Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Quyết định ban hành kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược dân số- Sức khỏe sinh sản tỉnh Hòa Bình giai đoạn năm 2011-2020

* Nguồn địa phương
1000đ 30,000,000

-
5,000,00
0
8,000,000
8,000,0
00
9,000,0
00
13
Đề án thành lập Bệnh viện Sản Nhi 1000đ 100,000,000

-

Trong đó: * Nguồn Trung ương 1000đ -

-
- -

-

-
* Nguồn địa phương
1000đ 100,000,000

-
- -
50,000,0
00
50,000,0
00
14
Cải thiện sức khỏe sinh sản cho người cao tuổi 1000đ 5,300,000

-
1,000,00
0
1,300,000
1,500,0
00
1,500,0
00
Trong đó: * Nguồn Trung ương 1000đ -

-
- -

-

-
* Nguồn địa phương
1000đ 5,300,000

-
1,000,00
0
1,300,000
1,500,0
00
1,500,0
00
Ghi chú: * Ngân sách địa phương hỗ trợ phụ cấp cộng tác viên từ năm 2012 là 0,1 hệ số lương cơ bản. Theo lộ trình tăng lương dự kiến là: 83.000 (2012);
93.000 (2013); 103.000đ (2014) và 120.000đ /người/tháng ( 2015).
* Nguồn ngân sách chương trình mục tiêu quốc gia dân số (nguồn Trung ương) dự kiến mỗi năm tăng thêm 30% kế hoạch ngân sách năm trước đó.

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HÒA
BÌNH
5

KẾ HOẠCH
Hành động thực hiện Chiến lược Dân số
và Sức khỏe sinh sản tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011 - 2015
(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-UBND ngày tháng 03 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình)
–––––––––––
Căn cứ Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khỏe
sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020; Công văn số 7668/BYT-TCDS ngày 29/11/2011 của Bộ Y tế về việc triển khai thực hiện
Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 - 2020; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch hành động thực hiện
Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011 - 2015, như sau:
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC DS - KHHGĐ,
CHĂM SÓC SKSS GIAI ĐOẠN 2001-2010
I- MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1. Tỷ lệ giảm sinh được duy trì và đạt mục tiêu mức sinh thay thế
- Trong những năm qua, tỷ suất sinh thô (CBR) năm sau đều giảm hơn năm trước, cụ thể từ 26,83‰ năm 2001 xuống còn
17,70‰ năm 2010. Đặc biệt tổng tỷ suất sinh (TFR) giảm khá nhanh từ 2,31 con/phụ nữ năm 2001 giảm còn 1,95 con/phụ nữ vào
năm 2010. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm từ 9,2% năm 2001 xuống còn 3,9% năm 2010.
- Kết quả giảm sinh còn làm thay đổi rõ rệt cơ cấu dân số theo tuổi. Tỷ số phụ thuộc chung có xu hướng giảm mạnh. Theo
tổng điều tra dân số năm 2009, dân số trong độ tuổi lao động (15 - 59) chiếm 68,51%, tỷ lệ trẻ em 0 - 14 tuổi chiếm 23,75% ; “cơ
cấu dân số vàng”, tạo lợi thế về nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội.
7
- Thành tựu nổi bật về giảm sinh tạo tiền đề vững chắc để sớm ổn định quy mô dân số, góp phần quan trọng vào sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
2. Chất lượng dân số được nâng lên
- Tuổi thọ bình quân tăng từ 63,1 tuổi tăng lên 71,5 tuổi. Như vậy sau 10 năm tuổi thọ bình quân đã tăng thêm 8,4 tuổi.
- GDP bình quân đầu người tăng, dẫn đến chất lượng cuộc sống của người dân và các dịch vụ cung cấp ngày càng nâng
cao. Chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2001 đạt 0,645 đến năm 2010 đạt 0,723 (toàn quốc chỉ số HDI năm 2010: 0,725).
- Nhiều mô hình nâng cao chất lượng dân số được triển khai tại một số địa phương trong tỉnh như mô hình can thiệp giảm
thiểu mắc bệnh tan máu bẩm sinh, tư vấn tiền hôn nhân, can thiệp giảm thiểu tình trạng tảo hôn ở một số dân tộc vùng sâu, vùng
xa của tỉnh.
3. Tình trạng Sức khỏe sinh sản của người dân được cải thiện
Nhiều chỉ tiêu về chăm sóc SKSS đạt sớm hơn so với kế hoạch và tốt hơn so với một số tỉnh có cùng mức thu nhập bình
quân đầu người và điều kiện tương tự. Sau 10 năm tỷ số chết mẹ giảm từ 34,8/100.000 xuống còn 14/100.000 trẻ đẻ sống; Tỷ suất
chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 23,5‰ xuống 16,8‰; Tỷ lệ suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 38,7%
xuống 22,7%; Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) hiện đại tăng từ 73% lên 79,2%. Các BPTT ngày càng đa dạng hóa, đáp
ứng nhu cầu lựa chọn của người sử dụng.
4. Nhận thức về dân số và sức khỏe sinh sản có chuyển biến tích cực
- Kiến thức của người dân về chăm sóc sức khỏe sinh sản được nâng cao.
- Tỷ lệ phụ nữ khám thai ít nhất 3 lần trong thai kỳ, tỷ lệ tiêm phòng uốn ván đủ mũi, sinh con tại cơ sở y tế và sử dụng biện
pháp tránh thai hiện đại đạt cao.
- Kiến thức của vị thành niên, thanh niên về dân số và sức khỏe sinh sản, phòng tránh thai, phòng chống bệnh lây qua
đường tình dục và HIV/AIDS được nâng cao.
5. Mạng lưới dịch vụ y tế được củng cố và phát triển
- Mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình được tăng cường từ tỉnh đến cơ sở.
Trình độ cán bộ y tế ngày càng được nâng cao thông qua đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao và giám sát lồng ghép.
- Trung tâm Y tế dự phòng các huyện, thành phố có khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản; các Trung tâm Dân số - KHHGĐ các
huyện, thành phố được sự hỗ trợ của dự án hợp tác với UNFPA, hầu hết nữ hộ sinh, y sỹ sản nhi được đào tạo các kiến thức và kỹ
năng cơ bản về chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình theo Chuẩn Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản.
8
II- NHỮNG HẠN CHẾ
1. Chất lượng dân số còn thấp so với mức trung bình toàn quốc
- Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng lên nhưng vẫn nằm trong nhóm các tỉnh có chỉ số phát triển con người ở mức
trung bình thấp so với toàn quốc.
- Tuổi thọ bình quân có sự chuyển biến rõ rệt nhưng vẫn thấp hơn so với tuổi thọ bình quân của toàn quốc (Năm 2010: 71,5
tuổi; Toàn quốc: 72,8 tuổi).
- Cùng với sự tăng nhanh của dân số trong độ tuổi lao động, tuổi thọ bình quân tăng lên thì dân số của tỉnh đang dần đối
mặt với tốc độ già hóa dân số. Dân số từ 60 tuổi trở lên chiếm 7,73%.
- Cơ cấu “Dân số vàng” là lợi thế, tuy nhiên lực lượng lao động trẻ chiếm trên 70% sống ở khu vực nông thôn, miền núi
với điều kiện còn khó khăn, không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, việc làm thu nhập thấp, do vậy còn hạn chế trong việc phát
huy cơ hội dân số vàng.
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi có giảm mạnh nhưng vẫn còn cao so với toàn quốc. Tình trạng thừa cân béo phì
ở trẻ em đang có dấu hiệu gia tăng, đặc biệt là ở khu vực thành phố.
- Tỷ lệ mắc bệnh và người mang gen bệnh tan máu bẩm sinh (Thalassemia) trong cộng đồng dân tộc Mường cao (Kim Bôi
23%, toàn quốc 12,5%).
2. Tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh cao
Tỷ số giới tính khi sinh tăng nhanh một cách bất thường trong 05 năm gần đây, là một trong 5 tỉnh có tỷ số giới tính khi
sinh cao nhất so với toàn quốc. Tỷ số giới tính khi sinh năm 2010 là 118% (118 trẻ trai/100 trẻ gái), tỷ lệ này đối với toàn quốc là
111%.
3. Nội dung, hình thức truyền thông chưa thật phù hợp
- Nội dung và hình thức truyền thông chưa thật phù hợp, sản phẩm truyền thông chưa đáp ứng được cả về số lượng, chất
lượng, còn thiếu các sản phẩm dành cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
- Việc xây dựng các mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng chưa được thực sự quan tâm chỉ đạo, tổ chức triển khai, tổng
kết rút kinh nghiệm.
4. Một số nội dung về KHHGĐ và CSSKSS chưa được giải quyết tốt
- Tỷ lệ nạo phá thai ở vị thành niên, thanh niên còn cao.
9
- Dự phòng và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản/bệnh lây truyền qua đường tình dục (RTI/STI) còn hạn chế, tỷ
lệ phụ nữ mắc bệnh viêm nhiễm đường sinh sản cao (65%).
- Chưa triển khai sàng lọc phát hiện ung thư vú và ung thư cổ tử cung .
- Sự liên kết dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản với phòng chống HIV/AIDS chưa trở thành thường quy.
III- NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Nguyên nhân thành công
- Sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của ban, ngành, đoàn thể các cấp, sự tham mưu tích cực
của đội ngũ cán bộ làm công tác Dân số -KHHGĐ, y tế.
- Triển khai đồng bộ các giải pháp chuyên môn từ truyền thông thay đổi hành vi đến đáp ứng dịch vụ chăm sóc Sức khỏe
sinh sản - KHHGĐ.
- Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày càng nâng cao; 60,95 % xã, phường, thị trấn có bác sỹ, 100% Trạm
Y tế xã, phường, thị trấn có Nữ hộ sinh hoặc Y sỹ Sản - Nhi. Cơ sở vật chất, trang thiết bị được được đầu tư nâng cấp, đáp ứng
dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - KHHGĐ.
- Có sự hỗ trợ của dự án hợp tác với UNFPA trong 2 chu kỳ.
- Điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được nâng lên, nhận thức của đại bộ phận nhân dân về
công tác Dân số -KHHGĐ và chăm sóc Sức khỏe sinh sản ngày càng cao.
2. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
- Một số cấp uỷ Đảng, chính quyền, nhất là ở cơ sở thực hiện chính sách dân số chưa nghiêm, một số cán bộ, đảng viên
chưa gương mẫu thực hiện chính sách này.
- Sự phối hợp của một số cơ quan, ban, ngành trong việc tổ chức thực hiện công tác Dân số - KHHGĐ và chăm sóc sức
khỏe sinh sản chưa được thường xuyên, chặt chẽ.
- Công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền chưa tạo được sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức và tâm lý trong thực hiện
chính sách dân số, còn tư tưởng trọng nam, khinh nữ.
- Công tác Dân số - KHHGĐ trong những năm qua chỉ tập trung vào mục tiêu giảm sinh, ổn định quy mô dân số, các vấn
đề cơ cấu dân số, chất lượng dân số chưa được chú trọng và chưa có kinh phí đầu tư.
3. Những bài học kinh nghiệm
10
- Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, đi đôi với việc kiểm tra thường xuyên sâu sát và
nâng cao trách nhiệm của lãnh đạo các cơ quan đơn vị.
- Phát huy sức mạnh của các ban, ngành, đoàn thể trên cơ sở hợp đồng trách nhiệm, lồng ghép nội dung Dân số - KHHGĐ và
SKSS với chương trình công tác thường xuyên của các ngành, các cấp, các đoàn thể xã hội. Xã hội hóa công tác Dân số -
KHHGĐ và chăm sóc SKSS, thu hút sự tham gia tích cực của cả cộng đồng dân cư.
- Công tác truyền thông phải được đặc biệt quan tâm, truyền thông thay đổi hành vi phải được đổi mới cả nội dung lẫn phương
pháp, địa bàn triển khai có trọng tâm, trọng điểm, đúng nhóm đối tượng, đi đôi với việc đáp ứng kịp thời đa dạng các dịch vụ chăm sóc
SKSS - KHHGĐ.
- Ưu tiên đầu tư kinh phí cho chương trình Dân số - KHHGĐ và chăm sóc SKSS là đầu tư cho phát triển.
- Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá quá trình triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ nhằm phát hiện những yếu kém, sai
sót và có biện pháp uốn nắn kịp thời.
IV- PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DÂN SỐ - KHHGĐ VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN
1. Cung ứng dịch vụ về Dân số - KHHGĐ và CSSKSS
a) Cung ứng dịch vụ về dân số:
- Hiện tại khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em của các cơ sở y tế đã được cải thiện rõ rệt đặc biệt
các nhóm dịch vụ về kế hoạch hóa gia đình và làm mẹ an toàn.
- Tăng cường đưa dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ đến vùng đông dân, vùng có mức sinh cao và vùng khó khăn trên địa bàn
tỉnh. Dịch vụ KHHGĐ đã thực hiện mục tiêu đa dạng hóa các biện pháp tránh thai, đảm bảo thuận tiện, an toàn hơn so với trước
đây.
- Tuyến xã: Năm 2010 có 95% xã thực hiện đặt dụng cụ tử cung; 76,7% xã thực hiện hút thai; 100% xã thực hiện tiêm
thuốc tránh thai; 79,2% các cặp vợ chồng áp dụng các BPTT hiện đại.
b) Cung ứng dịch vụ SKSS:
- Công tác quản lý thai nghén, chăm sóc trước sinh được triển khai thực hiện tại tất cả các tuyến: Tỷ lệ phụ nữ đẻ được
quản lý thai nghén 99,7%, tỷ lệ khám thai đủ 3 lần đúng lịch đạt 79,9%, tỷ lệ đẻ tại các cơ sở y tế đạt 99,4%.
11
- Năng lực cung cấp dịch vụ cấp cứu sản khoa thiết yếu cơ bản của các trạm y tế đã được cải thiện, tỷ lệ trạm y tế có người
đến đẻ đạt chuẩn về cấp cứu sản khoa thiết yếu cơ bản chiếm 63%, Năng lực cấp cứu sản khoa thiết yếu toàn diện của bệnh viện
huyện tương đối tốt, 7/11 bệnh viện tuyến huyện có khả năng mổ đẻ và truyền máu.
- Công tác chăm sóc và cấp cứu sơ sinh cũng được cải thiện rõ rệt: 100% trạm y tế có sản phụ đẻ tại trạm, có góc hồi sức
sơ sinh và thực hiện hồi sức sơ sinh ngạt sau đẻ; 100% các cơ sở y tế tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ bà mẹ cho con bú trong giờ
đầu sau đẻ; 97,4% trạm y tế thực hiện tiêm Vitamin K1 cho trẻ sơ sinh; 5/11 bệnh viện tuyến huyện có đơn nguyên sơ sinh hoạt
động hiệu quả; đơn nguyên sơ sinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh thực hiện được các kỹ thuật cao và có khả năng đào tạo, chuyển giao
kỹ thuật, giám sát chăm sóc và cấp cứu sơ sinh cho tuyến huyện. Hiện nay, còn 6/11 bệnh viện tuyến huyện chưa có cán bộ được
đào tạo về chăm sóc và cấp cứu sơ sinh cơ bản và chưa triển khai đơn nguyên sơ sinh theo quy định của Bộ Y tế.
2. Nhân lực
- Hệ thống tổ chức bộ máy Dân số - KHHGĐ các cấp dần ổn định đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
- Cán bộ làm công tác Chăm sóc sức khỏe sinh sản còn thiếu, trình độ chuyên môn còn hạn chế.
+ Tuyến tỉnh: Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản thiếu cán bộ chuyên khoa sâu về Sản, do
vậy khó khăn triển khai các kỹ thuật mới, kỹ thuật chuyên sâu. Tình trạng bệnh nhân vượt tuyến, chuyển tuyến trên còn phổ biến.
+ Tuyến huyện: Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản của Trung tâm Y tế dự phòng và Khoa sản Bệnh viện Đa khoa các
huyện, thành phố thiếu bác sỹ được đào tạo về Sản khoa nên gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện, giám sát và
chuyển giao kỹ thuật cho tuyến xã.
+ Tuyến xã: 100% Trạm Y tế có Nữ hộ sinh hoặc Y sỹ sản nhi thuận lợi đối với chuyên trách về công tác chăm sóc sức
khỏe sinh sản ở tuyến xã. Qua 2 chu kỳ can thiệp của dự án UNFPA cán bộ tuyến xã hầu hết được đào tạo Chuẩn Quốc gia và
được giám sát hỗ trợ kỹ thuật.
3. Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thuốc thiết yếu
a) Trụ sở làm việc:
- Toàn tỉnh có 11 Trụ sở làm việc của Trung tâm Dân số - KHHGĐ cấp huyện và Trung tâm Tư vấn dịch vụ KHHGĐ thuộc
Chi cục Dân số - KHHGĐ, trong đó 06/11 Trung tâm có Trụ sở độc lập, thuận tiện cho việc cung cấp dịch vụ đối với khách hàng;
còn 05/11 Trung tâm Dân số -KHHGĐ huyện có trụ sở nằm trong khuôn viên của UBND huyện, không phù hợp cho công tác
tuyên truyền, tư vấn và cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
12
- Hệ thống Chăm sóc SKSS: Trụ sở làm việc của Trung tâm Chăm sóc SKSS chật hẹp, chưa được cải tạo, nâng cấp, không
đủ phòng để triển khai các dịch vụ theo nhiệm vụ của Trung tâm; Trung tâm Y tế dự phòng tuyến huyện mới được thành lập, hầu
hết đang trong thời gian đầu tư xây dựng; Khoa Chăm sóc SKSS thuộc Trung tâm Y tế dự phòng chưa đủ phòng để triển khai thực
hiện các nhiệm vụ theo quy định; Ở tuyến xã: Theo quy định Chuẩn Quốc gia thì mỗi trạm y tế phải có 6 phòng để triển khai các
dịch vụ chăm sóc SKSS, nếu không đủ thì tối thiểu phải có 4 phòng. Tuy vậy, tỷ lệ trạm y tế có ít nhất 4 phòng kỹ thuật rất thấp
(3,3%).
b) Trang thiết bị:
- Hệ thống Dân số: Cấp huyện, cấp xã được trang bị phương tiện truyền thông đợt I (1996-2000) và đợt II (2001-2005) hiện
nay mất, hỏng đã xuất hủy hoặc không đồng bộ, hầu hết các đơn vị không đủ phương tiện truyền thông, khi hoạt động phải mượn
hoặc lồng ghép với các chương trình khác; Hệ thống máy tính của Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện, thành phố phần lớn được
trang bị từ năm 2006 đến nay một số đã bị hỏng, số còn lại tốc độ chậm, rất khó khăn cho việc cập nhật thông tin và báo cáo;
nhiều đơn vị không đủ bàn, ghế, tủ đựng tài liệu cho cán bộ làm việc.
- Trung tâm Chăm sóc SKSS tỉnh và Trung tâm Y tế dự phòng các huyện, thành phố thiếu trang thiết bị, đặc biệt là trang
thiết bị phục vụ cho công tác xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh.
- Các bệnh viện tuyến huyện: Ngoài 5/11 bệnh viện tuyến huyện được dự án UNFPA hỗ trợ về trang thiết bị cho đơn
nguyên sơ sinh, 6/11 bệnh viện còn lại thiếu trang thiết bị chăm sóc và hồi sức sơ sinh cơ bản như: Bộ hồi sức sơ sinh, máy thở
CPAP, lồng ấp, đèn chiếu vàng da, giường sưởi ấm.
- Trạm Y tế: Tỷ lệ trạm y tế có đủ 7 loại trang thiết bị thiết yếu theo Chuẩn Quốc gia chỉ chiếm 53%. Một số trang thiết bị
thiết yếu khác như: Nồi hấp ướt, tủ sấy khô, thiếu phương tiện chẩn đoán đơn giản như: Thử protein niệu, định lượng huyết sắc tố.
c) Thuốc thiết yếu:
- Tuyến tỉnh và tuyến huyện đủ thuốc cấp cứu, điều trị sản khoa, sơ sinh.
- Tuyến xã: Các trạm y tế hầu như không đủ các thuốc thiết yếu theo Chuẩn quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản theo
quy định, chỉ có 33,3% trạm y tế đạt trên 75% Chuẩn quốc gia về thuốc thiết y.
4. Tài chính và đầu tư cho DS - SKSS
Kinh phí đầu tư cho lĩnh vực Dân số - KHHGĐ và chăm sóc sức khỏe sinh sản từ Chương trình mục tiêu quốc gia dân số -
KHHGĐ và hỗ trợ của UNFPA.
13
5. Thông tin, số liệu về DS và SKSS chưa đáp ứng nhu cầu quản lý, xây dựng kế hoạch và chính sách
- Thông tin, số liệu về DS và SKSS còn thiếu chính xác, chưa đầy đủ, kịp thời, giữa các nguồn số liệu còn sự khác biệt.
Công tác nghiên cứu, phân tích, dự báo các vấn đề DS và SKSS còn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, điều hành.
- Việc sử dụng các thông tin về dân số vào công tác quy hoạch, lập kế hoạch phát triển chưa trở thành quy trình bắt buộc
trong công tác kế hoạch hóa và hoạch định chính sách của các ngành, các địa phương trong tỉnh.
Phần thứ hai
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
DÂN SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
I- CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
1. Cơ sở pháp lý
- Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh
sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.
- Công văn số 7668/BYT-TCDS ngày 29/11/2011 của Bộ Y tế về việc triển khai thực hiện Chiến lược Dân số - Sức khỏe
sinh sản 2011 - 2020;
- Quyết định số 2565/QĐ - BYT ngày 17/7/2009 của Bộ Y tế ban hành Kế hoạch hành động Quốc gia vì sự sống còn trẻ em
giai đoạn 2009-2015;
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XV, nhiệm kỳ 2011 - 2016.
- Nghị quyết số 131/2009/NQ-HĐND ngày 29/7/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hoà Bình về công tác Dân số - KHHGĐ
giai đoạn 2009 - 2010 và định hướng đến năm 2015.
- Kế hoạch số 740/KH-UBND ngày 16/6/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hoà Bình về việc thực hiện Nghị quyết số
131/2009/NQ-HĐND về công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình.
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011- 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình.
- Một số kết quả và khuyến nghị chính từ Chương trình Quốc gia 7 hợp tác với UNFPA.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét