Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 1988 - 201

xuất giữa các quốc gia và những trở ngại trong hoạt động thương mại quốc tế đã hình thành
và phát triển quan hệ đầu tư giữa các quốc gia. Dưới góc độ nước tiếp nhận đầu tư, để phát
triển một số ngành sản xuất với điều kiện chưa cho phép hoặc sản xuất với chi phí cao thay vì
phải nhập khẩu, quốc gia tiếp nhận đầu tư đã kêu gọi đầu tư từ những quốc gia có thế mạnh
về những ngành công nghiệp đó. Dưới góc độ của nước đi đầu tư, từ những nước này mong
muốn đầu tư tại những nước có trình độ phát triển thấp hơn để tận dụng chi phí sản xuất rẻ và
khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Tại những nước công nghiệp phát triển, do phải đối mặt với môi trường cạnh tranh
gay gắt nên tỷ xuất lợi nhuận của các doanh nghiệp của những quốc gia này là rất thấp. Do
vậy, các doanh nghiệp thường có xu hướng chuyển vốn, công nghệ và tài sản ra những nước
có môi trường cạnh tranh kém hơn so chi phí sản xuất rẻ hơn nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn và đạt được tỷ xuất lợi nhuận cao hơn.
Các nước đang phát triển đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thường đối mặt với vấn đề thiếu vốn, công nghệ tiên
tiến và trình độ quản lý. Chính vì những nhu cầu này đã tạo điều kiện cho việc di chuyển
vốn, công nghệ và trình độ quản lý từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước phát
triển.
Xu hướng bảo hộ mậu dịch ngày càng tăng nên đầu tư nước ngoài là một biện pháp
hữu hiệu nhằm xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường ; tránh được hàng rào bảo hộ thuế quan;
giảm chi phí vận chuyển hàng hoá.
Các nhà kinh tế học xã hội chủ nghĩa mà đại diện là Lênin cho rằng sự phát triển của
đầu tư trực tiếp nước ngoài dựa trên xuất khẩu tư bản. Khi nghiên cứu giai đoạn phát triển
của chủ nghĩa tư bản, Lênin đã nêu ra một trong năm đặc trưng quan trọng của chủ Nghĩa đế
quốc đó là xuất khẩu của đó là xuất khẩu tư bản. Theo Lênin: “Điểm điển hình của chủ
nghĩa tư bản cũ, trong đó sự cạnh tranh tự do còn hoàn toàn thống trị, là việc xuất khẩu
hàng hoá . Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản mới nhất, trong đó tổ chức độc quyền thống trị là
việc xuất khẩu tư bản“ (Lênin : tác phẩm “chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”).
Xuất khẩu tư bản là một nhu cầu tất yếu khách quan. Bởi vì, tại một số nước phát triển đã
tích luỹ được một số lượng tư bản kếch sù và một bộ phận đã trở thành “tư bản thừa” do
không tìm được nơi có tỷ xuất lợi nhuận cao ở trong nước. Các nước phát triển muốn xuất
khẩu tư bản của mình để tranh thủ lao động, nguyên vật liệu, tài nguyên thiên nhiên rẻ…Ở
các nước kém phát triển, thiếu tư bản.
5
Bên cạnh việc lý giải nguyên nhân của đầu tư nước ngoài thông qua xuất khẩu
tư bản, các nhà kinh tế học xã hội chủ nghĩa cho rằng chủ nghĩa tư bản đã thiết lập quan hệ
đầu tư quốc tế từ các nước tư bản phát triển sang các nước thuộc địa nhằm tìm kiếm lợi
nhuận, khai thác tài nguyên thiên nhiên và duy trì sự áp bức bóc lột tại hệ thống do mình
quản lý.
1.1.2 Khái niệm, bản chất và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước
ngoài
1.1.2.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Gần đây, khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được nhiều tổ chức kinh tế quốc tế
đưa ra nhằm mục đích giúp các quốc gia hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô về FDI, tạo
điều kiện thúc đẩy hoạt động tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế và phân loại, sử dụng
trong công tác thống kê quốc tế. Quỹ tiền tệ thế giới ( International Moneytary Fund – IMF),
trong báo cáo cán cân thanh toán hàng năm đã đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước
ngoài như sau:
“ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại
một nước khác( nước nhận đầu tư – hosting country, không phải tại nước mà doanh nghiệp
đang hoạt động( nước đi đầu tư – source cuontry) với mục đích quản lý một cách có hiệu
quả doanh nghiệp”
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ( Organisation for Economic Cooperation
and development – OECD) cũng đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài tương tự
như IMF. Tuy vậy, OECD có quan niệm rất rộng về nhà đầu tư nước ngoài. Theo quan điểm
của OECD, nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân hoặc tổ chức có thể thuộc cơ quan chính phủ
hoặc không thuộc cơ quan chính phủ đầu tư tại nước ngoài.
(1)

Uỷ ban thương mại và phát triển của Liên hợp quốc ( UNCTAD), trong báo
cáo đầu tư thế giới năm 1996
(2)
đã đưa ra định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
“ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ lợi ích và sự kiểm soát lâu dài
của một pháp nhân hoặc thể nhân ( nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với
một doanh nghiệp có một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nước ngoài
hoặc chi nhánh doanh nghiệp)”.
6
UNCTAD còn đưa ra một số khái niệm khác có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, dòng vốn FDI ra và dòng vốn FDI vào là vốn được nhà đầu tư nước ngoài
đầu tư vào doanh nghiệp FDI tại nước tiếp nhận đầu tư.
Cùng với khái niệm này, có ba khái niệm sau:
- Vốn đầu tư cổ phần là cổ phần của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài mua từ doanh
nghiệp ở nước tiếp nhận đầu tư, không phải cổ phần của doanh nghiệp trong nước tại nước đi
đầu tư.
- lợi nhuận tái đầu tư là cổ tức không được chuyển cho nhà đầu tư nước ngoài mà
được giữ lại nhằm mục đích tái đầu tư.
- Các giao dịch vay và nợ bên trong công ty là các khoản vay ngắn hạn và dài hạn
giữa công ty mẹ và công ty thành viên.
Thứ hai, vốn cổ phần đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign – Direct – Investment
Istock) là giá trị cổ phần và vốn dự trữ ( bao gồm cả lợi nhuận giữ lại) thuộc về công ty mẹ
cộng thêm các khoản nợ ròng của các công ty thành viên.
Qua các định nghĩa về FDI, có thể rút ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài
như sau: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ
tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát
doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi”.
1.1.2.2Các hình thức cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài :
Xét theo mục đích đầu tư, FDI được phân làm 2 loại: đầu tư theo chiều ngang và đầu
tư theo chiều dọc.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang ( horizontal FDI): là việc một công ty
tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài vào chính ngành sản xuất mà họ đang có lợi thế cạnh
tranh một loại sản phẩm nào đó. Với lợi thế này họ muốn tìm lợi nhuận cao hơn ở nước ngoài
nên đã mở rộng và thôn tính thị trường nước ngoài. Hình thức này dẫn đến cạnh tranh độc
quyền mà Mỹ, đang dẫn đầu việc đầu tư này ở các nước phát triển.
7
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc (vertical FDI): khác với các hình thức
đầu tư theo chiều ngang, hình thức đầu tư theo chiều dọc với mục đích khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ như lao động đất đai và các nước nhận đầu tư.
Do các nhà đầu tư thường chú ý khai thác cạnh tranh của các yếu tố đầu vào giữa các khâu
trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm trong phân công lao động quốc tế, nên các sản
phẩm thường được hoàn thiện qua lắp ráp ở các nước nhận đầu tư. Sau đó các sản phẩm này
lại được nhập khẩu về nước đầu tư hay xuất khẩu sang nước khác. Đây là hình thức khá phổ
biến của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển.
- Xét về hình thức sở hữu đầu tư trực tiếp nước ngoài thường thường có các hình thức
sau:
+ Hình thức doanh nghiệp liên doanh: đây là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài,
qua đó pháp nhân mới được thành lập gọi là doanh nghiệp liên doanh. Doanh nghiệp
mới do hai hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồng liên
doanh, hình thức này có đặc trưng: pháp nhân mới được thành lập theo hình thức công ty
trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước chủ nhà. Mỗi bên tham
gia vào doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân riêng. Nhưng doanh nghiệp liên doanh là
một pháp nhân độc lập với các bên tham gia. Khi các bên đã đóng góp đủ số vốn đã quy định
vào liên doanh thì dù một bên có phá sản, doanh nghiệp liên doanh vẫn tồn tại. Mỗi bên liên
doanh chịu trách nhiệm với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần vốn
góp của mình vào vốn pháp định.
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của
tổ chức cá nhân nước ngoài, được hình thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài và do tổ chức
hoặc cá nhân nước ngoài thành lập, tự quản lý điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về
kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp này được hình thành dưới dạng các công ty trách nhiệm
hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam.
- Vốn pháp định cũng như vốn đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài đóng góp, vốn
pháp định ít nhất bằng 30% vốn đầu tư của doanh nghiệp.
+ Hình thức hợp tác kinh doanh dựa trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh. Đây là
hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết giữa hai hay
nhiều bên ( gọi là các bên hợp tác kinh doanh) để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh
8
doanh ở nước nhận đầu tư trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh
cho mỗi bên tham gia mà không cần lập xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân mới hình thức
này không làm hình thành một công ty hay một xí nghiệp mới. Mỗi bên vẫn hoạt động với tư
cách là pháp nhân độc lập của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình trước nhà nước.
 Ngoài ba hình thức cơ bản trên, theo nhu cầu đầu tư về hạ tầng, các công trình xây
dựng còn có hình thức:
+ Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyển giao ( BOT) và một phương pháp đầu tư
trực tiếp dựa trên cơ sở được ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài ( có thể là tổ chức cá
nhân nước ngoài đầu tư nước ngoài ( có thể là tổ chức cá nhân nước ngoài) với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian
nhất định, hết thời gian nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình cho
các nước chủ nhà.
- Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao thường được thực hiện bằng 100%
vốn nước ngoài, cũng có thể được thực hiện bằng vốn nước ngoài và phần vốn góp của chính
phủ hoặc các tổ chức, cá nhân của nước chủ nhà. Trong hình thức đầu tư này, các nhà đầu tư
nước ngoài có toàn quyền tổ chức xây dựng kinh doanh công trình trong một thời gian đủ thu
hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý, sau đó có nghĩa vụ chuyển giao cho nước chủ nhà mà
không được bồi hoàn bất kỳ khoản tiền nào.
+ Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh và phương thức đầu tư dựa trên
văn bản ký kết giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà
đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kinh doanh kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng song
nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Nước chủ nhà có thể dành
cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn
đầu tư và lợi nhuận hợp lý
+ Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT): là một phương thức đầu tư trực tiếp nước
ngoài trên cơ sở văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và
nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà
đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà. Chính phủ nước chủ nhà tạo
điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận
hợp lý.
9
1.1.2.3) Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đối với Bản chất của FDI thể hiện rõ hơn qua việc xem xét nó dưới góc độ khác nhau dưới
đây:
- Đối với nhà đầu tư: việc theo đuổi lợi nhuận dựa trên cơ sở phát huy lợi thế cạnh
tranh là động cơ xuyên suốt của các nhà đầu tư nước ngoài thúc đẩy họ tìm đến các quốc gia
khác có những yếu tố thuận lợi hơn có thể khai thác tạo ra luồng đầu tư ra khỏi biên giới
quốc gia. Ngoài việc tận dụng lợi thế so sánh như nhân công rẻ, nguồn tài nguyên vật liệu rồi
rào, địa điểm tiêu thụ thuận lợi, nhà đầu tư còn quan tâm tranh thủ chính sách khuyến khích
tạo thuận lợi của nước tiếp nhận đầu tư để tăng lợi nhuận, mở rộng thêm thị phần và tăng nhà
đầu tư, FDI là công cụ, phương tiện thực hiện chiến lược kinh doanh của mình. Nhưng cũng
chính thông qua FDI mà các công ty đa quốc gia mở rộng hoạt động của mình ra quốc tế và
trở thành công ty xuyên quốc gia; như vậy giữa FDI và các công ty xuyên quốc gia có mối
quan hệ gắn bó với nhau như “hình với bóng”.
- Đối với nước tiếp nhận đầu tư: FDI là nguồn lực đầu tư từ bên ngoài có ý nghĩa
trong phát triển kinh tế, đối với cả các nước đang phát triển và các nước công nghiệp đã phát
triển.
 Đối với các nước phát triển, nhu cầu bổ xung vốn không phải là chủ yếu, yếu tố gia
tăng phân công lao động và hợp tác quốc tế nhằm tăng năng xuất, hiệu quả sử dụng nguồn
lực có ý nghĩa quan trọng hơn. Nhưng đối với các nước đang phát triển, do quy mô và tỷ lệ
tích lũy trong nước còn thấp thu hút FDI là hình thức huy động nguồn lực bên ngoài quan
trọng có nhiều ưu điểm để bổ xung vốn đầu tư, cải tiến công nghệ, thúc đẩy tăng trưởng và
phát triển nền kinh tế. Đối với một số nước nghèo chậm phát triển FDI không chỉ đơn thuần
là nguồn lực bổ xung từ bên ngoài, mà còn có thể được coi như một lối thoát nhằm tạo ra “cú
hích” từ bên ngoài, và phá vỡ “ vòng luẩn quẩn của đói nghèo”. Như nhà kinh tế học P.A.
Samuelson và nhiều nhà kinh tế học khác từng đề cập. Tuy nhiên không phải tất cả các nước
nghèo đều có thể đi lên, thoát nghèo rút ngắn được khoảng cách về trình độ phát triển bằng
con đường thu hút FDI, vì thu hút FDI có những đòi hỏi nhất định và có tính 2 mặt. Để thu
hút được nhiều vốn FDI, nước tiếp nhận phải tạo được môi trường ổn định về chính trị, kinh
tế, xã hội , có hệ thống pháp luật và chính sách đầu tư nước ngoài cởi mở, hấp dẫn có kết cấu
hạ tầng được chuẩn bị tương đối tốt, có đội ngũ lao động được đào tạo phù hợp, có nền hành
chính hữu hiệu, thực hiện đúng cam kết quốc tế, đảm bảo uy tín đối với nhà đầu tư… Kinh
nghiệm cho thấy khi các dự án đầu tiên đã triển khai thuận lợi, đạt hiệu quả cao thì có tác
10
dụng rất lớn trong việc khuyến khích và lôi kéo các nhà đầu tư tiềm năng khác, thậm chí còn
tạo ra sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư. Mặt khác khi đã thu hút được FDI, việc sử dụng nó
để kết hợp với đầu tư trong nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy phát triển hợp lý, bền
vững cũng là vấn đề then chốt đối với nước tiếp nhận đầu tư.
- FDI với tư cách là một dòng vốn quốc tế: trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế
giới, đi kèm các luồng hàng hóa, dịch vụ qua biên giới giữa các quốc gia, châu lục là những
dòng tiền quốc tế, FDI là một trong những dòng tiền quốc tế, gắn bó với nó là hoạt động đầu
tư để sản xuất, kinh doanh lâu dài tại nước tiếp nhận đầu tư, tức là nó thuộc vào dòng chu
chuyển vốn, có thời hạn tương đối dài.
Dòng vốn này gắn với quá trình tự do hóa đầu tư, phân biệt với dòng tiền quốc tế ngắn
hạn thường gắn với quá trình tự do hóa thương mại hoặc kinh doanh, đầu cơ tiền tệ ngoại hối
và cũng có tính chất khác biệt so với hoạt động đầu tư gián tiếp ( mua, bán trứng khoán) hoặc
các giao dịch vay nợ giữa các quốc gia, các doanh nghiệp trên thế giới, thường gắn với quá
trình tự do hóa tài chính. Do đi tiền với công trình dự án đầu tư tại một địa điểm cụ thể. FDI
có tính ổn định tương đối cao, dễ theo dõi, dễ kiểm soát, không biến động quá bất thường
như các dòng tiền ngắn hạn hoặc các khoảng đầu tư gian tiếp. Quá trình phát triển, mở rộng
cả về quy mô và không gian hoạt động của dòng vốn FDI góp phần thúc đẩy quá trình tự do
hóa đầu tư, thông qua đó thúc đẩy hợp tác và phân công lao động quốc tế, làm cho kinh tế
các nước liên kết với nhau chặt chẽ hơn, tùy thuộc vào nhau nhiều hơn và góp phần thúc đẩy
toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới.
1.1.2.4) Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
So với những hình thức đầu tư nước ngoài khác đầu tư trực tiếp nước ngoài có có
những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất: FDI không để lại gánh nặng nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư như
hỗ trợ phát triển chính thức như (ODA) hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác như cho
vay thương mại, phát hành trái phiếu ra nước ngoài…Bởi vì, chính các nhà đầu tư nước
ngoài tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, làm ăn lâu
dài ở các nước sở tại, hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư. Nước tiếp nhận FDI ít
phải chịu những rằng buộc của người cung ứng vốn như tiếp nhận ODA, kể cả kèm theo
11
những điều kiện về chính trị, có ảnh hưởng đến công việc nội bộ, chủ quyền của đất nước đi
vay.
Thực hiện liên doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong
nước có thể giảm được rui ro về tài chính, trong tình uống xấu nhất khi gặp rủi ro thì các đối
tác nước ngoài cũng là người cùng chia sẻ với công ty của nước sở tại.
Thứ hai: do đặc điểm và bản chất của FDI, nhà đầu tư không rễ ràng rút vốn ra khỏi
nước sở tại như đầu tư gián tiếp Đối với FDI, nhà đầu tư thường tính chuyện làm ăn lâu
dài, không mang tính đầu cơ như đầu tư gián tiếp. Trong trường hợp không muốn làm ăn
tiếp, nhà đầu tư cũng không thể rút vốn dễ dàng nhanh chóng như đầu tư gián tiếp, vì vốn
đầu tư của họ nằm trực tiếp trong nhà xưởng, thiết bị trên đất nước tiếp nhận đầu tư, phải
chuyển đổi bằng cách bán lại hoặc thanh lý nhà máy mới thu hồi vốn và chuyển về nước
được.
Thứ ba, FDI không chỉ đơn thuần là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật
phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm tiên tiến, cho phép tạo ra
những sản phẩm mới, mở ra thị trường mới… cho nước tiếp nhận đầu tư. Đây là điểm hấp
dẫn quan trọng của FDI, bởi vì hầu hết các nước đang phát triển trình độ phát triển có trình
độ và khoa học công nghệ thấp, trong khi phần lớn những kỹ thuật mới được phát minh trên
thế giới xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệp phát triển, do đó để rút ngắn khoảng cách
và đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển, các nước này rất cần nhanh chóng tiếp cận với
kỹ thuật mới. Tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mình, mỗi nước có cách đi riêng để nâng cao
trình độ công nghệ của mình thông qua FDI là cách tiếp nhận nhanh, trực tiếp và thuận lợi.
Thực tế cho thấy FDI là một kênh quan trọng đối với việc chuyển giao công nghệ cho các
nước đang phát triển, điều này có ý nghĩa rất lớn đối với nước cần thiếu vốn vừa có trình độ
phát triển thấp công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý kém, đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo
đầy đủ.
Tuy nhiên không chỉ có các nước đang phát triển và chậm phát triển quan tâm đến
yếu tố chuyển giao công nghệ của FDI mà cả các nước công nghiệp phát triển cũng đang tim
cách tận dụng ưu điểm này của FDI nhằm hợp lý hóa sản xuất, tận dụng lợi thế so sánh để
nâng cao sức cạnh tranh, năng suất và hiệu quả tổng thể của nền kinh tế.
Thứ tư, thông qua tiếp nhận FDI, nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện thuận lợi để gắn
kết nền kinh tế trong nước với hệ thống sản xuất, phân phối trao đổi quốc tế thúc đẩy quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế của các nước này. Chủ thể chủ yếu của hoạt động FDI trên thế
12
giới hiện nay là các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia với mạng lưới chân rết toàn cầu; thông
qua tiếp nhận đầu tư, của các công ty tập đoàn này, nước sở tại có điều kiện để thâm nhập thị
trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, làm quen với tập quán, thương mại quốc tế,
thích nghi nhanh hơn với những thay đổi trên thị trường thế giới…Đó là vai trò làm cầu nối
và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế rất quan trọng của FDI, một nhân tố đẩy nhanh
quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới.
Thứ năm, FDI có một lợi thế nữa so với ODA là nó có thể được sử dụng lâu dài, từ
khi một nền kinh tế còn mức phát triển thấp cho đến khi đạt được trình độ phát triển rất cao.
Vốn ODA thường được dành chủ yếu cho những nước kém phát triển ( có thu nhập bình
quân đầu người dưới một mức nhất định) sẽ giảm đi và chấm dứt khi nước tiếp nhận thoát ra
khỏi tình trạnh kém phát triển, trở thành nước công nghiệp, tức là bị giới hạn trong một thời
kỳ nhất định. FDI không phải chịu giới hạn này. Nó có thể được sử dụng rất lâu dài trong
suốt quá trình phát triển của mỗi nền kinh tế của nước tiếp nhận. Với những ưu thế quan
trọng như trên ngày càng có nhiều nước coi trọng FDI hoặc ưu tiên, khuyến khích tiếp nhận
FDI hơn các hình thức đầu tư nước ngoài khác trong chiến lược phát triển của mình.
1.2. Kinh nghiệm thu hút và sử dụng FDI của một số
nước
1.2.1 Kinh nghiệm thu hút vốn FDI của Trung Quốc
Nhận thức được vai trò to lớn của FDI trong quá trình phát triển của nền kinh tế nói
chung và nông nghiệp nói riêng, chính phủ Trung Quốc đã có nhiều chiến lược và chính sách
thu hút đầu tư FDI một cách có Hệ thống vào ngành nông nghiệp ngay từ khi mở cửa nền
kinh tế. Trọng tâm của chính sách này được thể hiện:
- Đối với dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành nông, lâm, ngư nghiệp,
chính phủ Trung Quốc thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư và các biện pháp khuyến
khích cho đầu tư vào các dự án đầu tư vào ngành này, đặc biệt là các chính sách ưu đãi về
thuế: ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ( các
mức thuế cũng được phân chia theo lĩnh vực đầu tư, vùng lãnh thổ đầu tư, công nghệ sử dụng
tỷ lệ lao động, tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm… mà áp dụng các mức thuế xuất, mức miễn giảm
thuế khác nhau). Chính sách này có tác dụng to lớn khi tác động to lớn đến lợi nhuận mong
muốn mà nhà đầu tư hi vọng nhận được, nó cũng khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào
những lĩnh vực mà chính phủ mong muốn phát triển nhưng chưa có điều kiện, ngành nông
13
nghiệp là ngành có nhiều sự ưu tiên khi mức miễn giảm thuế, đặc biệt đối với các vùng khó
khăn, còn được miễn thuế hoàn toàn. Các chính sách miễn giảm thuế cũng phụ thuộc vào độ
dài của dự án đầu tư, do đó mà làm tăng tính bền vững và hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
- Thực hiện nguyên tắc tự do hóa đầu tư. Với chính sách này, chính phủ Trung Quốc
tạo điều kiện cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực mà trước đây vẫn còn chưa mở cửa. Với chính
sách này, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ cảm thấy được “đối sử” công bằng so với các nhà đầu
tư trong nước, tạo môi trường tự do lành mạnh.
- Bên cạnh chính sách đấy, Trung Quốc vẫn áp dụng một số quy định cấm nhât định
nhằm bảo vệ an ninh Quốc gia và truyền thống văn hóa dân tộc, bảo hộ nền sản xuất trong
nước, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên…Mặc dù thực hiện chính sách đa dạng hóa các
loại hình đầu tư chủ đầu tư, song đối với dự án vào các lĩnh vực phát triển và sản xuất ngũ
cốc (bao gồm cả khoai tây, bông và cây lấy dầu, các loại thuốc gia truyền) của Trung quốc thì
có sự hạn chế của các hình thức đầu tư: chỉ cho phép đầu tư với hình thức doanh nghiệp liên
doanh và và hạn chế tỷ lệ sở hữu nước ngoài không được chiếm đa số. Chính sách này đảm
bảo cho các sản phẩm nông nghiệp chính, các sản phẩm đặc trưng dân tộc không bị phụ
thuộc vào nước ngoài
- Chính phủ Trung Quốc đặc biệt chú trọng đến các dự án bảo vệ môi trường, đặc biệt
không cấp phép cho những dự án đầu tư có tác động đến nguồn tài nguyên thiên nhiên và ảnh
hưởng đến môi trường sinh thái.
1.2.2 Kinh nghiệm thu hút vốn FDI của Thái Lan.
Là một nước có khá nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, ngành nông nghiệp vẫn là
chiếm vị trí quan trọng nhất đối với đất nước này kể về lao động hoạt động, đóng góp cho
GDP và thu nhập ngoại tệ từ xuất khẩu.
- Thái Lan đặc biệt áp dụng chính sách khuyến khích ưu đãi về thuế nhập khẩu đối với
chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp. Các dự án FDI trong nông
nghiệp được miễn giảm đến 50% thuế nhập khẩu đối với các loại máy móc, thiết bị để thực
hiện dự án mà được cơ quan quản lý đầu tư công nhận và thuộc loại thiết bị được khuyến
khích đầu tư. Riêng đối với các dự án đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt khó khăn và có sản
phẩm xuất khẩu, được miễn hoàn toàn thuế thu nhập doanh nghiệp trong vòn 5 năm.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét