một kế hoạch tổ chức thực hiện và bố trí
nhân sự tốt phải trình bày rõ chức năng của từng vị trí, từng chuyên gia và các công việc
mà các chuyên gia được đề xuất sẽ thực hiện trong suốt quá trình thực hiện công việc.
3. Nguồn nhân lực tham gia thực hiện công việc
Sản phẩm của tư vấn là sản phẩm trí tuệ mà các chuyên gia đề xuất thực hiện là
yếu tố quyết định chất lượng của dịch vụ tư vấn. Do đó, năng lực cung cấp dịch vụ của
Công ty tư vấn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của
các chuyên gia. Do đặc điểm này, các nhà tài trợ cũng dựa vào yếu tố này để đánh giá và
xác định năng lực của nhà thầu tư vấn. Điểm đánh giá đội ngũ nhân sự do nhà thầu tư vấn
đề xuất càng cao thì nhà thầu càng có năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn. Trong bộ tiêu chí
đánh giá năng lực của Công ty tư vấn, tuỳ theo từng gói thầu dịch vụ cụ thể, tỷ trọng của
tiêu chí đánh giá trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của các đội ngũ nhân sự đề xuất
thường chiếm tỷ trọng từ 0.4 đến 0.5 trong bộ tiêu chí đánh giá, tức là chiếm 40 đến 50
điểm trong thang điểm 100 của bộ tiêu chí.
Lý lịch khoa học, được gọi tắt là “CV”, của chuyên gia hầu như là cơ sở duy nhất
để đánh giá sự phù hợp của chuyên gia được đề xuất với yêu cầu về chuyên môn và kinh
nghiệm cho từng vị trí công việc được mô tả trong điều khoản tham chiếu. Trong những
trường hợp cần thiết, khách hàng có thể sử dụng them phương pháp phỏng vấn để đánh giá
chính xác hơn sự phù hợp của chuyên gia đối với công việc yêu cầu.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét